Hiển thị các bài đăng có nhãn 2014. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 2014. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2015

Tại sao Đức Giáo Hoàng Phanxicô lại được đông đảo dân chúng mến mộ?

Tại sao Đức Giáo Hoàng Phanxicô lại được đông đảo dân chúng mến mộ?
Thưa vì những nguyên nhân sau:

Chúng ta trở lại lịch sử thì sẽ thấy ngay Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo 2, dù được cả thế giới mến mộ nhưng vẫn còn rất nhiều người không thích ngài.
Và Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II phải mất 10 năm thì ngài mới nổi tiếng đến khắp thế giới.
Còn Đức Phanxicô thì chỉ mất có vài tháng. Lạ thật.
Chúng ta thử tìm hiểu sơ qua nhé!

1. Được nhiều người mến mộ vì vị giáo hoàng này thuộc về thế gian

Kinh Thánh đã cho chúng ta biết như sau: "Các ngôn sứ giả đó thuộc về thế gian, và thế gian nghe chúng" (1Ga 4: 5).
Dựa vào câu Kinh Thánh này chúng ta sẽ hiểu ngay vấn đề là: Đức Phanxicô thuộc về thế gian này, nên người ta mến mộ vị giáo hoàng này là lẽ tất nhiên.
Nếu chúng ta so sánh thì thấy rằng, vị giáo hoàng của thế gian này còn được nhiều người mến mộ và khen ngợi hơn cả Chúa Giê su.

2. Được nhiều người mến mộ vì được Truyền Thông thế gian - Tam điểm thổi lên

Chúng ta biết là truyền thông bây giờ đa số là thuộc về tam điểm, vì thế mà chúng ta cũng không lấy gì làm lạ là vị giáo hoàng này lại được truyền thông nâng lên tận mây xanh là như vậy.

3. Được nhiều người mến mộ vì vị giáo hoàng này khuyến khích tội lỗi

Nào là người vô thần cũng được vào thiên đàng nếu họ sống tốt. Câu nói này của Đức Phanxicô nghịch lại với Lời Chúa: "Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án". (Mc 16, 16).


Nào là gián tiếp ủng hộ hôn nhân đồng tính thông qua Thượng Hội Đồng.

Nào là cho phép tháo bỏ luật hôn phối để cho người ly dị được tái hôn rước lễ cũng thông qua Thượng Hội Đồng. Với Thượng Hội Đồng này thì vị giáo hoàng của thế gian này vừa làm cho các đôi hôn phối phạm đến Bí tích Hôn nhân, vừa phạm đến Bí Tích Thánh Thể. Vì sự gì Thiên Chúa đã liên kết thì loài người không được phân ly.

Nào là khuyên mọi người ngày chủ nhật dành thời gian cho gia đình thay vì cho Chúa.

Nào là khuyên mọi người đừng cải đạo. Với lời khuyên này thì vị giáo hoàng này muốn loại bỏ lệnh truyền của Chúa Giê su: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. 16 Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án" (Mc 16, 15-16).

Nào là đưa phụ nữ lên ngôi trong Giáo Hội Công Giáo, điều mà chưa thấy bao giờ trong Giáo Hội.

Nào là rửa chân cho phụ nữ và người hồi giáo.

Nào là khiêm nhường giả tạo khi đối với Chúa thì không hôn chân, chỉ hôn bụng với hôn đầu gối Chúa. Còn với người bình thường thì quỳ hôn chân.

Nào là đưa ra những thánh giá kỳ lạ khác với Thánh Giá truyền thống của Giáo Hội.


Nào là kêu tên Lucifer trong đêm Phục Sinh.

Điểm qua những vấn đề trên, giờ đây chúng ta đã hiểu nguyên nhân tại sao vị giáo hoàng này lại nổi tiếng như thế.

Hãy chờ đợi ngày công mình của Chúa đến, ngày mà tất cả những kẻ thờ lạy tên Phản Kito cùng những kẻ đi theo tên ngôn sứ giả và nhận con dấu 666 sẽ bị quăng vào hồ lửa đời đời. Amen.

Trích Sách Khải Huyền chương 19 câu 20:
"Con Thú bị bắt, cùng với tên ngôn sứ giả từng dùng các dấu lạ hắn làm trước mặt nó, mà mê hoặc những kẻ nhận dấu thích của nó và những kẻ thờ lạy tượng của nó. Cả hai bị quăng sống vào hố lửa có diêm sinh đang cháy ngùn ngụt".
Tu Sĩ Hèn Mọn
Ôi còn nhiều lắm: 
Xin xem tất cả các bài về vị giáo hoàng này tại đây.

Từ khóa:
Đức Giáo Hoàng Phanxicô
Đức Giáo Hoàng Francis
Đức Giáo Hoàng Nổi Tiếng
Đức Giáo Hoàng Mới
Pope Francis
Pope
Đức Giáo Hoàng không hôn chân Chúa.

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2015

Lời tiên tri của Thánh Malachy

VỊ GIÁO HOÀNG ÁP CUỐI CỦA THỜI SAU HẾT THEO LỜI TIÊN TRI CỦA THÁNH MALACHY? 

