Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiểu sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiểu sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015

Bài Giảng Thánh Gioan Vianney Số 1: Tiểu Sử Thánh Gioan Vianney

VÀI DÒNG TIỂU SỬ CỦA THÁNH GIOAN-MARIA VIANNEY
Lm. LG Đặng Quang Tiến

- 08/5/1786: Gioan-Maria Vianney sinh tại Dardilly, gần Lyon, nước Pháp. Ngài là con thứ tư trong sáu anh chị em. 
- 1806: ngài bày tỏ ý muốn làm linh mục. 
- 23/6/1815: chịu chức phó tế tại Lyon.
- 13/8/1815: chịu chức linh mục ở Grenoble do Đức cha Simon.
- 13/02/1818: Ngài đến xứ Ars như linh mục đặc trách. 
- 1821: được bổ nhiệm làm chánh xứ
- Khoảng năm 1830: bắt đầu đoàn lũ người hành hương và sám hối đến xứ Ars. Họ đến ngày mỗi đông cho đến khi ngài qua đời. Cha sở xứ Ars hầu như chẳng bao giờ rời giáo xứ của ngài, vì phải lo cho họ.
- 1843: ba lần ngài muốn trốn đi.
- 1858: người ta đếm khoảng 120.000 người hành hương mỗi năm đến xứ Ars. Cha Sở xứ Ars giải tội 17 giờ mỗi ngày trong toà giải tội.
- 04/8/1859: Ngài qua đời vì kiệt sức lúc 2 giờ sáng.
- 08/01/1905: ĐTC Piô X phong chân phước cho ngài, và ngài được đặt làm “Đấng bảo trợ cho các linh mục tại Pháp”.
- 31/5/1925: ĐTC Piô XI phong thánh cho ngài.
- 1929: ĐTC Piô XI đặt Ngài làm “Đấng bảo trợ cho các Cha Xứ trên toàn thế giới”. 

I. LỜI CỦA CHA SỞ HỌ ARS

Với những lời nầy thánh Gioan-Maria Vianney đã đánh động các tâm hồn và đưa họ về với Thiên Chúa.

1. Lòng Nhân Từ và bí tích Tha Tội

“Nếu chúng ta hiểu rõ làm con cái Thiên Chúa là gì, có thể chúng ta sẽ không làm điều xấu… Là con cái Thiên Chúa, ôi, phẩm giá đẹp chừng nào!”
“Lòng nhân từ của Thiên Chúa như một dòng suối tràn bờ. Nó kéo theo những tâm hồn trên dòng nó đi qua”..

“Không phải các tội nhân đến cùng Thiên Chúa để xin Ngài tha tội, nhưng chính Thiên Chúa chạy đến với tội nhân và làm cho họ đến với Ngài”.
“Thành thử hãy cho Thiên Chúa niềm vui nầy… và chúng ta sẽ hạnh phúc”.
“Thiên Chúa tốt lành luôn sẵn sàng đón nhận chúng ta. Ngài kiên nhẫn đợi chờ chúng ta!”
“Có những người nói: “Tôi đã làm quá nhiều điều xấu, Thiên Chúa tốt lành không thể tha thứ cho tôi”. Nói như thế là phạm thượng lắm. Nói thế là giới hạn lòng nhân từ của Thiên Chúa. Lòng nhân từ nầy không có điểm chấm, mà vô tận”.
“Lỗi lầm của chúng ta như hạt cát bên cạnh ngọn núi lớn lao của lòng nhân từ của Thiên Chúa”. 
“Khi linh mục ban ơn giải tội, chỉ phải nghĩ đến một điều: đó là máu của Thiên Chúa tốt lành chảy xuống trên tâm hồn chúng ta để rửa sạch tâm hồn, thanh tẩy tâm hồn và làm cho tâm hồn nên xinh đẹp như sau khi rửa tội.”
“Lúc ban ơn xá tội Thiên Chúa tốt lành ném tội lỗi chúng ta đằng sau lưng Ngài, nghĩa là Ngài quên chúng, Ngài làm chúng ta ra hư không: chúng sẽ không xuất hiện lại bao giờ”.
“Ngài sẽ không bao giờ nói đến các tội lỗi đã được tha. Chúng bị xoá sạch rồi, chúng không còn hiện hữu nữa”.

2. Thánh Thể và Rước Lễ 

“Mọi công việc tốt lành cộng lại không bằng hiến tế của thánh lễ, vì chúng là công việc của con người, còn thánh lễ là công cuộc của Thiên Chúa.”
“Không có gì cao trọng hơn Thánh Lễ”.
“Chính Ngài yêu chúng ta rất nhiều! Tại sao chúng ta không yêu mến Ngài?
“Lương thực của tâm hồn chính là Mình và Máu của Con Một Thiên Chúa.”
“Hãy đến mà rước lễ. Hãy đến với Chúa Giêsu. Hãy đến sống với Ngài, để sống cho Ngài”.
“Thiên Chúa tốt lành muốn tự hiến cho chúng ta, trong bí tích tình yêu của Ngài. Ngài đã ban cho chúng ta một ước muốn bao la và lớn lao mà chỉ mình Ngài có thể thoả mãn”.
“Rước lễ làm cho tâm hồn như một hơi thổi vào lửa sắp lịm tắt, mà nơi đó vẫn còn nhiều than hồng”.

