Hiển thị các bài đăng có nhãn Lam Nguoi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lam Nguoi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2014

Nhặt được gần 100 triệu đồng, bé trai trả cho du khách. Còn chúng ta thì sao?

Nhặt được chiếc ví có gần 100 triệu đồng, cháu bé khoảng 10 tuổi đã mang đến công an gần nhà để trả lại người đánh rơi và từ chối cung cấp tên tuổi.
Chiều 29/8, Công an tỉnh Lâm Đồng đã tổ chức trao trả lại số tiền gần 100 triệu đồng cho anh Lê Xuân Quân (40 tuổi, ngụ tại quận Cầu Giấy, TP Hà Nội), một khách du lịch đang tham quan tại Đà Lạt.
Cơ quan công an trao lại tài sản bị mất cho anh Quân. Ảnh: Hoàng Trường.
Trước đó vào khoảng 20h30 ngày 28/8, thượng sĩ Hà Quốc Mạnh, chiến sĩ thuộc phòng Cảnh sát Bảo vệ và cơ động Công an tỉnh Lâm Đồng đang trực tại đơn vị thì một bé trai chừng 10 tuổi chạy đến đưa cho chiếc ví và nói: “Cháu nhặt được cái này ở bên đường, nhờ chú trả lại cho người nào đánh rơi”.
“Lúc này trời đang mưa, chưa kịp hỏi tên tuổi thì cháu bé bảo nhà cháu gần đây rồi chạy đi”, chiến sĩ Mạnh nói và cho biết khi anh kiểm tra bên trong chiếc bóp thì bất ngờ vì thấy số tiền rất lớn, bao gồm cả tiền nước ngoài cùng giấy tờ tùy thân mang tên Lê Xuân Quân. Số tiền được xác định là 93,5 triệu đồng. Lần theo số điện thoại để lại ở trong bóp, Phòng Cảnh sát Bảo vệ và cơ động đã mời anh Quân đến để trao trả lại tài sản nói trên.
Nhận lại tài sản, anh Quân vui mừng cho biết đang cùng gia đình vào Đà Lạt du lịch, do không biết đường nên đã dừng ôtô lại hỏi thăm và làm rớt chiếc bóp. “Nghe các anh công an kể lại người nhặt được chiếc ví của mình là cháu bé khoảng 10 tuổi, tôi rất khâm phục và biết ơn tấm lòng tốt bụng của bé trai Đà Lạt”, anh Quân nói.
Cơ quan chức năng TP Đà Lạt đang xác minh cháu bé để khen thưởng về hành động đẹp này.
Theo Hoàng Trường - Quốc Dũng

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

Tại sao bạn không hạnh phúc? Và cái tôi của bạn

“Cái Tôi” là thủ phạm chính của tình trạng không hạnh phúc của con người. Hãy tìm cách vượt qua “sức ép” tự nhiên này và làm chủ hạnh phúc của chính mình.

self.jpg  
Đó là một triết lý rất… triết lý, vừa thú vị vừa nhức buốt! Bài viết này mang tính triết lý sâu sắc liên quan tâm linh, xin mời bạn đọc và suy…


Văn thi sĩ Robert Louis Stephenson (1850-1894, người Scotland) đã viết: “Tôi có một bóng rợp nhỏ ở bên trong và bên ngoài tôi, điều có thể tận dụng nó không gì hơn là phải nhìn thấy nó. Nó rất giống tôi từ đầu tới chân, tôi thấy nó nhảy trước tôi khi tôi lên giường”. Ông nói về cái gì?
Dĩ nhiên là ông nói về “cái tôi” (the ego, the self). Đó là thủ phạm gây bất hạnh cho con người. Tuy nhiên, đa số người ta sống và chết với “quái vật nội tâm” này suốt cuộc đời. Họ không nhận ra nó nên không biết cách vượt qua nó. Nếu nhận biết và vượt qua nó, họ sẽ áp dụng những bước cần thiết để tiêu diệt nó.