Vào Tuần Thánh năm 2010 này, quyền lực bóng tối đã khai hỏa cuộc tổng tấn công đánh thẳng vào Vatican, vào vị lãnh đạo giáo hội Công giáo là ĐGH Biển Đức XVI, sau cả chục năm các mặt trận truyền thông bùa phép bủa vây đánh vòng quanh ở nhiều nơi và nhiều phía. Và sau đó là các cơ quan từ tầm cỡ lớn đến các tờ báo ở mỗi địa phương đều đồng loạt tiền pháo hậu xung liên tiếp trong nhiều ngày, có bài bản, theo đúng chiến thuật và chiến lược trong một chiến dịch tổ chức qui mô như nhận định của giáo sư Elizabeth Lev. 
Tự nhiên nhiều người nhắc tới lời tiên tri của thánh Malachy được ghi lại vào năm 1139 khi viếng Roma, về 112 vị giáo hoàng, mà ĐGH Biển Đức là vị áp cuối cùng. 
Đức Giáo Hoàng áp cuối cùng, tức thứ 111, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy là "Vinh Quang của Cành Ô-liu" (Gloria Olivæ, the Glory of the Olive). Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo Hội trong thời kỳ khởi đầu cuộc bách hại.
Điều kỳ diệu là Chúa Giêsu nói lời tiên tri về thời tận cùng cũng trên núi Ô-liu. Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo hội trong thời kỳ khởi đầu sự bách hại mà Chúa Giêsu đã nói đến trong Kinh thánh. Vị Giáo hoàng này sẽ có liên quan tới cây/cành Ô-liu vẫn được xem là dấu chỉ của hòa bình, hay cũng có thể liên quan tới cây, trái ô-liu. Dòng thánh Benedict nói rằng vị Giáo hoàng này đến từ nhà dòng của họ, vì dòng còn được biết như là "những người của hòa bình". Thánh Benedictô đã nói tiên tri rằng trước ngày tận cùng của thế giới, người của nhà dòng ngài sẽ chiến thắng dẫn dắt Giáo hội chống lại sự dữ. 
Đức Giáo Hoàng thứ 112 cuối cùng, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy là "Phêrô thành Rôma". Lời tiên tri viết về vị Giáo hoàng thứ 112 này: "Trong thời kỳ bách hại sau cùng của Giáo hội La mã, Phêrô thành Rôma sẽ lên ngôi, người sẽ chăn dắt đoàn chiên giữa những cơn bách hại; sau khi một thành phố 7 đồi (tức Rôma) bị phá huỷ và một vị Quan Án kinh hoàng sẽ xét sử muôn dân." 
LẤY TÊN LÀ BÊNÊĐICTÔ
Những ngày sửa soạn bầu giáo hoàng kế vị Đức Gioan Phaolô II vào tháng 4 năm 2005, tôi tự nhiên nhớ lại hình như đâu đây có lời tiên tri về các vị giáo hoàng. Thế là tôi đã tìm trong mạng lưới và thấy ngay. Những lời tiên tri này là của thánh Malachy vào năm 1139. Ngài là giám mục giáo phận Armagh bên Ái nhĩ lan. Năm đó ngài có dịp về Roma bái kiến ĐGH Innocentê II. Trong thời gian ở đó, ngài đã thấy một thị kiến về 112 vị giáo hoàng sau đó, liền viết ra và trao cho ĐGH Innocentê II. 
Mỗi vị giáo hoàng đều được nói tới qua một câu bằng tiếng La-tinh diễn tả đặc điểm. Những lời tiên tri về các vị giáo hoàng trước đây khá đúng cách này hoặc các khác. Lời tiên tri về ĐGH Gioan Phaolô II là "De Labore Solis" nghĩa là Mặt Trời Lam Lũ hay Nhật Thực. Quả thực cuộc đời của ngài ra đi không ngừng nghỉ cho đến những ngày già cả bệnh tật cuối cùng.
Buổi tối ngày 18 tháng 4 năm 2005, ngày đầu tiên bầu giáo hoàng mà chưa có kết quả, tôi ngồi đọc những lời tiên tri trong danh sách 112 vị giáo hoàng, thì ĐGH Gioan Phaolô II là thứ 110. Và đức giáo hoàng kế vị sẽ là thứ 111, áp cuối cùng trong danh sách. 
Đây là vị giáo hoàng áp cuối vào thời sau hết? Câu nói trong lời tiên tri thánh Malachy về vị giáo hoàng này là "Vinh Quang Ngành Ô-liu" (Gloria Olivae, the Glory of the Olive). Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo hội trong thời kỳ khởi đầu sự bách hại mà Chúa Giêsu đã nói đến trong Kinh thánh. Vị Giáo hoàng này sẽ có liên quan tới cây/cành Ô-liu vẫn được xem là dấu chỉ của hòa bình. Dòng thánh Benedictô nói rằng vị Giáo hoàng này đến từ nhà dòng của họ, vì dòng còn được biết như là "những người của cành ô-liu". (The Benedictine order traditionally said this Pope would come from their order). Thánh Benedictô (Biền Đức) đã nói tiên tri rằng trước ngày tận cùng của trật tự thế giới, nhà dòng của ngài sẽ chiến thắng dẫn dắt Giáo hội chống lại sự dữ. 
Đọc xong tôi tự hỏi liệu những lời trên đây sẽ nghiệm tới cỡ nào. Vì trong các hồng y kỳ này có ai là từ dòng Bênêdictô đâu! 
Vậy là ngày hôm sau, 19 tháng 4, vào lúc 5:45 chiều giờ Roma (tức lúc 10:45 sáng giờ New Orleans), tôi mở TV thì thấy khói trắng đang bốc ra từ ống khói trên nóc nhà nguyện Sistine. Mọi người đang tuốn vào công trường thánh Phêrô để chứng kiến giây phút lịch sử. Đúng 6:05 thì chuông nhà thờ thánh Phêrô vang lên reo vui. Và giây phút quan trọng đã đến: đúng 6:40 chiều (giờ Roma) thì đức hồng y Jorge Medina Estivez tiến ra bao lơn đền thờ thánh Phêrô tuyên bố: "Habemus Papam" nghĩa là "Chúng Ta Đã Có Giáo Hoàng." Nhiều người hồi hộp chờ đợi, nghĩ rằng vị giáo hoàng mới chắc thế nào cũng lấy tên là Gioan Phaolô III để theo bước chân vị mục tử đang quá nổi tiếng. 
Lời tuyên bố tiếp: vị giáo hoàng mới là đức hồng y Josef Ratzinger, lấy tên là Benedictô XVI. 
Nghe vậy tôi bèn giật bắn người lên. Sao lần này lời tiên tri lại có thể đúng quá như thế. Chỉ khác là đức hồng y Josef Ratzinger không phải là người thuộc dòng Benedictô, nhưng lại lấy tên là Benedictô để nói lên cái tinh thần của thánh Benedictô chăng?
Thế là biết bao nhiêu suy diễn đầy tràn trên các mạng lưới. Rằng sắp đến ngày tận thế! Vì chỉ còn một vị nữa là hết danh sách! Câu nói tiên tri về vị giáo hoàng cuối cùng, tức thứ 112 là "Phêrô thành Rôma." "Trong thời kỳ bách hại sau cùng của Giáo hội Rôma, Phêrô thành Rôma sẽ lên ngôi, người sẽ chăn dắt đoàn chiên giữa những cơn bách hại; sau khi một thành phố 7 đồi (tức Rôma) bị phá huỷ và một vị Quan Án kinh hoàng sẽ xét sử muôn dân."
AI LÀ MALACHY?
Thánh Malachy sinh năm 1094 với tên gọi O'Margair trong một gia đình quý phái ở thành phố Armagh, Bắc Ái Nhĩ Lan. Ngài được rửa tội lấy tên La-tinh là Maelmhaedhoc, nhưng ngài được biết đến với tên gọi là Malachy. Sau một thời gian dài học hành, ngài quyết định thay vì sẽ làm công việc giống như cha ngài đang làm, ngài có ước muốn trở thành một linh mục Công giáo, thụ phong linh mục vào năm 1119 ở tuổi 25. Ngài tiếp tục theo học thần học ở Lismore. Năm 1127, ngài trở thành cha giải tội cho Cormac MacCarthy, hoàng tử của Desmond, người sau này trở thành Vua của Ái Nhĩ Lan. Ngài được phong làm Tổng Giám mục Armagh vào năm 1132. Thánh Malachy qua đời trong lúc hành hương Rôma lần thứ hai vào năm 1148. Ngài được Đức Thánh Cha Clemente III phong thánh vào ngày 6/7/1199. Điều kỳ diệu trong những lời tiên tri của Thánh Malachy là việc tiên đoán về ngày và giờ chết của chính ngài, và đã xảy ra đúng như thế. 
Thánh Malachy có ơn chữa lành giúp người bệnh tật. Ngoài ra, ngài còn có ơn bay bổng và ơn tiên tri thấu thị. Nhiều phép lạ đã xảy ra liên quan tới những mục vụ của Ngài. Ngài còn được ban cho ơn tiên tri, mà một trong nhưng lời tiên tri quan trọng nhất ngài nhận được trong một thị kiến ở Rôma vào năm 1139 liên quan đến những Vị Giáo Hoàng sau này - từ Đức Giáo Hoàng Innocent II cho tới thời kỳ tận cùng của thế giới. Ngài đã làm thơ để mô tả mỗi một Đức Giáo Hoàng, và đã trao bản viết tay cho Đức Giáo Hoàng Innocent II, và kể từ đó lời tiên tri của Ngài không được nhắc tới cho mãi đến năm 1590, thì được in ra sách, và đã trở thành điểm tranh luận nóng bỏng về tính chất nguyên thuỷ và chính xác của lời tiên tri. Theo như lời tiên tri của Thánh Malachy, thì chỉ còn 2 Đức Giáo Hoàng nữa sau Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì tới tận cùng thời gian, mà Đức Giáo Hoàng cuối cùng sẽ mang danh hiệu "Thánh Phêrô thành Rôma."
Thánh Malachy viết những lời tiên tri về các Đức Giáo Hoàng với những danh hiệu liên quan tới tên gọi nơi gia đình, nơi sinh, huy hiệu hay văn phòng đang nắm giữ trước khi được bầu lên Giáo hoàng. Một số đoạn viết là những lời tiên tri đa dạng được viết rất tài tình bởi lối dùng chữ. Thí dụ như, Đức Giáo hoàng Piô II làm Giáo Hoàng trong vòng 26 ngày vào năm 1503, được Thánh Malachy mô tả là "từ một người đàn ông nhỏ". Tên gia đình của ngài là Piccolomini, tiếng Ý nghĩa là "người đàn ông nhỏ". Thỉnh thoảng, quá khứ cá nhân của Đức Giáo Hoàng là một phần của biệt hiệu được viết bởi Thánh Malachy. Đức Giáo Hoàng Clement XIII (1758-1769) là người có những liên hệ với chính quyền Ý của bang Umbria và có huy hiệu là một bông hoa hồng, đã được Thánh Malachy mô tả với biệt hiệu là "Hoa hồng của Umbria."
Thời gian qua đi đã chứng tỏ cho những người nghi ngờ về lời tiên tri của thánh Malachy, vì những lời tiên tri của ngài đã thực sự chính xác đến độ làm ngạc nhiên người ta. 
CHAO ĐẢO HAY ĐỊNH HƯỚNG?
Hình như thiên hạ thích suy diễn về ngày tận thế. Ngay thời trước 1975 ở Việt Nam, lâu lâu dân chúng lại đổ đi mua nến vì sẽ có tối trời ba ngày! Rồi tới thời điểm chuyển sang thiên niên kỷ mới năm 2000, thiên hạ lại càng nhiều xôn xao. 
Danh sách chỉ có 112 không có nghĩa là không còn vị nào nữa. Thánh Malachy chỉ nhìn thấy tới đó thì sao? Mà thời tận cùng là thời kỳ gì? Tận cùng các vị giáo hoàng từ Âu châu? Tận cùng thời giáo hội bị điêu đứng, bị chao đảo, bị tấn công từ nhiều phía? Cứ nhìn vào những "bàn tay lông lá" của những "bạo chúa" truyền thông những năm qua và những ngày vừa qua thì rõ. Muốn dán nhãn hiệu xấu hay tốt, bảo thủ hay cấp tiến là cứ tự tiện khuynh đảo hành xử.
Tại sao đức tân giáo hoàng không lấy tên là Gioan Phaolô III mà lại chọn là Bênêđictô XVI? Điều này có liên hệ gì tới cành ô-liu hay tinh thần thánh Biển Đức và dòng Biển Đức? 
Nhiều người đã tiết lộ là đức hồng y Josef Ratzinger mỗi lần tĩnh tâm thường tới nhà dòng Monte Cassino ở gần Roma, là nơi thánh Biển Đức đã lập dòng vào thế kỷ thứ 6. Thánh Biển Đức đã khơi lên trong giáo hội một trào lưu nội tâm là đường hướng tốt nhất để vượt qua những chao đảo và bảo toàn được Giáo Hội vào thế kỷ thứ 6. 
Thế là mọi người đều tìm đọc bài giảng của đức hồng y Josef Ratzinger trưởng hồng y đoàn trong ngày khai mạc cơ mật hội. Và vỡ lẽ ra rằng đây không ngờ mà lại là một bài giảng mang tính chất tiên tri và viễn kiến mở hướng đi cho giáo hội đầy tin tưởng lạc quan trong những ngày sắp tới.
"Chúng ta không thể cứ mãi là những trẻ thơ trong đức tin, trong trạng thái vị thành niên. Cứ mãi là những trẻ thơ trong đức tin nghĩa là gì? Thánh Phaolô trả lời: nghĩa là “bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý.” (Eph 4:14). Một diễn tả rất thời sự!
Biết bao nhiêu làn gió chủ thuyết mà chúng ta đã biết đến trong những thập niên cuối cùng… Con thuyền nhỏ tư duy của nhiều Kitô hữu đã thường bị đánh bởi những đợt sóng này - trôi giạt từ thái cực này sang thái cực khác: từ Mác Xít tới chủ nghĩa tự do, tới mức chủ nghĩa tự do phóng túng; từ chủ nghĩa tập thể đến chủ nghĩa cá nhân; từ chủ nghĩa vô thần tới chủ nghĩa duy huyền bí tôn giáo mơ hồ; từ chủ nghĩa vô tín đến chủ nghĩa hỗn tạp và vân vân. Nhiều giáo phái mới được đẻ ra mỗi ngày và xảy ra điều mà Thánh Phaolô đã nói về sự lường gạt con người và sự tinh quái nhắm lôi kéo con người đến chỗ lầm lạc (x Eph 4:14). Có một đức tin rõ ràng, theo kinh Tin Kính của Giáo Hội, lại bị gán cho nhãn hiệu cuồng tín. Trong khi chủ nghĩa tương đối, nghĩa là để chính mình “bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý” dường như lại là cách thức hành xử duy nhất thức thời. Người ta đang thành lập một chế độ độc tài của chủ nghĩa tương đối, nó không nhìn nhận điều gì là chung kết và để cho cái tôi và ý muốn của mình là mẫu mực duy nhất."
TIN VUI CHIẾN THẮNG VINH QUANG CỦA CÀNH Ô-LIU (Chúa nhật 4c Mùa Phục sinh)
Vậy là câu trả lời đã khá rõ. Trong những tù mù xáo trộn bị sóng đánh trôi dạt, hãy tìm vào đời sống nội tâm và bầu khí phụng vụ thánh thiêng như tinh thần của thánh Biển Đức. Đây là lời quả quyết của chính đức hồng y Ratzinger trong bài giảng trên:
"Trái lại chúng ta có một mẫu mực khác, đó là Con Thiên Chúa, là người thật. Ngài là thước đo của chủ nghĩa nhân bản đích thật. Đức tin “trưởng thành” không phải là một đức tin trôi theo những làn sóng thời thượng hay mốt mới. Đức tin với vóc dáng đầy đủ và trưởng thành là một đức tin ăn rễ sâu xa nơi tình bằng hữu với Chúa Kitô."