3. Cầu Nguyện

“Cầu nguyện không gì khác là kết hiệp với Thiên Chúa”.
“Cầu nguyện là một tình bạn … Là cuộc trò chuyện của một người con với cha nó”.
“Càng cầu nguyện, càng muốn cầu nguyện”.
“Bạn có một con tim nhỏ bé, nhưng cầu nguyện làm cho con tim lớn hơn và làm cho nó có thể yêu mến Thiên Chúa”.
“Không phải là những lời cầu nguyện dài và hay mà Thiên Chúa nhìn đến, nhưng là những lời cầu nguyện làm nên tự đáy lòng, với tất cả lòng tôn kính và ước ao thật sự làm đẹp lòng Thiên Chúa”. 
“Việc cầu nguyện riêng giống như rơm rải rác đây đó trong cánh đồng. Nếu người ta mang chúng vào lửa, ngọn lửa cháy lên đôi chút, nhưng nếu người ta thu góp rơm rạ nầy lại, ngọn lửa sẽ bùng cao lên trời. Lời cầu nguyện chung giống như thế”. 
“Con người có một chức năng rất đẹp, đó là cầu nguyện và yêu mến… Đó là hạnh phúc của con người trên trần gian”.
“Nào linh hồn tôi ơi, bạn đến nói chuyện với Thiên Chúa, làm việc với Ngài, đi đứng với Ngài, chiến đấu và đau khổ với Ngài. Bạn sẽ làm việc, nhưng Ngài sẽ chúc lành cho bạn. Bạn sẽ đi đứng, nhưng Ngài sẽ chúc lành cho bước chân của bạn. Bạn sẽ đau khổ, nhưng Ngài sẽ chúc lành cho nước mắt của bạn.

4. Linh mục

“Linh mục là người tiếp tục công cuộc Cứu Chuộc trên trần gian”.
“Khi bạn thấy một linh mục, bạn hãy nghĩ đến Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.
“Linh mục không phải là linh mục cho mình, mà cho các bạn”.
“Đến xưng tội với Đức Trinh Nữ hay với một thiên thần. Các ngài sẽ giải tội cho bạn? Các ngài sẽ trao ban cho bạn Mình Máu Thánh Chúa chúng ta? Không đâu, Đức Trinh Nữ không thể làm Con của Mẹ xuống ngự trong Bánh Thánh. Dù bạn có hai trăm thiên thần ở đó đi nữa các ngài cũng không thể tha tội cho bạn. Một linh mục, dù đơn sơ đến mấy đi nữa, ngài có thể làm chuyện ấy. Ngài có thể nói với bạn: “Hãy đi bình an, cha tha tội cho con”.
“Ôi, linh mục là điều gì thật cao trọng!”.
“Một mục tử tốt lành, một mục tử theo lòng Thiên Chúa mong ước, là một kho tàng lớn mà Thiên Chúa tốt lành có thể ban cho một giáo xứ, và là một trong những ân huệ quý giá nhất của lòng nhân hậu thiên linh”.
“Linh mục, đó là tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu”.
“Hãy để một giáo xứ hai mươi năm không có linh mục: bây giờ người ta sẽ thờ thú vật”. 

5. Đức Trinh Nữ Maria

“Đức Thánh Nữ Đồng Trinh là thụ tạo xinh đẹp đã không bao giờ làm phiền lòng Thiên Chúa tốt lành”.
“Chúa Cha thích nhìn tâm hồn của Rất Thánh Nữ Đồng Trinh Maria như tuyệt tác bởi tay Ngài”.
“Chúa Giêsu Kitô, sau khi đã ban cho chúng ta tất cả những gì Ngài có thể ban cho chúng ta, còn muốn làm cho chúng ta thừa hưởng điều Ngài có quý giá nhất, đó là Mẹ Thánh của Ngài”.
“Thánh Nữ Đồng Trinh Maria đã sinh chúng ta ra hai lần, trong việc Nhập Thể và dưới chân Thánh Giá: thành thử Ngài là Mẹ của chúng ta hai lần”.
“Không ai vào nhà mà không nói với người giữ cửa! Và nầy! Thánh Nữ Đồng Trinh là người giữ cửa Nước Trời”. 
“Ave Maria là lời kinh không bao giờ làm nhàm chán cả”.
“Tất cả những gì Chúa Con xin cùng Chúa Cha để được nhận lời. Tất cả những gì Mẹ xin cùng Chúa Con cũng được nhận lời như vậy”.
“Phương thế chắc chắn nhất để biết ý muốn của Thiên Chúa là cầu nguyện với Mẹ tốt lành của chúng ta”. 

II. NHỮNG CÂU CHUYỆN CỦA CHA SỞ HỌ ARS

(Trích dịch từ Teresio Bosco, Messe di Maggio, consacrato alla Madona Regina dei Santi, Elledici, 2004, Torino, 1770-189.)