“Cái tôi” là cái quái gì? Đó là chính con người của bạn, Martha Beck gọi là “cái tôi xã hội” – tức là chính con người của bạn mang tính xã hội. Đó là cái mà triết gia Immanuel Kant mô tả là “cái tôi nhỏ bé quý giá”. Đó là ảo ảnh của chính bạn, là sự tập hợp nghiệp dĩ về kinh nghiệm sống của bạn. Dĩ nhiên, nó không thực sự là bạn, bất kỳ cái gì khác cũng không là bạn, ngay cả hình ảnh bạn thấy mình trong gương cũng không là bạn. Đó chỉ là hình bóng của bạn, là “cái tôi” mà bạn chiếu tỏa ra thế giới. Vì thế, đó là cái mà người ta mô tả là “cái tôi giả vờ” của bạn (make-believe self), hoặc “mặt nạ xã hội” (social mask) của bạn.

“Cái tôi” được phân biệt bằng sự tự nhận mình là trung tâm, tự quan sát, và chỉ quan tâm tới mình. Nó có mục đích, Wayne Dyer mô tả đó là “loại bỏ Thiên Chúa”. Đó là tình trạng con người, một thực tế mà mọi người đều có điểm chung. Theo Kinh Thánh, cả Cựu ước và Tân ước, “cái tôi” được mô tả là “tội lỗi”. Đó là cái mà bạn có thể nghĩ là bạn nhưng thực sự lại không là bạn. Thay vì nó là “cái bóng” của bạn – theo cách nói của Stephenson, hoặc là “con chó” của bạn – theo cách nói của triết gia Nietzsche, nó lại đã từng được gọi như vậy.

Vì “cái tôi” là chính “quái vật bé nhỏ” này ở trong mỗi người và là nguyên nhân, không chỉ là bất hạnh cá nhân, mà còn thực sự là vấn đề của mối quan hệ và tệ nạn xã hội trong thời đại chúng ta. Có thể làm gì để chiến thắng nó? Đây là ba gợi ý:
1. Trước hết, hãy nhớ rằng tiếng vang ở trong đầu chúng ta là tiếng nói của “cái tôi”. Từ đó tôi đã viết một cuốn sách nói riêng về vấn đề này, đó là cuốn “The Enoch Factor: The Sacred Art of Knowing God” (Yếu Tố Enoch: Nghệ Thuật Thành Nhận Biết Thiên Chúa). Không cần đi sâu vào chi tiết ở đây.

Tuy nhiên, tôi sẽ nói nhiều về vấn đề này. Hãy chú ý tiếng nói trong đầu mình, và xét xem nó nói gì. Quan trọng nhất là đừng tin nhiều về tiếng nói đó. Hãy hỏi lại nó. Phần bạn đang tìm kiếm là vượt qua “cái tôi”, như vậy bạn sẽ gần với con người thật của mình.

2. Thứ nhì, hãy nhớ rằng đừng chống lại “cái tôi”. Nếu chống lại, chắc chắn bạn sẽ thua. Hằng ngàn năm lịch sử loài người đã qua, “cái tôi” trở nên khá lanh lẹ. Tốt nhất là nhận biết nó ở trong bạn. Trong những cuộc đối thoại, “cái tôi” cũng có “cái tôi” của nó, và nhiều lần nó cảm thấy bị chống lại. Hãy chú ý lúc nào “cái tôi” bắt đầu xét đoán người khác hoặc trong tình huống nào đó mà bạn phát hiện. Hãy nhớ rằng khi bạn thấy mình thn phiền, tranh luận, đấu tranh với người khác, muốn bảo vệ mình, cảm thấy bị lép vế, đó là lúc “cái tôi” nổi dậy. Thực sự đó không là chính bạn. Đừng mắc cở, đừng ngại! Hãy nhận biết “cái tôi” khi nó như con rắn trong câu chuyện ông bà nguyên tổ Adam và Eva, nó đã ngước cái đầu xấu hoắc lên rồi ngông nghênh nói chuyện với bạn… than phiền bạn… nói bạn xúc phạm về điều gì đó khiến nó bị tổn thương. Đừng chống lại “cái tôi”. Đừng tự phê phán hoặc tự kết án khi bạn bắt quả tang “cái tôi” quen thói kiêu căng và tự cho mình là “số dzách”. Cứ biết nó như thế thôi. Nhận biết nó để đủ sức giảm bớt quyền kiểm soát của “cái tôi” đối với bạn.