Tin Mừng tuần này trả lời như vậy. Đang khi quyền lực bóng tối xem chừng tung hoành lấn lướt và nhiều người nghĩ Chúa như ngủ quên để mặc, thì Chúa có mặt ra tay và giõng giạc tuyên bố: 
27 “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi.28 Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.” (Gioan 10:27-28)
Trong lúc thiên hạ bàn tán về một ngày tận thế mơ hồ nào đó, trong lúc nhân loại càng lún sâu vào xô xát giẫy giụa do những xung khắc tham vọng quyền lực hay những bùa phép toàn cầu của "trật tự mới", khiến lòng người chao đảo, tâm hồn tín hữu xôn xao mất hướng đi, ĐGH Biển Đức XVI đang mở hướng đối thoại hòa giải và hóa giải. Mọi người đang chờ đợi một vị lãnh đạo, với cành ô-liu vinh thắng, tiếp tục hô to như ĐGH Gioan Phaolô II: "Đừng Sợ!" Vì chính Chúa là con đường và là người dẫn đường. Dù chỉ với con người dòn mỏng, ĐGH Gioan Phaolô II đã làm thay đổi thế giới và lòng người thời đại. Dù với bàn tay run rẩy của tuổi già bệnh tật, ĐGH Gioan Phaolô II vẫn thu hút cả mấy triệu người trẻ trong mỗi dịp đại hội giới trẻ thế giới. Và ngay dù đã nằm xuống, xác thân bất động, con người với ơn thánh đó đã kéo biết bao triệu người tuốn về Roma trong ngày vỗ cánh bay lên. Đó là sức mạnh của niềm tin và của con tim nhân ái xóa bỏ được mọi làn ranh.
"Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa." (Gioan 14:12)
TỪ MỘT THỜI BỊ NGUYỀN RỦA TỚI MỘT THỜI ĐƯỢC CHÚC PHÚC 
Sắp sửa tận thế hay sửa soạn một thời ân sủng? Bài giảng mang chất tiên tri này đã xướng lên ngay từ đầu: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh này" (Lc 4:21), là "công bố một năm hồng ân của Chúa." 
Bênêdictô từ tiếng La-tinh có nghĩa là Được Chúc Phúc, Được Ban Hồng Ân. Ở đây chữ "Lòng Thương Xót Chúa" (Divine Mercy) được nhắc đi nhắc lại. Bởi chính Đức Kitô đã bằng lòng mang lấy "toàn bộ gánh nặng của sự ác, toàn thể quyền năng hủy diệt của nó." Ngài đã trả giá cho những hồng ân đó bằng nhận lấy "ngày báo phục của Thiên Chúa" (Is 61:2)
“Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá”(1 Pet 2:24). Và Thánh Phaolô đã viết cho các tín hữu Galát : “Đức Ki-tô đã chuộc chúng ta cho khỏi bị nguyền rủa vì Lề Luật, khi vì chúng ta chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa, vì có lời chép: Đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ! Như thế là để nhờ Đức Giê-su Ki-tô, các dân ngoại cũng được hưởng phúc lành dành cho ông Áp-ra-ham, và để nhờ đức tin, chúng ta nhận được ơn Thiên Chúa đã hứa tức là Thần Khí.” (Gal 3:13).
Như thế, thay vì nhiều người cứ nghĩ tới ngày "bị nguyền rủa," bằng chính những hành động tự hủy của con người như thảm cảnh Nhà Tháp Đôi ở New York hay những vụ ôm bom tự sát để "đóng cửa trần gian," ĐGH Biển Đức mang danh hiệu đầy chất tiên tri "Được Chúc Phúc" đang mở ra một thời hồng ân của cuộc chiến thắng do chính Chúa Giêsu dẩn đầu. Đây lại chẳng phải là một lời tiên tri trong một viễn kiến đầy tin tưởng, hy vọng và tươi sáng hay sao?
“Hãy can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian.” (Gioan 16:33)
Lm. Trần Cao Tường
---
Xin mời xem Những Lời Tiên Tri Liên Quan Tới 112 Vị Giáo Hoàng, 
LỜI TIÊN TRI CỦA THÁNH MALACHY VỀ CÁC ĐGH THỜI CUỐI CÙNG
Lời ngỏ: Đây là bản dịch về lời tiên tri của thánh Malachy về các Đức Giáo Hoàng thời cuối cùng. Bài này không có ý gây lo sợ, bởi vì những người tin vào Chúa Kitô thì không có gì phải sợ, và chính Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đã nhất mạnh: "Đừng sợ!". Cần cầu nguyện để xin Thiên Chúa soi sáng khi phân định lời tiên tri này.
Thánh Malachi sinh năm 1094 với tên gọi O'Margair trong một gia đình quý phái ở thành phố Armagh, Bắc Ái Nhĩ Lan. Ngài được rửa tội với tên gọi Maelmhaedhoc. Tên Maelmhaedhoc được La-tinh hóa và ngài được biết đến với tên gọi là Malachy. Sau một thời gian dài học hành, ngài quyết định thay vì sẽ làm công việc giống như cha ngài đang làm, ngài có ước muốn trở thành một linh mục Công giáo. 
Ngài được thụ phong vào năm 1119 ở tuổi 25. Ngài tiếp tục theo học thần học ở Lismore. Năm 1127, ngài trở thành cha giải tội cho Cormac MacCarthy, hoàng tử của Desmond, người sau này trở thành Vua của Ái Nhĩ Lan. Ngài được phong làm Tổng Giám mục Armagh vào năm 1132. Thánh Malachi qua đời trong lúc hành hương Rôma lần thứ hai vào năm 1148. Ngài được Đức Thánh Cha Clemente III phong thánh vào ngày 6/7/1199. Điều kỳ diệu trong những lời tiên tri của Thánh Malachi là việc tiên đoán về ngày và giờ chết của chính ngài, và đã xảy ra đúng như thế. 
Thánh Malachi có ơn chữa lành giúp người bệnh tật. Ngoài ra, ngài còn có ơn bay bổng và ơn tiên tri thấu thị. Nhiều phép lạ đã xảy ra liên quan tới những mục vụ của Ngài. Ngài còn được ban cho ơn tiên tri, mà một trong nhưng lời tiên tri quan trọng nhất ngài nhận được trong một thị kiến ở Rôma vào năm 1139 liên quan đến những Vị Giáo Hoàng sau này - từ Đức Giáo Hoàng Innocent II cho tới thời kỳ tận cùng của thế giới. Ngài đã làm thơ để mô tả mỗi một Đức Giáo Hoàng, và đã trao bản viết tay cho Đức Giáo Hoàng Innocent II, và kể từ đó lời tiên tri của Ngài không được nhắc tới cho mãi đến năm 1590, thì được in ra sách, và đã trở thành điểm tranh luận nóng bỏng về tính chất nguyên thuỷ và chính xác của lời tiên tri. Theo như lời tiên tri của Thánh Malachi, thì chỉ còn 2 Đức Giáo Hoàng nữa sau Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì tới tận cùng thời gian, mà Đức Giáo Hoàng cuối cùng sẽ mang danh hiệu "Thánh Phêrô thành Rôma".
Thánh Malachi viết những lời tiên tri về các Đức Giáo Hoàng với những danh hiệu liên quan tới tên gọi nơi gia đình, nơi sinh, huy hiệu hay văn phòng đang nắm giữ trước khi được bầu lên Giáo hoàng. Một số đoạn viết là những lời tiên tri đa dạng được viết rất tài tình bởi lối dùng chữ. Thí dụ như, Đức Giáo hoàng Piô II làm Giáo Hoàng trong vòng 26 ngày vào năm 1503, được Thánh Malachi mô tả là "từ một người đàn ông nhỏ". Tên gia đình của ngài là Piccolomini, tiếng Ý nghĩa là "người đàn ông nhỏ". Thỉnh thoảng, quá khứ cá nhân của Đức Giáo Hoàng là một phần của biệt hiệu được viết bởi Thánh Malachi. Đức Giáo Hoàng Clement XIII (1758-1769) là người có những liên hệ với chính quyền Ý của bang Umbria và có huy hiệu là một bông hoa hồng, đã được Thánh Malachi mô tả với biệt hiệu là "Hoa hồng của Umbria".
Thời gian qua đi đã chứng tỏ cho những người nghi ngờ về lời tiên tri của Thánh Malachi, vì những lời tiên tri của ngài đã thực sự chính xác đến độ làm ngạc nhiên người ta. Có tất cả 112 vị Giáo hoàng với những chân tính được liệt kê kể từ Đức Giáo Hoàng Celestine II năm 1143 cho tới thời tận cùng của thế giới.
10 GIÁO HOÀNG SAU CÙNG
1. Đức Giáo Hoàng Piô X 1903-1914, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Lửa Cháy", tên thật là Giuseppe Melchiarre Sarto. Trong thời gian ngài làm Giáo hoàng, lục điạ Âu châu bùng cháy cuộc chiến tranh như đám lửa cháy lan từ quốc gia này tới quốc gia khác cho mãi tới năm 1914, chiến tranh đã bao phủ toàn bộ lục điạ Âu châu.
2. Đức Giáo Hoàng Benedict XV (1914-1922) biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Tôn Giáo Tiêu Tàn", tên thật là Giacomo Della Chiesa. Đức Giáo Hoàng Benedict XV được biết đến là Đức Giáo Hoàng của chiến tranh, vì lửa chiến tranh bất hòa làn tràn khắp ra thế giới. Ngài đã chứng kiến chủ nghĩa cộng sản đi vào Liên Bang Sô Viết khiến đời sống tôn giáo bị tiêu huỷ, chiến tranh thế giới thứ nhất gây thương vong cho hàng triệu người Kitô giáo như trong cuộc tàn sát ở cánh đồng Flanders và ở nhiều nơi khác.
3. Đức Giáo Hoàng Piô XI (1922-1939), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Đức tin sắt son", tên thật là Achilee Ratti. Là vị Giáo hoàng chứng kiến thế giới chuẩn bị cho một hậu quả của một cuộc chiến để chấm dứt các cuộc chiến. Ngài chứng kiến phong trào phá thai ở Âu châu ra đời, và sự phát triển của chủ nghĩa vô thần được giảng dạy cho các giới trẻ trong các trường đại học và đầu độc để loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi đầu óc những người công dân của một trật tự thế giới mới. 
4. Đức Giáo Hoàng Piô XII (1939-1958), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Mục tử thiên thần", tên thật là Eugento Pacelli. Ngài đã dành thời giờ trong thời gian đầu làm giáo hoàng trong lãnh vực ngoại giao của tòa thánh Vatican. Ngài là sự chọn lựa tự nhiên theo sau Đức Giáo hoàng Piô XI vì không có vị lãnh đạo giáo hội nào có đủ kinh nghiệm điều hành giáo hội, và với các lãnh đạo quốc gia trong cuộc xung đột thế giới.
5. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958-1963), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Chủ chăn và thuỷ thủ", tên thật là Angelo Giuseppe Roncalli. Đức Gioan 23 là tổng Giám Mục Areoplis của Palestine trong khoảng thời gian khai sinh quốc gia Dothái, năm 1953 Đức Giáo Hoàng Piô XII phong ngài làm Hồng Y của Venice. Ngài được xem là vị Giáo hoàng được yêu mến nhất trong các Đức Giáo Hoàng cận đại. Những sử học gia tin rằng ngài được Thánh Malachi tiên tri là thuỷ thủ vì thành phố Venice là một thành phố nước. Thế nhưng cũng có thể khi ngài là tổng Giám mục của Palestine, ngài được coi là một "thuỷ thủ rao giảng" bởi vì miền đất của dân ngoại và Hồi giáo có liên quan trong lời tiên tri là "biển cả".
6. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI (1963-1978), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Hoa của các loài Hoa" tên thật là Giovanni Battista Montini, Ngài làm Giáo hoàng 15 năm. Danh hiệu của ngài là ba bông hoa huệ Iris.
7. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I (1978-1978 - 33 ngày), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "trăng bán nguyệt", tên thật là Albino Buciani, là vị Giáo hoàng chăn dắt Giáo hội trong thời gian ngắn nhất là 33 ngày. Khi ngài được bầu Giáo hoàng ngày 26/8/1978, là thời gian có trăng hình bán nguyệt. Trong thời gian ngài làm Giáo hoàng, sự nổi dậy của các nhóm Hồi giáo quá khích chống lại thế giới dân ngoại bùng nổ. Tổ chức OPEC dầu hỏa ra đời, và các quốc gia Ảrập dùng vũ khí dầu hỏa của họ để chống lại các quốc gia kỹ nghệ. Dấu hiệu của Hồi giáo là hình "trăng bán nguyệt". 
8. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II (1978-2005), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Nhật thực" hay cũng còn có nghĩa là "Mặt trời lam lũ". Ngài là hoàng tử người Balan của Giáo hội Công giáo. Ngài là vị Giáo hoàng đã có công trong việc làm cho chủ nghĩa cộng sảng sụp đổ. Trong suốt 25 năm làm Giáo hoàng, ngài đã tông du nước ngoài trên 100 lần và cái chết lịch sử của Ngài đã lôi kéo trên 3 triệu người tham dự tang lễ. Ngày ngài sinh ra ngày 18/5/11920 vào buổi sáng có hiện tượng nhật thực trên toàn cõi Âu châu, và ngày ngài qua đời cũng có nhật thực bán phần trên vùng trời Bắc Mỹ. 
9. Đức Giáo Hoàng áp cuối cùng, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi là "Vinh Quang Cành Ô-liu". Điều kỳ diệu là Chúa Giêsu nói lời tiên tri về thời tận cùng cũng trên núi Ô-liu. Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo hội trong thời kỳ khởi đầu sự bách hại mà Chúa Giêsu đã nói đến trong Kinh thánh. Vị Giáo hoàng này sẽ có liên quan tới cây/cành Ô-liu vẫn được xem là dấu chỉ của hòa bình, hay cũng có thể liên quan tới cây, trái ô-liu. Dòng thánh Benedict nói rằng vị Giáo hoàng này đến từ nhà dòng của họ, vì dòng còn được biết như là "những người của hòa bình". Thánh Benedictô đã nói tiên tri rằng trước ngày tận cùng của thế giới, nhà dòng của ngài sẽ chiến thắng dẫn dắt Giáo hội chống lại sự dữ. 
10. Đức Giáo Hoàng thứ 112 cuối cùng, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Phêrô thành Rôma". Lời tiên tri viết về vị Giáo hoàng thứ 112 này: "Trong thời kỳ bách hại sau cùng của Giáo hội La mã, Phêrô thành Rôma sẽ lên ngôi, người sẽ chăn dắt đoàn chiên giữa những cơn bách hại; sau khi một thành phố 7 đồi (tức Rôma) bị phá huỷ và một vị Quan Án kinh hoàng sẽ xét sử muôn dân." 