1. Không Đủ Điểm Chịu Chức Linh Mục?

Năm 1815. Chỉ còn ba tháng nữa là chịu chức linh mục. Thầy Vianney phải qua một kỳ thi rất quan trọng. La tinh! Một ngôn ngữ “tra tấn” ngài. Ngài cố gắng hiểu nhưng chẳng nhớ gì cả. Chỉ muốn khóc mà thôi.
Một ngày sau cha giám đốc chúng viện gọi ngài lên và hỏi: 
“Thầy Vianney, tôi nghĩ là thầy hiểu hoàn cảnh của thầy rồi. Không thể chịu chức linh mục mà không phải qua kỳ thi. Chỉ có cách cầu cứu giám mục mà thôi!”.
Tại toà giám mục, cha giám đốc nói cách rõ ràng:
“Thưa Đức cha, nếu Đức cha muốn có những người giỏi tiếng latinh và hy lạp tại xứ nầy, thì phải cho thầy Vianney về mà thôi. Nhưng nếu Đức cha muốn có các linh mục nói về Thiên Chúa cách đơn sơ, các linh mục biết thế nào là sám hối và cầu nguyện, thì chúng ta sẽ giữ thầy Vianney lại”.
Đức Giám mục lắng nghe. Rồi ngài hỏi: “Thầy Vianney có lòng yêu mến Chúa không? Có tôn sùng Đức Mẹ không?” – “Thưa Đức Cha, về điều nầy thì không có gì phải nghi ngờ. Vianney là một mẫu gương yêu mến Thiên Chúa”.
Đức Giám mục suy nghĩ lời cha giám đốc, rồi nói: “Nầy cha, cuộc Cách Mạng (Pháp) và chiến tranh đã mang đến sự tàn phá cho nhiều vùng và nhiều tâm hồn. Tôi tin là để tái thiết lại Hội Thánh các linh mục tài giỏi không đủ, mà cả các thánh. Nếu Vianney là một mẫu gương yêu mến Chúa, thì tôi chấp nhận thầy giữa hàng linh mục, và ơn Chúa sẽ làm điều còn lại”. 
Ngày 13 tháng 8 năm 1815. Tại nhà nguyện Đấng Rất Thánh, ở Grenoble, Đức Giám mục Limon truyền chức linh mục cho thầy Gioan-Maria Vianney. 

2. “Thiên Chúa Tốt Lành, con là một linh mục dốt nát đáng thương” 

Tại làng Écully trời đầy sương. Một cỗ xe ngựa tiến tới. Mang theo một chiếc giường và ít đồ đạc khác. Đi trước cỗ xe là một linh mục mảnh khảnh và trắng dẻ, ngập ngừng dừng lại nhiều nơi. Thấy trên một bãi cỏ vài đứa trẻ đang chăn một đàn bò. Ngài gọi một đứa trong đám:
- Em làm ơn cho biết đường về xứ Ars ở đâu?
- Cha cứ đi thẳng, cho đến khi thấy một đường lớn hơn, rẽ bên trái. Chỉ vài phút sau là vào làng.
- Cám ơn em. Em tên gì?
- Antoine Givre.
- Cám ơn Antoine. Con chỉ cho cha đường về xứ Ars, và cha sẽ chỉ cho con đường lên Thiên Đàng. 
Antoine Givre nhìn cha Vianney cách kinh ngạc. Đã lâu lắm rồi không thấy một linh mục ở vùng nầy. Cha Vianney quỳ xuống, hôn mảnh đất của giáo xứ và cầu nguyện: 
- “Lạy Thiên Chúa tốt lành, con là một linh mục dốt nát đáng thương, Chúa biết điều nầy. Dân chúng ở đây không chờ đón con, mà Chúa. Họ cần Chúa. Xin hướng dẫn lời con nói, việc con làm, để các linh hồn nầy được cứu độ.” 

3. Bữa trưa bữa tối: một nồi khoai tây

Trong Phúc Âm, cha Vianney suy ngắm mọi ngày điều mà người ta hỏi Chúa Giêsu làm thế nào để xua trừ ma quỉ ô uế. Chúa Giêsu trả lời: “Bằng cầu nguyện và chay tịnh”. Cha sở họ Ars nắm giữ từng chữ từng lời. 
Cầu nguyện kiên trì là một thói quen của ngài. Ngài cũng bắt đầu ăn chay một cách đáng sợ. Ngài nấu một số khoai tây trong một cái nồi. Đây là lương thực duy nhất cho suốt tuần. Ngài treo nồi khoai trên bếp, và khi nào cơn đói hành hạ ngài, ngài lấy một hoặc hai củ khoai. Sang củ thứ ba, thì ngài tự nói là tham ăn đấy! Và ngài ăn như vậy, lạnh lẽo và không có chút gia vị. 
Sau một ngày làm việc và với lương thực như thế, vào buổi tối, ngài nằm trên sàn nhà, và lấy một thanh gỗ làm gối đầu. Ngài cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa của con, xin hãy hoán cải giáo xứ của con.” 

4. Gương Giảng Dạy 

Mỗi ngày thứ Bảy, ngồi trước mặt Thánh giá, ngài suy gẫm và viết bài giảng cho ngày hôm sau. Ngài viết, rồi xoá, viết lại bằng cách hỏi Chúa Giêsu Chịu Đóng Đinh chi tiết từng lời để có thể đánh động tâm hồn dân chúng. Rồi, ngài lập lại điều đã viết nhiều lần, và tìm cách học thuộc lòng. 
Vào ngày Chúa nhật, dân chúng thấy mặt ngài sáng láng, giọng ngài nóng lên như lửa thiêu, và đánh động các tâm hồn. 
Bảy năm như thế. Ngài tốt lành với mọi người. Ngài sám hối và cầu nguyện. Thù ghét bắt đầu biến tan. Người say rượu chừa bỏ. Các sàn nhảy lần lượt đóng cửa. 