Cũng nên lưu ý rằng thi sĩ Stephenson đã viết: “Thấy anh nhảy nhót trước tôi / Khi tôi định nhảy tới nơi cái giường” (And I see him jump before me when I jump into my bed). Đó là dạng quan sát mà bạn phải có. Là người quan sát, bạn có thể tự luyện để nhận biết trò hề của “cái tôi bé nhỏ” bên trong con người của bạn. Nếu bạn làm cho điều này thành việc thực hành tâm linh, bạn sẽ đủ sức chiến thắng “cái tôi”.

3. Thứ ba, hãy biết rằng con đường tới hạnh phúc là con đường từ chối “cái tôi”. Ích kỷ là bản chất của “cái tôi”, nó sẽ giảm bớt nếu bạn càng ngày càng nhận biết nó ở trong bạn. Ý thức, quan sát, và nhận biết “cái tôi” là đóng những cây đinh đóng vào Thập Giá của Chúa Giêsu. Chúng sẽ đóng đinh “cái tôi” vào nơi đó để bớt kiêu căng, bớt ngạo mạn, và “chết một lần cho tất cả”, như thứ năm mùa Thương: “Xin cho con biết đóng đinh tính xác thịt con vào Thánh Giá Chúa”. Khi Chúa Giêsu chết trên Thập Giá, “cái tôi” trong Ngài đã hết quyền kiểm soát Ngài. Cũng vậy, bạn càng nhận biết “cái tôi” trong bạn thì bạn càng được tự do… giảm bớt bất hạnh, tăng thêm hạnh phúc trong cuộc sống và các mối quan hệ. Bạn sẽ thấy mình tự do hơn, ít chỉ trích mình (chê mình nên bạn cảm thấy không hạnh phúc), bạn sẽ thấy mình giảm bớt chê trách người khác và các tình huống khác (nguyên nhân gây đau khổ). Chẳng hạn, khi phê phán người khác, bạn ở trong tình trạng đối kháng. Một người hướng dẫn tâm linh nói: “Bạn kháng cự điều gì thì nó càng đeo bám”. Nghĩa là, nếu bạn không thích cái gì hoặc người nào, bạn luôn cằn nhằn khó chịu (đa số chỉ là ngẫu nhiên, và xảy ra trong đầu bạn), sẽ ngạc nhiên khi thấy những cách hành xử kỳ cục và thế là đau khổ cứ tiếp tục leo thang trong bạn. Tại sao không tự nhận biết sức kháng cự này? Cuối cùng, chẳng ai trồng khoai đất này, đó chính là “cái tôi”, và bạn hãy cố vượt qua nó.

Do đó, con đường tới hạnh phúc là con đường “chết cho chính mình”. Đó là lý do Chúa Giêsu nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16:24). Vác thập giá mình không phải là cứ chịu đựng sự thử thách gay go trong khi vẫn lầm bầm cằn nhằn. Cũng không là cảm thấy buồn sầu cho số phận mình phải vác nhiều thập giá. Không phải vậy. Chính “cái tôi” mà Chúa Giêsu bảo chúng ta chối bỏ đó là “cái tôi ảo tưởng” trong chúng ta. Khi “cái tôi” bị gắn chặt vào thập giá và “chết”, bạn sẽ tự do và thanh thản bước đi trên con đường vui sống như Chúa muốn. Nói các khác, khi nào “cái tôi” trong bạn chết thật thì bạn sẽ sống. Khi nào “cái tôi” chưa chết thì bạn chưa thực sự sống!

Tiến sĩ STEVE McSWAIN
Trầm Thiên Thu chuyển ngữ từ beliefnet.com

Thứ Năm, 26 tháng 6, 2014

10 điều rất cần biết để sống đạo

10 điều rất cần biết

Cá phải bơi. Chim phải bay. Người Công giáo phải đi lễ Chúa Nhật. Rạch ròi và minh nhiên. Là người Công giáo nghĩa là phải biết và làm một số điều – chẳng hạn là tham dự Thánh lễ.

Nửa thế kỷ sau Công đồng Vatican II, người ta vẫn hiểu sai về
cách dạy đức tin tại các giáo xứ, trường học và gia đình. Kết quả là rất nhiều người Công giáo vẫn không biết rằng họ có nhiệm vụ là tin hoặc thực hiện. Hơn 20 năm qua, với cuốn Giáp lý Công giáo, Hướng dẫn Tổng quát về Giáo lý và Hướng dẫn Quốc gia về Giáo lý, xu hướng đó đã đảo nghịch. Tuy nhiên, hệ quả của sự hỗn độn hậu Công đồng vẫn còn ở một số nơi.