Trở ngại với những lời tiên tri được liệt kê trong sách Những Lời tiên tri của Thánh Malachi xuất bản bởi Thomas A. Nelson, một nhà sách xuất bản Công giáo thì bản nguyên thuỷ của Thánh Malachi chỉ có 111 Đức Giáo Hoàng, chứ không phải là 112 như trong bản màu nâu xuất bản sau này. Trong khoảng giữa ấn bản thứ nhất và ấn bản sau này thì vị Giáo hoàng 112 là Phêrô Thành Rôma được thêm vào trong lời tiên tri của Thánh Malachi.
Theo Thanhlinh.net

Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2015

Tu Sĩ Hèn Mọn: Tại sao Giáo Hội Công Giáo lại có Đức Giáo Hoàng giả?

Nguyện xin Ơn Phân Định và bình an của Chúa luôn ở cùng Bà con mình!

Xin Mẹ Maria, Thánh cả Giuse, Đức Thánh Micae, Thánh Quan Thầy, Thiên Thần Bản Mệnh, các Thánh và các Thiên Thần cùng các linh hồn luyện ngục luôn cầu bầu cho chúng con trước tòa Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Amen.

Bà con xa gần thân mến trong Chúa sắp quang lâm!

"Sự thật sẽ giải phóng anh em" (Ga 8,32).
"Còn việc tên gian ác xuất hiện là do tác động của Xatan, có kèm theo đủ thứ phép mầu, dấu lạ, điềm thiêng, (10) và đủ mọi mưu gian chước dối, nhằm hại những kẻ phải hư mất, vì đã không đón nhận lòng yêu mến chân lý để được cứu độ. (11) Vì thế Thiên Chúa gửi đến một sức mạnh mê hoặc làm cho chúng tin theo sự dối trá; (12) như vậy, tất cả những kẻ không tin sự thật, nhưng ưa thích sự gian ác, thì sẽ bị kết án" (2Tx 2: 9-12).

"Sự thật mất lòng - Nhưng thuốc đắng rã tật" - Các Cụ Việt Nam.

Sau đây con xin được gởi tới bà con mình bài chia sẻ về chủ đề: Tại sao Giáo Hội Công Giáo nói riêng và thế giới nói chung lại có Đức Giáo Hoàng giả? Ai là Đức Giáo Hoàng giả thời cuối này?
Để trả lời cho chủ đề này và nhiều bà con thắc mắc: Sao Giáo Hội lại có giáo hoàng giả được? Chẳng lẽ Thiên Chúa lại có thể để cho điều này xảy ra sao?

Để trả lời cho những câu hỏi trên con xin trích dẫn những đoạn Kinh Thánh, Sứ Điệp Đức Mẹ đã được Giáo Hội công nhận và Thực tế cũng được Giáo Hội và xã hội công nhận để lời chứng của con là chân thật, đáng tin cậy và không ai có thể chối cãi được.

Tóm tắt: Bài này con chia làm 7 phần như sau:

I. Kinh Thánh: Lời chứng của Chúa Giê su và Thánh Gioan
II. Sứ Điệp Đức Mẹ Lasalet
III. Thực Tế
IV. Diễn Giải
V. Sự ứng nghiệm
VI. Kết.
VII. Lời nhắn nhủ.

Nào! Bà con mình đã sẵn sàng chưa? Nếu đã sẵn sàng rồi thì bây giờ chúng ta cùng bắt đầu nhé!
I - Kinh Thánh - Mặc Khải Công

1. Lời chứng của Chúa Giêsu 

A. Kẻ Mạo Danh Thầy
" Người đáp: "Anh em hãy coi chừng, đừng để ai lừa gạt, vì sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến nói rằng: "Chính Ta đây là Ðấng Kitô", và họ sẽ lừa gạt được nhiều người." (Mt 24: 4-5).

B. Nhiều Ngôn Sứ Giả
"Sẽ có nhiều ngôn sứ giả xuất hiện và lừa gạt được nhiều người" (Mt 24: 11).

C. Kitô giả và ngôn sứ giả
"Bấy giờ, nếu có ai bảo anh em: "Này, Ðức Kitô ở đây" hoặc "ở đó", anh em đừng có tin. (24) Thật vậy, sẽ có những Kitô giả và ngôn sứ giả xuất hiện, đưa ra những dấu lạ lớn lao và những điềm thiêng, đến nỗi chúng lừa gạt cả những người đã được tuyển chọn, nếu có thể. (25) Thầy báo trước cho anh em đấy! (Mt 24: 23-25).

D. Phân Biệt Ngôn Sứ Thật Giả
"Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi. (16) Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì họ biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ? (17) Nên hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. (18) Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt. (19) Cây nào không sinh quả tốt, thì bị chặt đi và quăng vào lửa. (20) Vậy, cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai. "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa!" là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Ðấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. (22) Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?" (23)Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác! (Mt 7: 15 - 23).

2. Lời chứng của Thánh Gioan Tông Đồ

AĐề phòng thế gian và những kẻ phản Kitô. 

Anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian. Anh em đã nghe nói là nó đang tới, và hiện nay nó ở trong thế gian rồi. (5) Các ngôn sứ giả đó thuộc về thế gian, và thế gian nghe chúng. (6) Còn chúng ta, chúng ta thuộc về Thiên Chúa. Chúng ta cứ dựa vào đó mà nhận ra thần khí dẫn đến sự thật và thần khí làm cho sai lầm. (1Ga 4: 1-6).

B. Đề phòng những kẻ phản Kitô

Đây là giờ cuối cùng. Tên phản Kitô sẽ đến; thế mà giờ đây nhiều tên phản Kitô đã xuất hiện. Do đó chúng ta biết được rằng đây là giờ cuối cùng. (19) Chúng xuất thân từ hàng ngũ chúng ta, nhưng không phải là người của chúng ta; Nhưng như thế mới rõ: không phải ai ai cũng là người của chúng ta. (1Ga 2: 18-20)

C. Nhiều người mê hoặc đã lan tràn khắp thế gian

Vì có nhiều người mê hoặc đã lan tràn khắp thế gian, họ là những kẻ không tuyên xưng Ðức Giêsu Kitô là Ðấng đã đến và trở nên người phàm. Ðó là kẻ mê hoặc và là tên phản Kitô. (8) Anh em phải coi chừng để khỏi đánh mất những gì anh em đã làm được, nhưng để lãnh đầy đủ phần thưởng. (9) Phàm ai đi quá xa, không ở lại trong giáo huấn của Ðức Kitô, thì không có Thiên Chúa. Nếu ai đến với anh em mà không đem theo giáo huấn ấy, anh em đừng đón vào nhà và cũng đừng chào hỏi người ấy. (11) Quả thật ai chào hỏi là cộng tác vào những việc xấu xa của người ấy. (2Ga 1: 7-11).