5. Tử Đạo Vì Người Tội Lỗi 

Tiếng thơm thánh thiện của cha sở họ Ars dần dần loan ra các vùng phụ cận và rồi cả nước Pháp. Từng đoàn lũ dân chúng kéo về xứ Ars và chờ đến phiên xưng tội với ngài. 
Trong những năm cuối đời ngài, ngài để ra 17 giờ mỗi ngày để giải tội. Mỗi năm người ta đếm chừng 120.000 khách hành hương đến xứ Ars, mà đa số đều muốn đến quỳ gối nơi toà giải tội của ngài, “Đời ngài bị tiêu tán bởi tội lỗi cả nước Pháp” (một tác giả viết về ngài). 
Năm 1859 cha Vianney sang một bước ngoặt. Ngày tháng của ngài tiêu hủy cho Thiên Chúa và anh chị em của ngài đã đến lúc hoàng hôn. Ngày 29 tháng 7 ngài về nhà xứ giữa đêm khuya sau một ngày dài ở toà giải tội như thường lệ. Ngài kiệt sức. Lấy tay chống vào tường, lần đến cầu thang. Bước lên bậc đầu tiên ngài thì thầm: “Lạy Thiên Chúa của con!”, và ngã sụp xuống. Vài người ở gần đó la lên:
- Cha sở ngã bệnh. Hãy kêu bác sĩ!
Cha Vianney mở mắt và nói thì thào:
- Không, hãy kêu linh mục. 
Ngài xưng tội với tất cả lòng khiêm tốn với một linh mục trẻ. Sau khi lãnh nhận ơn giải tội xong, ngài tìm cách mỉm cười và nói với linh mục trẻ nầy:
- Chết thật là đẹp khi đã sống xong thánh giá của mình. 

III. HÀNH HƯƠNG ĐẾN XỨ ARS 

Năm nay kỷ niệm 150 năm ngày thánh Gioan-Maria Vianney qua đời (1859-2009). Sẽ có một buổi tĩnh tâm cho linh mục toàn thế giới tại Ars do Đức Hồng Y Christoph Schönborn (Tổng Giám mục Vienna, nước Áo) giảng. Chủ đề: “La joie d’être prêtre consacré pour le salut du monde”, từ ngày 27/9 đến 03/10/2009. 
Nhà thờ cũ (màu gạch đỏ) nơi ngài làm cha sở 1818-1959 (41 năm) vẫn còn giữ nguyên vẹn. Bên cạnh nhà thờ cũ nầy là ngôi thánh đường mới được xây 3 năm sau khi ngài qua đời. Hai nhà thờ nầy dễ phân biệt bởi kiểu kiến trúc khác nhau. 
Nhà thờ cũ được dâng hiến cho Đức Mẹ không mang tội. 
Vẫn còn đó toà giảng nơi thánh Vianey thường giảng dạy. 
Rồi toà xưng tội nổi tiếng vẫn nằm đó trong phòng thánh nhà thờ cũ, nơi thánh Vianey giải tội 17 giờ/1 ngày. Ngài được gọi là “người tù” của toà giải tội. 
Bảng thời khoá biểu một ngày sống của thánh Vianney: Từ 2 giờ sáng ngài đã giải tội rồi… 
Nhà cha sở nơi thánh Gioan-Maria Vianey đã sống suốt 41 năm vẫn còn giữ nguyên vẹn từ khi thánh Gioan-Maria Vianey qua đời: phòng ngủ của ngài và những đồ đạc cá nhân đơn sơ của ngài. 
Nhà bếp rất nghèo nàn: chén bát, soong chảo; đặc biệt có một toà giải tội bên góc tường nhà bếp. Thánh Vianney không có toà giải tội, nên đã lấy tủ đựng áo quần của ngài, khoét lỗ hai bên để làm toà giải tội. Dù đã giải tội 17 giờ/1 ngày vẫn chưa đủ. Người ta vẫn kéo đến xưng tội cả khi ngài đang dùng cơm. 