Mới đây, tổ chức Our Sunday Visitor (Vị Khách Chúa Nhật) đã nghiên cứu các nhà giáo dục tôn giáo về vấn đề này, yêu cầu giúp đỡ soạn thảo một danh sách gồm các các điều cơ bản về giáo lý mà mỗi người Công giáo cần biết, nhưng nhiều người không hề biết. Đây là những gì chúng ta cần biết:

1. Chúng ta phải nên thánh

Nên thánh không là lĩnh vực đặc biệt của một số người được chọn, không dành riêng cho giáo sĩ, tu sĩ hoặc chỉ một số người được đặc cách. Thiên Chúa kêu gọi tất cả mọi người nên thánh. Nhưng chúng ta phải chọn cách đáp lại lời mời gọi đó. Chúng ta phải biết nói “vâng” đối với ân sủng Thiên Chúa muốn trao ban cho chúng ta, và “vâng” đối với Thánh Ý hoàn hảo của Ngài mọi nơi và mọi lúc.
Ở mức độ thực hành, điều đó nghĩa là đón nhận ân sủng qua các bí tích, đặc biệt là rước lễ và xưng tội. Điều này cũng có nghĩa là biết nguồn ân sủng và qua mối liên hệ đó mà nên giống Chúa hơn trong đời sống hằng ngày, biết yêu thương hơn, chân chính hơn và thương xót hơn giống như khi chúng ta gặp chính Ngài, qua Lời Chúa và Giáo hội. Điều đó cũng có nghĩa là sống theo luật Chúa, không phải luật thế gian. Nghĩa là yêu thương người khác như chính mình, phục vụ Chúa bằng cách phục vụ tha nhân, nhất là những người nhỏ bé nhất.

Dĩ nhiên, việc tiếp tục nói “xin vâng” không hề dễ dàng, nhất là khi là lời “xin vâng” để kết hiệp với Chúa Giêsu trên Thánh giá. Nhưng phần thưởng cuối cùng cho lời “xin vâng” của chúng ta là sự bình an và niềm vui vĩnh cửu. Đó là mục đích mà chúng ta được tạo dựng. Không có kết thúc nào tốt hơn như vậy.

Xin xem Mt 5:48; GLCG số 826, 897-913, 941, 1426, 2015.

2. Chúng ta đều là tội nhân

Ngoại trừ Chúa Giêsu và Đức Maria, mọi người đều “di truyền” tội nguyên tổ từ cha mẹ đầu tiên của chúng ta. Nghĩa là chúng ta sinh ra mà không có ơn thánh hóa cần thiết để chống lại cơn cám dỗ.

Nhờ bí tích Thánh tẩy, chúng ta lãnh nhận ơn thánh hóa, được tha thứ cả những tội mình đã phạm. Nhưng hệ lụy tội nguyên tổ vẫn còn. Vì khi chúng ta sống, mỗi chúng ta vẫn có nhiều khả năng quay lưng lại với Thiên Chúa. Với nhiều mức độ, chúng ta thể hiện “khả năng phạm tội” hằng ngày.

Một số người phạm tội tày trời – giết người, bạo lực, tham ô, ngoại tình,... Một số người phạm tội nhỏ, nhưng vẫn là tội lớn. Chúng ta nói dối và che giấu lầm lỗi của mình. Chúng ta nói hành, nói xấu người khác. Chúng ta xem ti-vi thay vì phải học hỏi hoặc làm điều cần hơn. Chúng ta nóng giận và không biết xin lỗi. Chúng ta không quan tâm nâng đỡ người nghèo. Chúng ta không thờ phượng Chúa. Chúng ta ghen tỵ, đố kỵ. Chúng ta tham lam. Chúng ta xét đoán. Mọi tội lỗi đó có hậu quả tạm thời là “bị tù lương tâm”, nghĩa là mất niềm tin ở người khác, tất nhiên cũng có hậu quả tâm linh.

Một số tội làm mất ơn thánh hóa. Một số tội làm giảm khả năng yêu thương. Tất cả đều khiến chúng ta dễ phạm tội hơn. Cũng vậy, chúng chống lại Thiên Chúa. Đó là lý do chúng ta cần được Ngài tha thứ, được Ngài thương xót, được Ngài cứu độ.