D. Ngôn sứ giả phục vụ Con Thú

(11) Tôi thấy một Con Thú khác từ đất đi lên. Nó có hai sừng giống như sừng chiên, và nói năng như một Con Mãng Xà. (12) Nó thi hành tất cả quyền bính của Con Thú thứ nhất, trước mặt Con Thú ấy, và làm cho đất, cũng như những người sống trên mặt đất, thờ lạy Con thú thứ nhất, mà vết tử thương đã được chữa lành. (13) Nó làm những dấu lạ lớn lao, khiến cho ngay cả lửa từ trời cũng rơi xuống đất trước mặt người ta. Nó bắt mọi người, nhỏ cũng như lớn, giàu cũng như nghèo, tự do cũng như nô lệ, phải thích dấu trên tay hữu hoặc trên trán. (17) Không ai có thể mua bán, nếu không mang dấu thích đó, tức là con số tương đương với tên nó. Ai có trí thông minh hãy tính ra số của tên Con Thú, vì đó là số của tên một người, và số của tên người ấy là sáu trăm sáu mươi sáu. (Kh 13:11-18).

II - Sứ Điệp của Chúa và Đức Mẹ - Mặc Khải Tư đã được Giáo Hội công nhận

1. Sứ Điệp Đức Mẹ Lasalete

Thế gian sẽ có Đức Giáo Hoàng giả, tiên tri giả và nhiều kẻ như thế để phỉnh gạt nhân dân.

H.- Việc Giáo Quyền trở nên những ngôi sao lạc hướng có tiên báo sẽ có bè rối chăng?

T. – Giáo Quyền hiện nay nếu bỏ cầu nguyện bỏ nếp sống đạo đức siêu nhiên, chối các phép lạ, sẽ tự rơi vào bè rối mà con thấy hiện nay trong các Giáo Hội cấp tiến và cả trong những nghệ thuật quá tân thời.

ĐIỀM BÁO VII.- “ Năm 1864 Luxiphe với một số đông các quỷ sẽ được phóng ra khỏi hỏa ngục và sẽ pháĐức Tin dần dần. Cả Đức Tin của những người đã hiến dâng mình cho Chúa. Quỷ sẽ làm cho HỌ ra mùquáng đến nỗi nếu không có ơn Chúa đặc biệt họ sẽ hướng theo tinh thần quỷ Satan, nhiều tu viện mất cảĐức Tin và mất nhiều linh hồn.

H.- Nói rằng năm 1864 có phải là Mẹ có ý đến điềm báo này để được thực hiện cả rồi chăng?

T.- Mới chỉ bắt đầu thực hiện, điềm đó xẩy ra cho tới đời con bây giờ rồi dần dần CÁC GIÁO SỸ BỎ ĐỨCTIN, BỎ CẦU NGUYỆN và quỷ Satan sẽ dùng mọi mưu chước thâm độc để cho các vị bỏ nhiệm vụ TÔNG ĐỒ, và rồi dần dần sống đời rất đê tiện.

H.- Có phải chính bè nhiệm gây ra việc đó chăng?

T.- Phần lớn do bè nhiệm gây nên. Hiện nay bè nhiệm có hầu hết khắp nơi và nhất là trong các nước Pháp, Ý, Bỉ, Mỹ.

H.- Có phải để chống lại những người đã dâng mình cho Chúa nhưng đã bị quỷ Luxiphe mua chuộc màđiềm báo thứ 7 lưu ý Đức Giáo Hoàng phải đề phòng chăng?

T.- Thế gian sẽ có Đức Giáo Hoàng giả, tiên tri giả và nhiều kẻ như thế để phỉnh gạt nhân dân. Đức GiáoHoàng sẽ bảo các tìn hữu đề phòng và đừng tin theo những hạng người ấy.

ĐIỀM BÁO VIII: Trong năm 1865 người ta sẽ suy đồi thậm tệ trong đền Thánh, những bông hoa thơm củaGiáo Hội ở trong các tu viện hư thối và quỷ trở nên Vua trị các tâm hồn, NHỮNG TU VIỆN TRƯỞNG PHẢI THẬN TRỌNG khi nhận các tu sinh. Vì quỷ sẽ dùng mọi mưu mô xảo trá để đưa những người DÂM Ô TỘI LỖI VÀO CÁC DÒNG TU mà làm điều hỗn loạn. Và DÂM Ô đang lan tràn khắp nơi trên mật đất.

H.- Có phải bè nhiệm tổ chức nên những ghê gớm trong nơi Thánh không?

T.- Bè nhiệm sẽ tổ chức cách chung, nhưng chính Satan sẽ hành động trực tiếp trong tâm hồn người phạmtội.

H.- Những dòng tu nào bị thiệt hại hơn cả?

T.- Hầu hết các dòng tu hiện thời.

III - Thực Tế 
Tất cả sự việc này đã, đang và sắp xảy ra, là để ứng nghiệm Kinh Thánh và các Sứ Điệp.

Thế là chúng ta đã rõ, tính từ khi Chúa về trời cho đến ngày Chúa trở lại lần hai thì thế gian này và ngay trong lòng Giáo Hội sẽ xuất hiện "nhiều ngôn sứ giả xuất hiện và lừa gạt được nhiều người".
Bây giờ, chúng ta sẽ đi vào thực tế để tìm hiểu xem sự ứng nghiệm của Kinh Thánh và các Sứ Điệp.

1. Giám mục giả Giuda Iscariot

Ngay từ khi Chúa chọn 12 Thánh Tông Đồ, đã xuất hiện ngôn sứ giả, "giám mục giả ", tiên tri giả rồi. Chúng ta biết ngay đó là "ngôn sứ" Giu đa Iscariot hay còn gọi là "giám mục" Giu đa Iscariot. Kẻ đã phản bội thầy bằng cách bán Thầy mình 30 đồng bạc cho các nhà lãnh đạo Do thái thời đó.

Chúng ta thấy Giu đa Iscariot là tông đồ được Chúa chọn đứng thứ 12 hay còn gọi là đứng cuối. Là ngôn sứ giả hay chúng ta gọi là giám mục giả đầu tiên.

Vậy thì chúng ta phải đề phòng hết sức. Vì là thời cuối nên thật giả lẫn lộn. Trong 12 Tông Đồ đã chẳng có Giuđa (đứng cuối - 12) phản bội Chúa là gì? 
Chúng ta hãy nhớ lại Việt Nam có câu: "Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó". Ai được ơn Chúa soi sáng sẽ nhận ra sự thật này và dám chấp nhận Sự Thật này.

Giả ở đây là được Chúa chọn nhưng lại phản bội Chúa. Giống như kiểu Giáo hoàng được Chúa chọn và được các hồng y bầu lên nhưng lại phản bội Chúa, không làm theo luật Chúa dạy như là: Sự gì Thiên Chúa đã liên kết loài người không được phân ly... mà giáo hoàng cứ phân ly thì ta gọi đó là Giáo hoàng giả.

Tiếp tục với lịch sử của Giáo Hội công giáo, chúng ta thấy đã xuất hiện hàng tá ngôn sứ giả.
Nhiều quá! Ôi con không thể kể hết được, nếu bà con mình muốn biết nhiều xin đọc cuốn: Lịch sử Giáo Hội Công Giáo và cuốn 265 triều đại giáo hoàng tại các nhà sách.

1. 2: Tổng Quát Lịch Sử Giáo Hội

Biên niên sử Giáo hội Công giáo Rôma ghi lại nhiều sự kiện xảy ra trong lịch sử Giáo hội Công giáo Rôma trải dài gần hai nghìn năm, song song cùng lịch sử Kitô giáo.

Các cuộc ly giáo dần dần phá hủy khối hiệp nhất của Kitô giáo, dẫn đến sự xuất hiện của những giáo phái mới (ví dụ: Giáo phái Arianism ra đời năm 318), đặc biệt, hai sự kiện ly giáo lớn nhất đó là Ly giáo Đông - Tây (1054) cho ra đời Giáo hội Chính thống giáo Đông phương và Cải cách Kháng Cách (1517) cho ra đời các giáo phái thuộc khối Tin Lành.

2. Đi vào chi tiết:

2.1: Ngôn sứ giả Alexandrie - Kết quả: Giáo phái Arianism ra đời năm 318

Ngôn sứ giả này chúng ta nên biết là: linh mục Alexandrie, với sự phổ biến tư tưởng của Arius, cuối cùng Giáo phái Arianism ra đời năm 318.
Ngôn sứ giả này đã bị Đức Giám mục Alexander thành Alexandria rút phép thông công năm 318.

Xin đọc bài: 

2.2: Ngôn Sứ Giả Eutyches - Kết quả: Chính thống giáo phương đông ly giáo

Ngôn sứ giả Eutyches, là bề trên của một đan viện ở Constantinople, đã đi quá xa – mà có lẽ do quá khích nên ông đã từ chối “công thức hoà giải” năm 433 và chủ trương nhất tính thuyết. Ông ta cho rằng việc Đức Giêsu đau khổ chỉ mang tính hình thức, giả vờ thôi, chứ thực chất Ngài không đau khổ. Và rốt cuộc, ông cũng cho công cuộc cứu độ của Chúa Kiô tan theo mây khói.
Ông bị rút phép thông công. Eutyches dẫn đến việc Chính thống giáo phương đông ly giáo.

Xin đọc: 

2.3: Ngôn Sứ Giả Clement VII - Kết quả: Giáo hoàng giả

Ngôn sứ giả này có tên là Jules de Médicis. 

Năm 1378: Giáo hoàng giả Clement VII được bầu ra nhằm chống lại Giáo hoàng Urban VI.

Các Hồng Y người Pháp ở Avignon bầu một ngụy Giáo Hoàng (antipope) lên ngôi và lấy danh hiệu là Clement VII để tranh ngôi Giáo Hoàng với Đức Urban VI ở Rôma . Và đây là nguyên nhân gây ra cuộc ly giáo Tây Phương trong Giáo Hội, kéo dài từ năm 1378 cho đến năm 1417 với hai Giáo Hoàng tại chức , một ở Avignon và một ở Roma.