IV. SỨ ĐIỆP ĐỂ LẠI CHO CÁC LINH MỤC MỌI THỜI 

- Con người cầu nguyện: Lâu giờ bên nhà tạm, thâm tình thật sự với Thiên Chúa, phó thác hoàn toàn cho thánh ý Thiên Chúa. Yêu mến Thiên Chúa vô cùng: “Je vous aime, ô mon Dieu…”.
- Trung tâm đời ngài là thánh thể. “Il est là”, thánh Vianey thường kêu lên như thế khi nhìn vào nhà tạm. Ngài là con người của thánh thể, dâng lễ và thờ lạy; “Không có gì cao trọng hơn Thánh Thể” (Il n’y a plus rien de plus grand que l’Eucharistie”). Cho con người Thiên Chúa và cho Thiên Chúa con người.
- Tóm tắt 41 năm cha thánh vianey ở xứ Ars: Ám ảnh bởi muốn con người được cứu độ, nhất là những người đến với ngài hay ngài chịu trách nhiệm. Ngài ước ao mỗi người nếm được niềm vui nhận biết Thiên Chúa, yêu mến Ngài và biết Ngài yêu mến chúng ta…
- Tử đạo nơi toà giải tội. Từ năm 1830 hàng ngàn người đến xứ Ars để xưng tội. Năm 1859 người ta đếm hơn 120.000 người.
- Ngài chú tâm đến mọi chiều kích của con người. Ngài không ngừng giúp đỡ, làm dịu đau khổ, giúp cho người khác được hạnh phúc: viện mồ côi, trường học, lo cho người nghèo…
- Một tiếng mời gọi nên thánh cho toàn thế giới: “Je te montrerai le chemin du Ciel” (Cha sẽ chỉ cho con đường về Trời). Đó là lời ngài đáp lại trẻ chăn chiên đã chỉ cho ngài đường về xứ Ars. Ngài mời gọi mỗi người hãy để cho Thiên Chúa thánh hoá.

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2015

Tìm hiểu về Đức Cha Phêrô Ngô Đình Thục

Đức Cha Phêrô Ngô Đình Thục
Tiểu sử Đức Cha Phêrô Mactinô NGÔ ĐÌNH THỤC GIÁM MỤC TIÊN KHỞI GIÁO PHẬN VĨNH LONG

Đức Cha chào đời vào ngày 06-10-1897 tại Phủ Cam, Huế trong một gia đình vọng tộc. Ngài là người thứ ba trong số 9 người con của cụ Micae Ngô Đình Khả, một đại thần dưới triều Thành Thái và Duy Tân, nguyên quán làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Thiếu thời, cậu Ngô Đình Thục theo học tại trường Pellerin, một tư thục do Sư Huynh La San điều khiển, từ năm 1904, năm thành lập trường, đến năm 1908.

Tháng 09-1909, vào Tiểu Chủng Viện An Ninh, Quảng Trị.

Đến tháng 09-1917, vào Đại Chủng Viện Phú Xuân thuộc Giáo phận Huế.

Tháng 11-1919, Giám mục Eugène Allys (Lý, 1852-1936) gửi du học trường Truyến giáo Roma. Thời gian này, vào tháng 12-1922 Thượng thư Phêrô Nguyễn Hữu Bài (1863-1935) nhân tháp tùng vua Khải Định sang Pháp đã đến Roma. Thầy Ngô Đình Thục được tháo tùng cụ Nguyễn Hữu Bài vào yết kiến Đức Giáo Hoàng Piô XI (Báo Nam Kỳ Địa Phận số 719, ngày 21-12-1922).

Trong quá trình du học Roma, lần lượt Thầy Ngô Đình Thục đỗ các bằng cấp : Tiến sĩ Triết học năm 1922, Tiến sĩ Thần học năm 1926.

Ngày 20-12-1925, tại Roma, Đức Hồng Y Van Rossum phong chức linh mục cho Thầy Ngô Đình Thục. Sau đó, linh mục Ngô Đình Thục tiếp tục học thêm một năm ở Đại học Appolinaire lấy bằng Tiến sĩ Giáo luật, năm 1927.

Linh mục Ngô Đình Thục qua Pháp học tại Institut Catholique de Paris từ tháng 10-1927 đến tháng 06-1929 và đỗ Cử nhân Văn chương.

Về Việt Nam năm 1929, linh mục Ngô Đình Thục làm giáo sư dòng Thánh Tâm ở Phường Đúc (Trường An) Huế, từ tháng 11-1929. Đến tháng 9-1931, Giám mục Alexandre Chabanon (Giáo, 1873-1936) bổ nhiệm giáo sư Đại Chủng Viện Phú Xuân, Huế.

Tháng 10-1933, làm Giám đốc trường Thiên Hựu (Providence), một tư thục Công giáo tại Huế.

Năm 1935, làm Chủ nhiệm báo Sacerdos Indosinensis.

Ngày 08-01-1938 Toà thánh Vatican thành lập giáo phận mới : Vĩnh Long, bao gồm tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre và 2 quận thuộc tỉnh Cần Thơ : Cầu Kè và Trà Ôn. Toà Thánh bổ nhiệm linh mục Phêrô Mactinô Ngô Đình Thục làm Giám mục Hiệu toà Sæsina lãnh đạo tân giáo phận.

Ngày 04-05-1938, tại nhà thờ Chính toà Phủ Cam Huế, Khâm sứ Tông toà Antonin Drapier chủ lễ tấn phong tân Giám mục Ngô Đình Thục. Đây là vị Giám mục người Việt Nam thứ ba.

Ngày 23-06-1938 Đức cha Ngô Đình Thục chính thức nhận giáo phận với khẩu hiệu "Chiến sĩ Chúa Kitô". Đây là vị Giám mục tiên khởi của tân giáo phận Vĩnh Long.

Từ 23-06-1938 đến 24-11-1960 suốt nhiệm kỳ 23 năm, Đức Cha Ngô Đình Thục có những hoạt động xây dựng giáo phận Vĩnh Long.