Xin xem Rm 3:23; GLCG số 404, 1263, 1849-1869.

3. Tôn thờ Chúa Giêsu

Người Công giáo không tin vào bất kỳ thần linh nào khác. Chúng ta chỉ tin vào MỘT Thiên Chúa Ba Ngôi – Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, đồng bản thể. Chúng ta biết điều đó vì Chúa Con đã làm người và mặc khải chân lý. Chúa Giêsu Ngôi Hai cũng mặc khải đường tới Thiên Chúa là chính Ngài: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14:6).

Như vậy, việc tôn thờ Chúa Giêsu không là cách chọn lựa riêng của người Công giáo trong đời sống đức tin, nhưng đó là một yêu cầu, một đòi hỏi. Nếu chúng ta muốn sống thánh thiện, hạnh phúc và vào Nước Trời, chúng ta phải biết Chúa Giêsu là ai, Ngài dạy gì và muốn gì ở chúng ta. Chúng ta cũng phải yêu thương và phụng sự Ngài với cả con người của chúng ta.

Muốn làm vậy, chúng ta cần tìm hiểu Chúa Giêsu qua lời của Ngài và những lời viết về Ngài. Chúng ta cần lãnh nhận Chúa Giêsu qua bí tích Thánh Thể. Chúng ta cần tâm sự với Ngài về mọi thứ – về những gì chúng ta yêu và ghét, sợ và muốn, nghĩ và cảm nhận. Mọi quyết định, mọi sự chiến đấu đều cần được chuyển tới Ngài. Cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha và Kinh Mai Côi rất cần và rất tốt, thậm chí là yêu cầu bắt buộc. Đó là chỉ thị: Cầu nguyện liên lỉ, cầu nguyện mọi nơi và mọi lúc. Chúa Giêsu muốn chúng ta mời gọi người khác cùng làm.

Ngài truyền lệnh cho các tông đồ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28:19-20). Đó cũng là lệnh truyền cho những ai mệnh danh là Kitô hữu.

Nhờ bí tích Thánh tẩy và Thêm sức trong Đức Kitô, tất cả chúng ta có trách nhiệm chia sẻ đức tin và mời gọi người khác cùng nhận biết Chúa Giêsu. Ccta cũng có trách nhiệm làm chứng về Đức Kitô theo văn hóa của chúng ta – mở rộng lòng thương xót, bảo vệ sự thật, bảo vệ sự sống, phục vụ người nghèo và tạo niềm hy vọng cho thế giới. Tóm lại, tất cả chúng ta đều có trách nhiệm làm tác nhân của công cuộc tân Phúc Âm hóa, để người khác cũng nhận ra diện mạo của Đức Kitô. Hãy yêu thương, yêu thương thật lòng, yêu thương vì Chúa và vì tha nhân, chỉ thế thôi: “Các điều răn của Người có nặng nề gì đâu” (1 Ga 5:3).

Xin xem Mt 11:27, 28:16-20; Ga 14:6; Ep 6:18; Pl 3:8; GLCG số 422-429, 456-478, 2558-2564.

4. Đọc Kinh Thánh

Phần lớn trong việc tôn thờ Chúa Giêsu là đọc lời của Ngài. Chúng ta gặp Ngài trong Kinh Thánh. Qua đó, chúng ta cũng gặp chính mình, gặp những chuyện đời của chính mình – câu chuyện lịch sử ơn cứu độ. Từ Adam và Eva tới Yến Tiệc Con Chiên, Kinh Thánh kể chuyện về kế hoạch của Thiên Chúa đối với thế gian. Kinh Thánh cho biết tình yêu của Ngài và số phận của nhân loại, với nhiều tình tiết đầy kịch tính. Kinh Thánh cho chúng ta biết về gia phả tâm linh của chúng ta, trở lại nguồn gốc từ dân Ít-ra-en, và còn hơn thế nữa. Thánh Giê-rô-ni-mô đã xác định: “Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô” (Ignorance of Scripture is ignorance of Christ), mà không biết Đức Kitô là không biết Thiên Chúa.

Xin xem Dt 6:1-9; Jos 1:8; 2 Tm 3: 16-17; GLCG số 80-81, 101-133.