2.4: Ngôn sứ giả Gioan XXIII - Kết quả: Nguy giáo hoàng

Cuộc ly giáo đã xẩy ra vì có hai phe tranh giành ngôi vị Giáo Hoàng trong thời gian sóng gió đó. Trước hết phe các nước nói tiếng Latinh và Pháp ủng hộ Giáo Hoàng Clement VII ở Avignon , đối đầu với phe người Đức và Anh ủng hộ Giáo Hoàng Urban VI ở Rome..

Giáo Hoàng Clement VII mất năm 1394 và người kế vị được bầu lên thay là Benedict XIII, tiếp tục cai trị ở Avignon. Ở bên kia, Giáo Hoàng Urban VI cũng mất năm 1397, và người kế vị được bầu lên là Gregory XII, người Roman. Như vậy trong thời kỳ này có hai giáo hoàng cùng tranh ngôi , một ở Pháp và một ở Rôma

Để giải quyết tình trạng này, các Hồng y và nghị phụ đã họp Công đồng tại Písa ngày 29-3-1409 và bầu Giáo Hoàng mới lấy danh hiệu là Alexander V, nhưng ngài chưa kịp về Roma nhậm chức thì đã mất ở Bologna ngày 3-5-1410, và người kế vị được bầu lên ngày 17-5-1411 đã lấy danh hiệu là Gioan XXIII. Nhưng tân Giáo Hoàng tỏ ra là người không có đủ tài đức và khả năng lãnh đạo Giáo Hội, lại được bầu lên nhờ áp lực và tham vọng cá nhân, nên bị coi là nguy giáo hoàng ( antipope), và buộc phải thoái vị.

Xin đọc: 


2.5: Ngôn Sứ Giả Martin Luther - Kết quả: Sự ly giáo của Tin Lành

Ngôn sứ giả này tên là Martin Luther. Là tu sĩ Dòng Augustine, mục tiêu ban đầu của Luther là kêu gọi cải cách từ bên trong Giáo hội Công giáo La Mã, về sau ông tách rời khỏi Giáo hội Công giáo và thành lập Giáo hội Luther hay còn gọi là Tin Lành.

Xin đọc: Tin lành

2.6: Ngôn sứ giả Tebartz-van Elst - Kết quả: Bị cách chức vì sống xa hoa

Theo hãng tin BBC, giám mục xứ Limburg Franz-Peter Tebartz-van Elst bị giới truyền thông Đức cáo buộc đã chi tới hơn 31 triệu euro (42 triệu USD) để sửa sang dinh thự riêng của mình. Tòa thánh Vatican đã quyết định đình chỉ giám mục này sau khi Giáo hoàng Francis gặp và nói chuyện với ông ta.


2.7: Ngôn sứ giả: Mariano Rampolla - Kết quả: Hồng Y Tam Điểm

Đau đớn thay, ĐGH Leo XIII bị Tam Điểm làm hại. Họ phá chính sách của Ngài qua trung gian Hồng Y Tam Điểm Mariano Rampolla, kẻ sau này suýt nữa được bầu làm Giáo Hoàng kế vị ĐGH Leo XIII. Việc này được phá vỡ nhờ Đức Hồng Y J. de Cozyma đã kịp thời chuyển đến các Hồng Y Mật Viện tờ phủ quyết của Hoàng Đế Francois Joseph nước Áo. Ngài nói rõ: “ Mariano Rampolla là Hồng Y Tam Điểm, người đã được ĐGH Leo XIII chọn làm Quốc Vụ Khanh”. Sau đó Đức Pio X được bầu thay thế. 
Căm phẫn vì bị vỡ kế hoạch, Tam Điểm gây phong trào “Chính, Giáo chia ly”, tách rời trên khắp thế giới từ năm 1905, bằng cách cổ võ các Linh Mục trẻ theo phong trào “Duy Tân” của Mỹ. Tới năm 1914, chúng tổ chức ám sát Hoàng tử Áo vì cha ông làm Tam Điểm mất ngôi Giáo Hoàng… Thời này, ĐGH Pio X lại ra Thông Điệp “Lamentabiliti” lên án thuyết “Duy Tân”.


IV. Cụ thể hiện tại: Kinh Thánh - Sứ Điệp - Thực Tế

Còn nhiều lắm nhưng con xin đơn cử cho bà con mình vài đoạn Kinh Thánh và Sứ Điệp cùng vài ngôn sứ giả chính yếu như trên để chứng minh cho luận điểm tại sao Giáo Hội Công Giáo lại có Đức Giáo Hoàng giả hay còn gọi là ngôn sứ giả vào thời điểm này - Thời của Sách Khải Huyền ứng nghiệm - Thời cuối - Thời tận cùng - Thời cánh chung.

1. Ngôn sứ giả là ai?

Thưa: Ở điềm báo số 5 trong bài giảng về ngày Chúa Quang Lâm con đã từng chia sẻ về Ngôn Sứ Giả như sau:
Sẽ nhiều ngôn sứ giả xuất hiện” ( Mt 24 :11). Đọc đến câu này chúng ta sẽ tự hỏi! Vậy thì ngôn sứ giả là ai? Ngôn sứ là gì? Ai là ngôn sứ? 
Theo Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo. Khi chịu phép rửa tội chúng ta sẽ được tham dự vào 3 chức vụ của Chúa Kitô đó là: tư tế, vương đế và ngôn sứ. 
Từ đó chúng ta suy ra. Vậy ngôn sứ nhỏ nhất là giáo dân, kế đến là linh mục, tiếp theo là giám mục và ngôn sứ cao nhất là giáo hoàng. 
Vì Chúa nói: “sẽ có nhiều ngôn sứ giả xuất hiện và lừa gạt được nhiều người”. ( Mt 24 :11 ). 
Nên dựa vào Lời Chúa chúng ta thấy, sẽ có giáo dân giả, linh mục giả, giám mục giả và giáo hoàng giả. Điều này không phải bây giờ mới có, mới xảy ra nhưng điều này đã có ngay từ thời Cựu Ước và kéo dài đến tận ngày cuối cùng khi Chúa quang lâm.

2. Đức Giáo Hoàng Giả là ai?

Thưa: Đức Giáo Hoàng Giả là ngôn sứ giả mà Thánh Gioan đã đề cập trong Sách Khải Huyền 13: 11-18 là: Ngôn sứ giả phục vụ Con Thú.
Và là Đức Giáo Hoàng Giả mà Đức Mẹ Lasalete đã nhắc đến trong Sứ Điệp Lasalete và Bí Mật Phatima. 
H.- Có phải để chống lại những người đã dâng mình cho Chúa nhưng đã bị quỷ Luxiphe mua chuộc mà điềm báo thứ 7 lưu ý Đức Giáo Hoàng phải đề phòng chăng?
T.- Thế gian sẽ có Đức Giáo Hoàng giả, tiên tri giả và nhiều kẻ như thế để phỉnh gạt nhân dân. Đức GiáoHoàng sẽ bảo các tìn hữu đề phòng và đừng tin theo những hạng người ấy. Trích Sứ Điệp Lasalete tại: Sứ Điệp Đức Mẹ.

3. Sao Đức Giáo Hoàng thời cuối lại liên quan đến Ngôn sứ Giả trong Sách Khải Huyền?

Thưa: Vì tất cả những gì đã được ghi chép trong Kinh Thánh phải được ứng nghiệm. Vì đó là Lời Chúa.

4. Vậy thì Đức Giáo Hoàng nào liên quan đến câu: Ngôn sứ giả phục vụ Con Thú  trong Sách Khải Huyền?

Thưa: Khi một vị giáo hoàng ở thời tận cùng, thời cánh chung hội tụ đủ những gì mà lời tiên tri của Thánh Gioan đề cập trong Sách Khải Huyền thì đó là Ngôn sứ giả phục vụ Con Thú. 

4.1: Kinh Thánh - "Con Thú khác từ đất đi lên". (Kh 13:11).

Thực tế: Con người được sinh ra từ bụi đất.


4.2: Kinh Thánh - "Có hai sừng giống như sừng chiên". (Kh 13:11).


Thực tế: Sừng muốn nói đến các vị lãnh đạo giáo hội công giáo, vì thời Cựu Ước các tư tế khi dâng lễ trên đền thời thì đội mũ có hai sừng. Thời nay các giám mục, hồng y và giáo hoàng đội mũ có hai đầu nhọn nhô lên tượng trưng cho hai cái sừng thời các tư tế thời Cựu Ước.
Suy ra. Các linh mục không phải là vị Ngôn sứ giả mà Thánh Gioan đề cập vì các cha ngày nay không đội mũ. 
Vậy thì Ngôn sứ giả này rơi vào các đức giám mục, hồng y và giáo hoàng. Vì các vị này đội mũ.


4.3: Kinh Thánh - "nói năng như một Con Mãng Xà" (Kh 13:11).

Thực tế: Con mãng xà cũng là con rồng. Các vị vua hay măc áo hình con rồng mà người ta gọi là Long bào - tức là mặc áo Rồng, ý muốn nói lệnh của vua là cao nhất. Trong Giáo Hội Công Giáo, tiếng nói của Đức Giáo Hoàng là có quyền lực nhất. Như vậy, ngôn sứ giả mà Thánh Gioan đề cập ở đây rơi vào ngôi vị giáo hoàng.


4.4: Kinh Thánh - "Ðây là lúc cần phải có sự khôn ngoan. Ai có trí thông minh hãy tính ra số của tên Con Thú, vì đó là số của tên một người, và số của tên người ấy là sáu trăm sáu mươi sáu. (Kh 13:18)


Thực tế: Theo Thánh Gioan thì vị ngôn sứ giả này mang tên của con thú, và tên của ngôn sứ giả này là 666. 
Như vậy, ta cứ thấy vị giáo hoàng nào ở thời cuối cùng này liên quan đến đủ 3 con số 6 thì vị đó là Ngôn sứ giả phục vụ con thú 2 sừng.
Nhưng lại giống sừng chiên và có cái miệng ăn nói của Luxiphe - tức con Mãng xà mà Thánh Gioan mô tả như sau:

"Con Mãng Xà bị tống ra, đó là Con Rắn xưa, mà người ta gọi là ma quỷ hay Xatan, tên chuyên mê hoặc toàn thể thiên hạ; nó bị tống xuống đất, và các thiên thần của nó cũng bị tống xuống với nó". (Kh 12: 9).

(12) "Nó thi hành tất cả quyền bính của Con Thú thứ nhất - có mười sừng và bảy đầu; trên mười sừng đều có vương miện, và trên các đầu có danh hiệu xúc phạm đến Thiên Chúa (Kh 13: 1) - trước mặt Con Thú ấy, và làm cho đất, cũng như những người sống trên mặt đất, thờ lạy Con thú thứ nhất, mà vết tử thương đã được chữa lành. .Nó có hai sừng giống như sừng chiên, và nói năng như một Con Mãng Xà... (Kh 13: 1). Số của tên Con Thú, là số của tên một người, và số của tên người ấy là sáu trăm sáu mươi sáu" (Kh 13:18).