Về mặt Đạo

Mua một toà tư gia để làm trụ sở Toà Giám mục.

Lập Tiểi Chủng Viện Á Thánh Minh năm 1944 gồm 3 lớp, khai giảng ngày 15-08-1944 ban đầu có 15 chủng sinh.

Số linh mục tăng đến 80 vị (1938 : 50 vị).Gửi linh mục du học.

Dòng Thầy giảng Cái Nhum được sửa đổi và mang tên mới : Dòng Sư Huynh Kitô Vua, Thầy Bề trên được Toà Thánh cho phép chịu chức linh mục.

Cải tiến Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn và Cái Nhum, các nữ tu được gửi đi học các trường trung học và đại học.

Tổ chức khoá huấn luyện thanh niên, hoạt động Công giáo Tiến hành...

Về Văn hoá và Xã hội.

Xây dựng 6 trường tư thục Trung học, thâu nhận học sinh Công giáo và không Công giáo.

Xây cất dưỡng đường Á Thánh Minh ở Vĩnh Long và dưỡng đường thánh Phêrô ở Sài Gòn.

Xây nhà Xã hội tại thị xã Vĩnh Long làm nhà đọc sách, diễn thuyết, sinh hoạt.

Trùng tu nhiều cô nhi viện của giáo phận.


TỔNG GIÁM MỤC TỔNG GIÁO PHẬN HUẾ

Năm 1960 Giáo Hội Công giáo Việt Nam qua một bước ngoặc mới : Toà thánh lập hàng giáo phẩm Chính toà với 3 Tổng giáo phận : Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Giám mục Ngô Đình Thục được thăng Tổng Giám mục Tổng giáo phận Huế.

Đức cha Antôn Nguyễn Văn Thiện được cử làm Giám mục giáo phận Vĩnh Long thay thế Đức cha Ngô Đình Thục.

Ngày 12-04-1961 Tổng Giám mục Ngô Đình Thục chính thức nhận giáo phận Huế, là vị Giám mục Việt Nam đầu tiên lãnh đạo giáo phận.

Trong một thời gian ngắn ngủi từ năm 1962-1963 Đức cha Ngô Đình Thục đã thực hiện cho giáo phận nhiều công trình :

- Trùng tu Toà Giám mục và cơ sở Nhà Chung.

- Sửa sang thêm Đại Chủng Viện Phú Xuân Huế, mời các linh mục giáo sư Hội Xuân Bích (Saint Sulpice) giảng dạy. Thành lập Liên chủng viện cho toàn Tổng giáo phận.

- Thành lập chủng viện mới : Tiểu Chủng Viện HOAN-THIỆN (tên hai vị thánh Tử Đạo Đoạn Trinh Hoan và Trần Văn Thiện).

- Năm 1962, thống nhất các dòng Mến Thánh gía trong giáo phận, gồm các nhà dòng ở Di Loan (dời vào La Vang), Tam Toà (dời vào Kim Long), Kẻ Bàng (sát nhập vào Phủ Cam), Phủ Cam, Dương Sơn, Trí Bưu. Sáu nhà nhập lại thống nhất thành DÒNG MẾN THÁNH GIÁ THỪA SAI HUẾ, nay là Dòng Mến Thánh Giá Huế.

- Trùng tu và tân tạo khu La Vang trở thành trung tâm hành hương của giáo dân Việt Nam. Xin Toà thánh nâng thánh đường La Vang lên bậc "Vương cung thánh đường".

La Vang sẽ trở thành trung tâm hành hương cầu nguyện sùng kính Đức Mẹ, trung tâm tĩnh tâm "cấm phòng", hội Minh niên cho giáo dân.

Để cổ vũ lòng sùng kính Đức Mẹ La Vang, giáo phận có tờ Nguyệt san "Đức Mẹ La Vang" do LM. Trần Văn Tường làm Chủ nhiệm, LM. Nguyễn Văn Trinh làm chủ bút và Thư ký toà soạn là LM. Nguyễn Kim Bình, Tổng Quản lý là ông Phạm Quang Lộc.

Số 1 Nguyệt san "Đức Mẹ La Vang" ra đời vào tháng 08-1961. Từ đó đã thu hút đông đảo người đọc và người viết cộng tác.

- Giáo phận Huế còn có Nguyệ san "Nguồn sống" do LM. Trần Hữu Tôn Chủ nhiệm, LM. Nguyễn Văn Trinh Chủ bút và GS. Võ Long Tê Tổng thư ký Toà soạn.

- Một công trình lớn, là công trình cuối cùng của Đức Cha Ngô Đình Thục ở giáo phận HUế là tân tạo nhà thờ Chánh toà Phủ Cam.

Nhà thờ cổ kính được xây cất từ 1898 đã xuống cấp trầm trọng, Đức cha cho triệt hạ để xây một thánh đường mới tân kỳ, đồ sộ theo đề án thiết kế của Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ.

Tiếc thay, vì đến cuối năm 1963 Đức cha phải sống lưu vong ở hải ngoại, ngôi thánh đường đang dở dang trong giai đoạn hoàn chỉnh, hiện trạng như ngày nay.