5. Giáo hội không là sự chọn lựa hợp lệ trong nhiều cách chọn lựa

Giáo hội là Vương quốc trên thế gian do chính Chúa Giêsu thiết lập. Thánh Phêrô là người đầu tiên được trao chìa khóa Nước Trời, và là giáo hoàng tiên khởi của Giáo hội. Xuyên suốt lịch sử, Chúa Thánh Thần vẫn tiếp tục hướng dẫn các giáo hoàng, bảo đảm rằng giáo quyền (Magisterium) dạy sự thật và không dạy gì khác ngoài sự thật. Chân lý đó bất biến, nhưng luật có thể thay đổi. Giáo lý cũng không thay đổi. Chúng phát triển, nghĩa là cách hiểu mới đã đạt được và cách hiểu cũ được đào sâu, nhưng cách hiểu mới không thể trái ngược với cách hiểu cũ. Chân lý không thể tự mâu thuẫn.

Cũng vậy, Giáo hội thực sự có cách nhìn về chân lý. Đối với Giáo hội, Thiên Chúa mặc khải mọi chân lý cần thiết để chúng ta được cứu độ. Như vậy không có nghĩa là các tôn giáo khác không có những bộ phận tồn tại trong Giáo hội viên mãn. Cũng không có nghĩa là mọi người Công giáo đều được cứu độ, còn những ai không là Kitô hữu đều bị án phạt đời đời. Tuy nhiên, khi du hành, chúng ta phải chọn con tàu có độ an toàn cần thiết. Giống như con tàu, Giáo hội không là một chế độ dân chủ. Người khôn ngoan hơn chúng ta đã chọn một thuyền trưởng và cho người đó quyền hướng dẫn. Chúng ta có thể tin tưởng mệnh lệnh của thuyền trưởng đó.

Xin xem Mt 16:18; Cv 15; GLCG số 74-100, 811-870.

6. Thực sự có Hỏa ngục

Thiên Chúa là tình yêu, giàu lòng thương xót, Ngài không muốn chúng ta tách khỏi Ngài. Nhưng Ngài tôn trọng quyền tự do chọn lựa của chúng ta, nếu chúng ta tự tách khỏi Ngài, chết trong tình trạng mắc tội trọng, Ngài vẫn tôn trọng tự do của chúng ta.

Vậy ai là người chọn lựa cách đó? Vì cứng đầu cứng cổ, chính chúng ta vẫn hằng ngày tự ý chọn điều đó: Phạm tội. Bằng vô số cách, chúng ta tự ý chọn Thiên đàng hay Hỏa ngục. Khi chúng ta chọn Chúa, tức là làm theo đường lối và ý muốn của Ngài, đó là chúng ta chọn Nước Trời. Khi chúng ta chọn chính mình, tức là làm theo cách thức và ý riêng mình, đó là chúng ta chọn Hỏa ngục. Bạn thấy sợ chính mình chưa? Tới Ngày Phán Xét, khi chúng ta trình diện Thiên Chúa, mọi sự đều sáng tỏ, chúng ta không thể tự biện hộ hoặc viện cớ: Vì, bởi, tại, nếu, giá mà...

Xin xem Lc 16:19-25; 1 Ga 3:2; 1 Cr 3:1; Mt 7:13-14; GLCG số 1023-1037.

7. Giáo hội không nghĩ “tình dục” là xấu

Tình dục không xấu. Đó là từ ngữ đẹp, là hành động của tình yêu thánh thể hiện sự kết-hợp-trao-ban-sự-sống trong Chúa Ba Ngôi (life-giving union within the Trinity). Theo giáo huấn Công giáo, tình dục và giới tính (sex and sexuality) là những tặng phẩm quý giá. Nhờ tặng phẩm giới tính, nam và nữ là hiện thân Thiên Chúa theo cách riêng và tuyệt vời, và qua sự thân mật giới tính, chúng ta sở hữu khả năng trao tặng chính mình cho người khác, cả thể xác và tâm hồn, không còn là HAI mà là MỘT.

Qua bí tích hôn phối, nam và nữ trở thành những người đồng sáng tạo với Thiên Chúa, họ tạo ra những sự sống mới. Ngay cả khi họ kết hợp mà không có con, đó vẫn là hồng ân, là cách mà Thiên Chúa khiến họ gần nhau hơn trong tình yêu và tình bạn, giúp họ sống viên mãn hơn trong ơn gọi và định dạng bản chất của mối quan hệ hôn nhân. Tuy nhiên, năng lực của tặng phẩm này tác dụng hai cách. Khi tặng phẩm bị lạm dụng hoặc dùng sai, nó có thể có sức hủy hoại – gây nguy hiểm tiềm ẩn cho cá nhân, gia đình và phong hóa.