V - Câu trả lời và Sự ứng nghiệm của Lời Kinh Thánh:

1. Cách tính dễ hiểu và dễ nhớ cùng rất thực tế:

A - Tình cờ Đức Giáo Hoàng Phanxicô - tên tiếng anh là Pope Francis sinh năm 1936. 
Đức Giáo Hoàng Phanxicô tên thật là Jorge Mario Bergoglio sinh ngày 17 tháng 12 năm 1936, tại Buenos Aires, nước Argentina, trong một gia đình di dân người Ý có năm người con.

B - Là vị giáo hoàng thứ 266 của Giáo Hội Công Giáo.
Hôm nay, trong ngày lễ Kính thánh Giuse, ngày 19 tháng 03 năm 2013, Đức Giáo Hoàng Phanxicô sẽ cử hành thánh lễ để khai mạc triều đại Giáo hoàng của mình. Nhận dịp này, chúng tôi xin gửi đến quý vị tiểu sử của vị Giáo hoàng thứ 266 của Giáo Hội Công Giáo. Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên đến từ tân thế giới, và cũng là vị Giáo hoàng đầu tiên xuất thân từ Dòng tên.

Gộp lại: 1936 và 266 = 666.

2. Cách tính đúng nhất theo sát Kinh Thánh:

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

Phúc trình về đồng tính luyến ái của Thượng Hội đồng: Đó là công việc đang xúc tiến

Jos. Tú Nạc, NMS
Phúc trình về đồng tính luyến ái của Thượng Hội đồng: Đó là công việc đang xúc tiến chứ không thay đổi học thuyết Giáo Hội

Đối với nhiều người, báo cáo giữa kỳ của Thượng Hội đồng đã dẫn đến như là một bất ngờ gây chấn động. Đặc biệt là việc sử dụng ngôn ngữ khi đề cập đến đồng tính luyến ái. Một số giám mục bày tỏ quan ngại, e rằng ngôn ngữ để lại rất nhiều chỗ mơ hồ thiếu mạch lạc.

ĐHY Wilfrid Napier, Tổng Giám mục Durban, Nam Phi

“Trong một vài phương diện, là sự phản ảnhsai lệch những gì mọi người muốn thấy xảy ra hơn là những gì đang xảy ra hoặc sẽ xảy ra.”

Một số giám mục tuyên bố cách mô tả này không phản ảnh đầy đủ những gì đang được thảo luận trong các cuộc tranh luận.

Trong khi phúc trình nói rằng hôn nhân là giữa một người nam và một người nữ, và cũng nói rằng“không thể phủ nhận những vấn đề đạo đức liên quan đến hôn nhân đồng giới, nó phải được lưu ý rằng có những trường hợp ở đó hỗ trợ lẫn nhau đến độ hy sinh tạo thành một sự hỗ trợ quý báu trong đời sống của hai người.” Phúc trình nói tiếp rằng người đồng tính có những món quà và tài năng cống hiến cho cộng đồng Kitô hữu.

Những người chỉ trích nói rằng tuyên bố khó hiểu và mâu thuẫn. Các Hồng y Nam Phi cho biết đó là điều đáng tiếc đối với tài liệu này, mới chỉ là một bản tóm tắt của các cuộc thảo luận thượng hội đồng và là công việc đang xúc tiến, đang được mô tả bởi một số điểm giống như là một sự thay đổi Học thuyết Giáo Hội.

ĐHY Wilfrid Napier:

“Chúng ta đang làm việc ở một vị trí hầu như không thể cứu vãn. Thông điệp này đã bế tắc - đây là những gì Thượng Hội đồng đang lên tiếng, đây là những gì Giáo Hội Công Giáo lên tiếng - và nó không phải là những gì mà tất cả chúng ta đang nói, không còn cách nào hơn là chúng ta cố gắng sửa chữa - và vấn đề này không may theo kinh nghiệm của tôi với các phương tiện truyền thông, khi nóđược đưa ra công chúng thì không còn cách nào thu hồi lại được.”

Tài liệu này sẽ được sửa đổi trước khi nó được trao cho các giám mục trở lại vào cuối tuần. Các giám mục dự kiến ​​sẽ bỏ phiếu về cách sử dụng các phương tiện diễn đạt cuối cùng của tài liệu này.

Jos. Tú Nạc, NMS

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015

Hình ảnh chụp Thật của Chúa Giêsu và Mẹ Maria

Hình Ảnh Đức Mẹ của MEDJUGORJE ( Mễ Du )


Nguồn gốc của tấm ảnh:

Vào một ngày trong năm 1986 có một khách hành hương trên đường trở về từ đỉnh núi thập giá ở Medjugorje (Nam Tư), với giáng điệu mệt mỏi, bỗng nhiên nghe thấy tiếng gọi sau lưng. Ông quay lại và chỉ thấy cây thánh giá đằng xa trên đỉnh núi. Nhưng tiếng gọi lại tiếp tục vang lên ba lần nữa, ông vẫn không thấy gì, chỉ cảm nhận qua ý tưởng cần phải chụp hình cây thánh giá này. Và ông đã chụp. Sau khi rửa hình, ông rất ngạc nhiên. Thay vì thấy thánh giá trên đỉnh núi Medjugorje thì thấy Đức Mẹ Maria đang bồng bế Chúa Hài Đồng trên cánh tay. 

Thánh gia, phúc lành cho gia-đình và thế giới Nguồn gốc của tấm ảnh hoàn hảo:
Có một người đã chụp hình một vị linh mục trong lúc ngài đang thánh hóa Mình Thánh Chúa. Trong khi rửa hình người thợ chụp ảnh rất ngạc nhiên vì thấy gia đình Thánh hiện ra. (góc trái bên dưới là bàn tay linh mục dâng Mình Thánh Chúa). Vì ông còn nghi ngờ về phép lạ này nên đã gửi tấm ảnh này sang Roma để cho các vị có thẩm quyền xét nghiệm. Sau đó ông nhận được kết quả là tấm ảnh hoàn toàn đúng có sự thật, không phải do kỹ thuật ghép ảnh mà thành. Nếu có ai hỏi tên người chụp ảnh là ai, ở đâu, chụp cách nào mà có, v.v. ..điều đó không quan trọng, bởi tác giả không muốn lộ danh. Chúa Giêsu muốn là tấm ảnh gia đình Nazareth này sẽ là một tấm ảnh rất quý giá, vì nó đem nhiều may lành, hạnh phúc, đức tin, cầu nguyện và chính sự hiện diện của Thầy trong đó. Qua tấm ảnh này Thầy đang thăm gia đình con

Tấm ảnh Chúa Giêsu cùng các tông đồ trên cánh đồng

Một tấm ảnh trong loạt ảnh 1995.

Tấm ảnh Chúa xuất hiện một cách siêu nhiên:
Một người Tây Ban Nha sống ở Brasil, sang Do Thái du lịch và đang nói chuyện say mê với hướng dẫn viên du lịch trước bức Tường Than Khóc về Chúa Giêsu. Hướng dẫn viên chỉ tay vào đường mòn trên cánh đồng gần đó, đường mà thời đó Chúa Giêsu đã đi ngang qua. Người du lịch Tây Ban Nha đã chụp hình con đường mòn, có một thời mang dấu chân vô hình của Chúa để làm kỷ niệm. Sau khi rửa hình của cuộn phim màu, ông khám phá ra một phép lạ: Trong các tấm hình màu thì có một tấm trắng đen duy nhất, tấm này hiện ra hình ảnh Chúa Giêsu cùng ba tông đồ. 

Trong ảnh: Chúa Giêsu đang nói chuyện với thánh Luca. Sau lưng Chúa là thánh Tôma đang lắng tai nghe lời Chúa nói. Ở bìa hình tay phải có nửa cánh tay đang cầm gậy. Có thể đó là tông đồ Bartholomäus.

Bí tích Thánh Thể

Đức Quốc năm 1932. Trong khi tân linh mục Palmatius Zilligen đang dâng Mình Thánh Chúa, một giáo dân chụp hình. Sau khi rửa ảnh thì thấy có Chúa trên thập giá hiện ra.

Trong ảnh: Chúa chịu nạn hiện ra, khi cha dâng Mình Thánh Chúa và đọc : „Khi bị nộp và tự hiến sự khổ hình, Người cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra trao cho các môn đệ và nói: Tất cả các con cầm lấy mà ăn, này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con.“




Biến cố vào ngày 08 tháng năm 2005 (ngày lễ của các bà Mẹ) tại Denkingen – Đức Quốc

Sau bao nhiêu lần muốn chụp cảnh mặt trời lặn qua cửa sổ phòng tắm nhà ông mà không thành, vì nhiều lý dó khác nhau. Ông Hans-Werner Baur đã tình cờ chụp được tấm ảnh Đức Mẹ hiện ra đúng vào ngày lễ các bà mẹ ngày 08.05.2005 . Khi coi lại ảnh qua máy tính, ông rất kinh ngạc vì thấy Đức mẹ hiện ra trên mặt trời.

Thoạt tiên ông định im lặng, nhưng vì đứa con gái nhỏ cũng đã thấy hình này trên màn ảnh của ông và đã thông báo cho bà mẹ biết.

Ông cho biết thêm, trong phòng tắm không hề có tượng ảnh nào cả. tại hành lang chỉ có một tượng Đức Mẹ chắp tay thôi, hoàn toàn trông khác với Đức Mẹ trong ảnh. Như vậy không thể có hiện tượng phản chiếu quang học trong Camera.

Đứa con gái nhỏ 8 tuổi của ông cho biết cũng được nghe thấy tiếng của người đàn ông kêu gọi: „hãy theo Ta“, đúng vào ngày ông chụp ảnh. 

Đây là hình ảnh chứng tỏ Đức Mẹ Maria hiện ra trên một nhà thờ đạo Chính Thống Thánh Maria Coptic ( chứng tỏ Chúa và Mẹ vẫn nhìn đến các tôn giáo anh em ) ở Ai Cập năm 1968, thuộc thành phố Zeitoun, ngoại ô của thủ đô Cairo, Egypt.


Còn đây là tấm ảnh của Caroline và Stephen Gray vô tình chụp được tại bờ biển phía Đông Newquay, Cornwall-một vùng núi hiểm trở.
Nguồn : tổng hợp



Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

Năm 2014 chứng kiến Kitô hữu bị ngược đãi dữ dội nhất tại Trung Quốc

Năm 2014 chứng kiến Kitô hữu bị ngược đãi dữ dội nhất tại Trung Quốc
Khó mà thấy có năm nào khiến Kitô hữu ở Trung Quốc đau khổ hơn năm 2014. Từ đầu năm chính quyền ở tỉnh đông nam Chiết Giang bắt đầu đập phá và tháo dỡ thánh giá tại hàng trăm nhà thờ.