Cơn khủng hoảng tinh thần của TGM Ngô Đình Thục

Tháng 08-1963 chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam vĩ tuyến 17 đi sâu vào cơn dông tố khủng hoảng có nguy cơ sụp đổ TGM Ngô Đình Thục cũng là một mục tiêu mà lực lượng chống chế độ họ Ngô nhắm vào. Vì vậy Khâm sứ Tòa thánh tại Sài Gòn bấy giờ là Đức cha Salvator Asta, người mà TGM Ngô Đình Thục đóng vai phụ phong Giám mục tại Roma vào năm 1962, đã thúc đẩy TGM Ngô Đình Thục nhanh chóng rời khỏi Việt Nam sang dự Công Đồng Vatican II. Đây là kế "dĩ đào vi thượng", có lẽ theo suy nghĩ và hiểu biết tình thế của Khâm sứ Tòa thánh Asta lúc bấy giờ.

Thời gian dự Công Đồng rồi lưu vong ở Âu Châu, TGM Ngô Đình Thục nhận được những tin ''sét đánh'' : chính quyền Sài Gòn bị lật đổ, hai người em ruột là ông Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu bị giết chết, rồi sau đó một người em nữa là ông Ngô Đình Cẩn bị phe đảo chính xử tử. Bà thân mẫu tạ thế. Cả đại gia đình họ Ngô bị tan nát trong bi thảm.

Lúc mà anh em "sống chết có nhau" thì Đức cha phải lìa xa gia đình, quê hương đơn độc nơi xứ ngườì... đương nhiên tạo nên sự suy sụp tinh thần khủng khiếp cho TGM Ngô Đình Thục. Cộng thêm những biến cố canh tân Giáo hội tày trời của Công Đồng Vatican II mà TGM Ngô Đình Thục không chấp nhận.

Nghe nói rằng khi Tổng thống Kennedy của Hoa Kỳ bị ám sát, sau l tháng khi ông Ngô Đình Diệm bị giết, thì Công Đồng làm lễ cầu hồn "cho một vị nguyên thủ quốc gia, người có đạo Công giáo". Nhưng khi ông Ngô Đình Diệm bị giết thì Công Đồng không làm lễ cầu hồn. Cả hai ông, đều là Tổng thống, đều là vị nguyên thủ quốc gia, đều là tín đồ Công giáo.

Tất cả đó đã kết đọng lại nơi con người đã từng xuất sắc đoạt "tam giải khôi nguyên Tiến sĩ" Ngô Đình Thục, con người mới ngày nào đã nhìn thấy tột đỉnh danh vọng cả đạo lẫn đời cho gia đình Ngài, nay bỗng nhiên bị hụt hẫng đen tối, đã đưa TGM tới con đường chống lại Tòa thánh Roma.

Ly khai Giáo hội La Mã :

Những cải tổ Giáo hội theo Công Đồng Vatican II đã đưa đến sự chống đối của những người cùng chung một não trạng, quan điểm. Đó là một số Giám mục mà người ta thường gọi là phái "bảo thủ", ví dụ Giám mục Lefèvre thuộc dòng Phanxicô ở Rochester New York. Vị Giám mục này chống lại Giáo hội Công giáo từ thời Đức Phao lô VI, bị Tòa thánh lên án phạt ''vạ tuyệt thông", Lefèvre đã ly khai Giáo hội La Mã.

Đức cha Ngô Đình Thục đã theo Giám mục Lefèvre từ năm 1976, lập phong trào "Giáo hội La Mã Chính thống" (Orthodox Roman catholic movement, gọi tắt là ORCM) qui tụ Giám mục ly khai Lefèvre và các Giám mục được TGM Ngô Đình Thục phong chức bất hợp pháp như Louis Vezelis cũng ở Rochester, New York. TGM Ngô Đình Thục và nhóm người trong ORCM chống Tòa thánh Roma mãnh liệt đến độ Tòa thánh phải ra ''vạ tuyệt thông" lần này đến lần khác.

Giám mục ly khai Lefèvre, Louis Vezelis đưa TGM Ngô Đình Thục vào cư trú trong dòng Phanxicô ở Rochester, New York (Hoa Kỳ) để cô lập và dễ bề lợi dụng danh nghĩa TGM Ngô Đình Thục để tuyên truyền trên sách báo của nhóm chống lại Tòa thánh Roma.

Được giải thoát và được Toà thánh "giải vạ":

Nhóm ORCM của Giám mục Lefèvre cô lập Đức cha Ngô Đình Thục trong dòng Phanxicô Friars, Rochester, NY. Họ không cho Đức cha Thục liên lạc bên ngoài, chỉ lo ăn ở, áo quần mặc mà không cho tiền đi đâu cả.

Trong cô đơn, chắc chắn Đức cha nhớ bà con, bạn bè, anh em và đau khổ suy nghĩ... Và Đức cha đã được giải thoát.

Công cuộc giải thoát Đức cha Thục diễn tiến rất gay cấn mà tế nhị do sự khôn khéo của những nhân vật giúp đỡ Đức cha cả về vật chất lẫn tinh thần. Đó là linh mục Phêrô Trần Văn Điển, người giáo phận Huế hưu dưỡng tại dòng Đồng Công Việt Nam ở Hoa Kỳ; linh mục Barnabê Nguyễn Đức Thiệp Giám đốc dòng Đồng Công Việt Nam tại Carthage, Missouri (Hoa Kỳ); ông Trần Đình Thường chủ một khách sạn ở New York; ông Hoàng Ngọc Trợ ở Hoa Kỳ đã từng làm việc với Đức cha Thục ở Huế trước kia.