Giáo hội nhận biết các vấn nạn về phim ảnh “đen”, tình dục trước hôn nhân, ngừa thai, sống thử, lang chạ, phá thai, nghiện tình dục, ngoại tình, ly hôn, đồng tính, nghèo khó, trầm cảm, cô đơn và bạo lực. Đó là những hậu quả do dùng sai tặng phẩm giới tính của Thiên Chúa. Đó là lý do vẫn có người không ngừng bảo vệ sự thật về giới tính. Hãy tạ ơn Chúa về điều đó. Sự thật luôn tốt đẹp!

Xin xem Cl 3:5; 1 Cr 6:18-20; GLCG số 2331-2391.

8. Dự lễ Chúa Nhật là luật buộc

Giáo hội dạy người Công giáo phải dự lễ Chúa Nhật. Là luật buộc nhưng hữu ích cho chúng ta. Tất nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ. Tuy nhiên, chúng ta đừng dễ dãi mà viện cớ để biện hộ cho mình. Với người bình thường, bỏ lễ Chúa Nhật là tội trọng.

Giáo hội muốn chúng ta dự lễ Chúa Nhật vì chúng ta cần lãnh nhận ân sủng. Chúng ta phải ưu tiên cho Chúa. Chúng ta phải công khai sống đức tin và thờ phượng Ngài. Đặc biệt là chúng ta phải lãnh nhận Mình Máu Đức Kitô để có sự sống dồi dào. Về tâm linh, chúng ta không thể sống mà thiếu Thần Lương. Cũng như chúng ta không thể chạy marathon khi bụng đói.

Xin xem Dt 10:25; GLCG số 2175-2183.

9. Xưng tội là luật buộc

Tất cả chúng ta, từ giáo hoàng trở xuống, đều thiếu ơn Chúa. Ai cũng là tội nhân nên luôn cần sám hối, điều này thể hiện công khai qua việc lãnh nhận bí tích Hòa giải, nhất là khi chúng ta mắc tội trọng. Nhờ đó, chúng ta được Thiên Chúa chữa lành và tha thứ.

Nhờ lãnh nhận bí tích Hòa giải, chúng ta được lãnh nhận hồng ân giúp chống trả chước cám dỗ trong tương lai. Không có tội nào mà Thiên Chúa không thể hoặc không muốn tha thứ. Chúa Giêsu đã nói với Thánh Faustina: “Lòng thương xót của Ta lớn hơn mọi tội lỗi của con và của toàn thế giới”. Vấn đề là chúng ta tin tưởng vào Tình Chúa và thành tâm sám hối. Giáo hội dạy rằng lòng thương xót là thuộc tính lớn nhất của Thiên Chúa. Mọi động thái của Ngài đều thể hiện tình yêu thương xót (merciful love). Đó là cách thức và lý do mà chúng ta nhận biết Ngài.

Xin xem Mt 16:19; 2 Cr 5:18; GLCG số 277, 1422-1470, 1864 và 2001.

10. Mọi Kitô hữu đều phải sám hối

Theo kế hoạch cứu độ thế giới, Thiên Chúa muốn chúng ta cộng tác với Ngài. Một trong các cách hợp tác là chúng ta chịu đau khổ – vui chịu đau buồn, khó khăn, vất vả, hy sinh, cô đơn,… để kết hợp với khổ hình Thập giá mà Chúa Giêsu đã chịu vào chiều thứ Sáu năm xưa. Ngài cũng muốn chúng ta chịu mọi đau khổ để đền tội của mình và tội của người khác, và để cứu các linh hồn. Theo truyền thống của Giáo hội, việc sám hối thường kết hợp với việc ăn chay, cầu nguyện và làm việc bác ái. Giáo hội cũng mời gọi chúng ta ăn chay và kiêng thịt các ngày thứ Sáu (trừ lễ trọng), đặc biệt là mùa Chay.

Xin xem Mt 9:1; Cl 1:24; GLCG số 307, 793, 1430-1439 và 1500.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ OSV.com)