Khó mà thấy có năm nào khiến Kitô hữu ở Trung Quốc đau khổ hơn năm 2014. Từ đầu năm chính quyền ở tỉnh đông nam Chiết Giang bắt đầu đập phá và tháo dỡ thánh giá tại hàng trăm nhà thờ.

Hồi tháng 7, một tòa án cách Bắc Kinh 500 km về phía nam tại tỉnh Hà Nam tuyên án mục sư Zhang Shaojie thuộc Phong trào Yêu nước Tam Ngã (TSPM) Tin lành được nhà nước chấp thuận 12 năm tù vì tội gây rối “trật tự công cộng”. Sau khi đơn kháng án của ông bị bác bỏ vào tháng 8, mục sư Bob Fu thuộc China Aid ở Mỹ phát biểu với ucanews.com rằng án phạt dành cho ông Zhang là “hình phạt và sự ngược đãi nặng nhất dành cho chức sắc giáo hội hay mục sư kể từ Cách mạng Văn hóa”.

Năm ngoái kết thúc bằng vụ bắt giam nhà hoạt động cứu trợ Kitô hữu người Mỹ gốc Hàn Peter Hahn, người bị buộc tội biển thủ hồi tháng 12, bốn tháng sau vụ bắt giam và điều tra một đôi vợ chồng Kitô hữu người Canada vì tội “ăn cắp tài liệu mật của nhà nước”. Cả hai vụ này chỉ là phần nổi của tảng băng giữa lúc họ nhắm vào các nhà hoạt động Kitô hữu trên biên giới Trung Quốc-Bắc Triều Tiên gần đây. Được biết các nhà thờ bị buộc đóng cửa và hàng trăm thừa sai Hàn Quốc không được cấp visa mới, buộc phải rời khỏi nơi đó.

Đối với nhiều Kitô hữu ở Trung Quốc, đây là năm khó khăn nhất kể từ khi Đặng Tiểu Bình cho phép Kitô giáo tái hoạt động sau cuộc Cách mạng Văn hóa của chủ tịch Mao vào giữa thập niên 1980.

Nhưng điều đó không có nghĩa là chính quyền Trung Quốc đang cố ý nhắm vào Kitô hữu chỉ vì niềm tin của họ. Và mặc dù trải qua một năm đầy khó khăn như thế, nhưng có thể Kitô giáo ở Trung Quốc có được triển vọng lâu dài hơn và đầy hy vọng hơn bao giờ hết.

Tại Chiết Giang, mọi người suy đoán không biết Bắc Kinh có ra lệnh cho chính quyền tỉnh đàn áp việc truyền bá đức tin Kitô giáo trong một vùng nằm trong số những nơi có đông Kitô hữu nhất nước này không. Có khả năng chính quyền thực hiện nghiêm khắc đường lối cứng rắn hơn của Chủ tịch Tập Cận Bình và việc ông chú trọng đến “chế độ pháp quyền” từ khi ông nhậm chức vào tháng 3-2013.

Trong nhiều năm qua, các thương gia Kitô hữu giàu có trong thành phố Ôn Châu đã nỗ lực giúp xây dựng nhà thờ lớn hơn và kiên cố hơn nhờ có mối quan hệ với các quan chức cấp cao, được thể hiện qua nhà thờ khổng lồ Sanjiang, nhà thờ bị phá hủy hoàn toàn vào tháng Tư, nhưng chỉ sau khi các cuộc thương lượng giữa lãnh đạo nhà thờ và chính quyền xin tháo dỡ những phần nhà thờ xây không đúng quy định, không đạt được sự đồng thuận.

Nói cách khác, các nhà chức trách Chiết Giang từng làm việc với những người giàu có tài trợ cho giáo hội cho phép xây dựng nhà thờ đột nhiên thay đổi động cơ chính của họ khi ông Tập chú trọng đến chế độ pháp quyền. Động cơ đó được thấy rõ ràng: chính quyền trung ương của ông Tập thẳng tay sa thải hàng loạt quan chức trong đảng Cộng sản, đặc biệt là những quan chức phạm tội tham nhũng hay không làm đúng chức trách theo luật Trung Quốc.

Dường như đây là vấn đề lớn nhất đối với Kitô giáo ở Trung Quốc, và là lý do chính đằng sau vụ tấn công trực tiếp nhằm vào tôn giáo này, nhưng gần như chắc chắn không phải. Cho đến nay chưa thấy có mối quan hệ trực tiếp nào giữa việc ngược đãi Kitô hữu dữ dội hơn và ông Tập.

Trong văn kiện nội bộ quan trọng duy nhất của đảng Cộng sản mà người ngoài xem được kể từ khi ông Tập lên nắm quyền là văn kiện 9, ban hành vào mùa xuân 2013, có đưa ra những lời cảnh báo chống lại nền dân chủ tự do của phương Tây, xã hội dân sự và nghề viết báo, nhưng không đề cập đến Kitô giáo hay tôn giáo.

Ông Tập là lãnh đạo nghiêm khắc nhất Trung Quốc trong nhiều thập niên qua. Ông đã lệnh cho bộ máy cầm quyền khổng lồ của mình thực hiện pháp luật nghiêm hơn trong khi đẩy mạnh chủ nghĩa dân tộc hơn. Năm ngoái tròn một năm ông lên nắm quyền, và Kitô giáo gần như không phù hợp với chính sách nào trong hai chính sách chính của ông, hai chính sách hướng tới củng cố đảng Cộng sản không được nhiều người ủng hộ. Do đó, Kitô giáo nhận thấy mình bị áp lực giữa lúc Trung Quốc ngày càng tập trung vào bình ổn xã hội và trở lại các giá trị của Trung Quốc.

Trên biên giới giữa Trung Quốc với Bắc Triều Tiên, giống như ở Chiết Giang, chính quyền nghiêm khắc hơn trong việc thực thi pháp luật, họ đàn áp thẳng tay các nhóm giúp người tị nạn trốn khỏi Bắc Triều Tiên, chỉ qua con đường duy nhất là Trung Quốc. Tình cờ là gần như tất cả các nhóm giúp người Bắc Triều Tiên trong vùng biên giới nhạy cảm này lại là Kitô hữu.

Trước đây, chính quyền Trung Quốc thường khoan dung với các nhóm này nhưng dưới thời ôngTập thì khắt khe hơn, theo Sokeel Park, giám đốc nghiên cứu và chiến lược của Liberty in North Korea, tổ chức phi chính phủ ở Seoul giúp người tị nạn Bắc Triều Tiên định cư tại Hàn Quốc.

“Nếu nằm trong tình cảnh của các nhà chức trách Trung Quốc, anh sẽ thấy có những người nước ngoài chạy quanh làm những việc họ không nên làm trong các vùng biên giới hòa nhập vào dòng người tị nạn Bắc Triều Tiên, và còn có khả năng trở thành mối đe dọa lâu dài đối với chính quyền trung ương Trung Quốc”, ông phát biểu với ucanews.com hôm thứ Hai.

Dưới chính quyền ông Tập, dường như các quan chức cấp dưới hăng hái hơn nhiều trong việc phân định và quản lý Kitô giáo, biện pháp được đảng Cộng sản áp dụng đầu tiên khi ông Đặng thành lập các tổ chức nhà nước quản lý tôn giáo vào giữa thập niên 1980, lúc ông cho phép tôn giáo tái hoạt động tại Trung Quốc.

Năm ngoái chứng kiến nhiều vụ nhắm vào các giáo hội tại gia hơn, và ở các tỉnh ít có thay đổi trong phương pháp này hơn. Trên báo chí nhà nước còn đưa tin đảng Cộng sản đang lập một danh sách các nơi thờ tự “hợp pháp”, chính quyền còn dự định xây dựng “thần học Kitô giáo Trung Quốc”.

Mặc dù mức độ khoan dung hay bất khoan dung của Trung Quốc đối với Kitô giáo có lúc dường như bất định, dấu hiệu cho thấy họ sẽ xử lý trong tương lai hiện nay được xác định rõ ràng hơn, đó là những ai tuân theo các quy định nghiêm khắc hơn sẽ được khoan dung, còn những ai không tuân theo sẽ bị nhắm đến.

Đối với Giáo hội Công giáo và cơ cấu tập trung quyền ở đó, có thể điều này sẽ gây thêm nhiều vấn đề và khó khăn trong cách giải quyết vì Vatican và Bắc Kinh tiếp tục các cuộc đàm phán giữ kẽ nhắm đến chấm dứt việc tranh cãi về tấn phong giám mục.

Tuy nhiên nơi cộng đồng Kitô giáo ở Trung Quốc, dường như chính quyền Trung Quốc không thể làm gì nhiều để đàn áp sự trỗi dậy của Kitô giáo, thiếu một lệnh cấm rõ ràng như trong thời Mao.

Mặc dù Chiết Giang ra lệnh đập phá và tháo dỡ thánh giá tại 426 nhà thờ tính đến giữa tháng 12, theo tin cho biết Trung Quốc đã xây mới và nâng cấp 1.000 nhà thờ mỗi năm trong 5 năm qua. Như thế gần như chắc chắn có thêm hàng trăm nhà thờ ở Trung Quốc vào cuối năm 2014 so với đầu năm.

Trong đó có nhà thờ mới ở trung tâm Côn Minh, tỉnh Vân Nam, hiện nay là nhà thờ lớn nhất khu vực tây nam Trung Quốc.

Tương tự vào tháng 11, nhà máy Kinh Thánh lớn nhất thế giới ở Nam Kinh phát hành bản in thứ 125 triệu. Tổng giám đốc Liu Lei cho ucanews.com biết trong năm 2015 số lượng sẽ nhiều hơn.

Trong khi đó, mọi ước đoán về số tín hữu Tin lành và Công giáo ở Trung Quốc, dù khác nhau thế nào đi nữa, tất cả đều cho thấy có sự gia tăng hiếm thấy về số lượng tín hữu so với nhiều nước khác không có sự gia tăng số thành viên trong cộng đoàn.

Năm ngoái có thể là một năm kinh hoàng đối với Kitô giáo ở Trung Quốc, có lẽ là năm xấu nhất trong một giai đoạn nào đó. Nhưng tương lai lâu dài dường như không ảnh hưởng gì đến việc Chủ tịch Tập thích hay không thích.
ucanews.com