Trước Tết 1984 do tình cờ một linh mục Việt Nam ở New York khám phá biết được sự hiện diện của Đức cha Thục tại nhà dòng Phanxicô Friars, Rochester, NY. Tin này đến tai ông Trần Đình Trường ở New York và rồi đến tai linh mục Trần Văn Điển ở dòng Đồng Công Carthage, Missouri. Linh mục Trần Văn Điển viết thư cho ông Hoàng Ngọc Trợ ở Centralia bảo ông Hoàng Ngọc Trợ điện thoại xin gặp Đức cha Thục. Trong câu chuyện thăm hỏi, Đức cha Thục ngỏ ý muốn đi qua Cali thăm bà con mà không có tiền!

Nhân dịp Tết Giáp Tý, 1984, cha già Điển bay qua New York xin vào thăm Đức cha Thục đang trú ngụ trong dòng Phanxicô của Lefèvre. Cha Điển mời Đức cha Thục đi dự lễ Tổ Tiên đầu năm mới do đồng bào Việt Nam tổ chức tại Washington D.C. Chuyến xe cha già Điển, cha Nguyễn Đức Thiệp và ông Trần Đình Trường chở Đức cha Thục dừng lại ở New York để lấy nhiên liệu rồi tức tốc chạy đến Washington, lái vào Tòa Khâm sứ Tông tòa. Giám mục giả Vezelis cho một người đi theo làm cận vệ để giữ Đức cha Thục. Hai bên giằng co và đưa ra cảnh sát phân xử. Cảnh sát tuyên bố Đức cha Thục có toàn quyển chọn nơi cư trú. Thế là Đức cha Thục lớn tiếng chọn cộng đồng người Việt và Tòa thánh La Mã. Ý chí của cụ già 87 tuổi Ngô Đình Thục đã dứt khoát giải thoát được Ngài.

Cha Điển đưa Đức cha Thục đến gặp Khâm sứ Tòa thánh để làm giấy tờ hòa giải gửi về Roma. Sau đó ông Trần Đình Trường đưa Đức cha Thục đến tạm trú tại khách sạn của ông ở New York. Đến ngày 25-02-1984, TGM Ngô Đình Thục đáp máy bay về dòng Đồng Công Việt Nam ở Missouri Orléans. Cha Điển lo liệu đủ tiện nghi chỗ ăn, ở, làm việc, mua sắm áo mũ gậy Giám mục, có người của dòng giúp đỡ cần kề ngày đêm.

Thoát được vòng vây của nhóm ORCM, TGM Ngô Đình Thục xúc tiến việc xin Tòa thánh "giải vạ". Tháng 06-1984 Cha Giám đốc dòng Đồng Công Nguyễn Đức Thiệp đi Roma theo dõi giấy tờ ''giải vạ" cho TGM Ngô Đình Thục. Cuối cùng giấy tờ chính thức từ Roma cũng đến tay TGM Ngô Đình Thục. Người ta chuẩn bị máy ảnh để chụp cảnh TGM Ngô Đình Thục ký tên vào giấy tờ hòa giải với Tòa thánh. Nhờ vậy, xóa tan được luận điệu của nhóm ORCM bịa đặt rằng trên giấy tờ gửi Tòa thánh không mang chữ ký của TGM Ngô Đình Thục.

Với tư cách là một TGM của Tòa thánh đã được "giải vạ'', Đức cha Thục chủ tọa đại lễ ngày Thánh Mẫu ở Carthage vào tháng 08-1984. Lời TGM nói trước lễ và có lẽ cũng là những lời cuối cùng trong đời của TGM Ngô Đình Thục : ''Từ 20 năm, tôi chưa hề thấy người Việt đông như thế này. Nay Mẹ đưa tôi về đây gặp anh chị em lần sau hết. Xin phú thác anh chị em và cũng là đại diện cho dân Việt Nam trong Thánh Tâm Mẹ. Xin mọi người cầu nguyện cho tôi được chết lành".

Vĩnh biệt . . .

Đức Tổng Giám Mục Phêrô Mactinô Ngô Đình Thục, nguyên Tổng Giám Mục Huế, Việt Nam sau một thời gian tĩnh dưỡng tại Giáo Sĩ Dưỡng Đường thuộc Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ, Carthage, Missouri. Đến ngày 05 tháng 12 năm 1984, TGM Ngô Đình Thục trở bệnh. Đưa đến bệnh viện St John, Joplin, Ngài tắt thở vào lúc 11 giờ sáng, ngày 13-12-1984, tại Bệnh Viện St.John, Joplin, Missouri.

Lễ an táng Đức Tổng Giám Mục Phêrô Mactinô được cử hành hồi 11 giờ sáng, ngày 22-12-1984, tại Nhà Thờ Immaculate Conception, Springfield, Missouri, và Lễ Hạ Quan tại Nghĩa Trang Resurrection của Giáo Phận Springfield-Cape Girardeau, Missouri Orléans, Hoa Kỳ.

(WGP.Vĩnh Long)