Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo Hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo Hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2015

Lời tiên tri của Thánh Malachy

VỊ GIÁO HOÀNG ÁP CUỐI CỦA THỜI SAU HẾT THEO LỜI TIÊN TRI CỦA THÁNH MALACHY? 

Vào Tuần Thánh năm 2010 này, quyền lực bóng tối đã khai hỏa cuộc tổng tấn công đánh thẳng vào Vatican, vào vị lãnh đạo giáo hội Công giáo là ĐGH Biển Đức XVI, sau cả chục năm các mặt trận truyền thông bùa phép bủa vây đánh vòng quanh ở nhiều nơi và nhiều phía. Và sau đó là các cơ quan từ tầm cỡ lớn đến các tờ báo ở mỗi địa phương đều đồng loạt tiền pháo hậu xung liên tiếp trong nhiều ngày, có bài bản, theo đúng chiến thuật và chiến lược trong một chiến dịch tổ chức qui mô như nhận định của giáo sư Elizabeth Lev. 
Tự nhiên nhiều người nhắc tới lời tiên tri của thánh Malachy được ghi lại vào năm 1139 khi viếng Roma, về 112 vị giáo hoàng, mà ĐGH Biển Đức là vị áp cuối cùng. 
Đức Giáo Hoàng áp cuối cùng, tức thứ 111, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy là "Vinh Quang của Cành Ô-liu" (Gloria Olivæ, the Glory of the Olive). Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo Hội trong thời kỳ khởi đầu cuộc bách hại.
Điều kỳ diệu là Chúa Giêsu nói lời tiên tri về thời tận cùng cũng trên núi Ô-liu. Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo hội trong thời kỳ khởi đầu sự bách hại mà Chúa Giêsu đã nói đến trong Kinh thánh. Vị Giáo hoàng này sẽ có liên quan tới cây/cành Ô-liu vẫn được xem là dấu chỉ của hòa bình, hay cũng có thể liên quan tới cây, trái ô-liu. Dòng thánh Benedict nói rằng vị Giáo hoàng này đến từ nhà dòng của họ, vì dòng còn được biết như là "những người của hòa bình". Thánh Benedictô đã nói tiên tri rằng trước ngày tận cùng của thế giới, người của nhà dòng ngài sẽ chiến thắng dẫn dắt Giáo hội chống lại sự dữ. 
Đức Giáo Hoàng thứ 112 cuối cùng, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy là "Phêrô thành Rôma". Lời tiên tri viết về vị Giáo hoàng thứ 112 này: "Trong thời kỳ bách hại sau cùng của Giáo hội La mã, Phêrô thành Rôma sẽ lên ngôi, người sẽ chăn dắt đoàn chiên giữa những cơn bách hại; sau khi một thành phố 7 đồi (tức Rôma) bị phá huỷ và một vị Quan Án kinh hoàng sẽ xét sử muôn dân." 
LẤY TÊN LÀ BÊNÊĐICTÔ
Những ngày sửa soạn bầu giáo hoàng kế vị Đức Gioan Phaolô II vào tháng 4 năm 2005, tôi tự nhiên nhớ lại hình như đâu đây có lời tiên tri về các vị giáo hoàng. Thế là tôi đã tìm trong mạng lưới và thấy ngay. Những lời tiên tri này là của thánh Malachy vào năm 1139. Ngài là giám mục giáo phận Armagh bên Ái nhĩ lan. Năm đó ngài có dịp về Roma bái kiến ĐGH Innocentê II. Trong thời gian ở đó, ngài đã thấy một thị kiến về 112 vị giáo hoàng sau đó, liền viết ra và trao cho ĐGH Innocentê II. 
Mỗi vị giáo hoàng đều được nói tới qua một câu bằng tiếng La-tinh diễn tả đặc điểm. Những lời tiên tri về các vị giáo hoàng trước đây khá đúng cách này hoặc các khác. Lời tiên tri về ĐGH Gioan Phaolô II là "De Labore Solis" nghĩa là Mặt Trời Lam Lũ hay Nhật Thực. Quả thực cuộc đời của ngài ra đi không ngừng nghỉ cho đến những ngày già cả bệnh tật cuối cùng.
Buổi tối ngày 18 tháng 4 năm 2005, ngày đầu tiên bầu giáo hoàng mà chưa có kết quả, tôi ngồi đọc những lời tiên tri trong danh sách 112 vị giáo hoàng, thì ĐGH Gioan Phaolô II là thứ 110. Và đức giáo hoàng kế vị sẽ là thứ 111, áp cuối cùng trong danh sách. 
Đây là vị giáo hoàng áp cuối vào thời sau hết? Câu nói trong lời tiên tri thánh Malachy về vị giáo hoàng này là "Vinh Quang Ngành Ô-liu" (Gloria Olivae, the Glory of the Olive). Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo hội trong thời kỳ khởi đầu sự bách hại mà Chúa Giêsu đã nói đến trong Kinh thánh. Vị Giáo hoàng này sẽ có liên quan tới cây/cành Ô-liu vẫn được xem là dấu chỉ của hòa bình. Dòng thánh Benedictô nói rằng vị Giáo hoàng này đến từ nhà dòng của họ, vì dòng còn được biết như là "những người của cành ô-liu". (The Benedictine order traditionally said this Pope would come from their order). Thánh Benedictô (Biền Đức) đã nói tiên tri rằng trước ngày tận cùng của trật tự thế giới, nhà dòng của ngài sẽ chiến thắng dẫn dắt Giáo hội chống lại sự dữ. 
Đọc xong tôi tự hỏi liệu những lời trên đây sẽ nghiệm tới cỡ nào. Vì trong các hồng y kỳ này có ai là từ dòng Bênêdictô đâu! 
Vậy là ngày hôm sau, 19 tháng 4, vào lúc 5:45 chiều giờ Roma (tức lúc 10:45 sáng giờ New Orleans), tôi mở TV thì thấy khói trắng đang bốc ra từ ống khói trên nóc nhà nguyện Sistine. Mọi người đang tuốn vào công trường thánh Phêrô để chứng kiến giây phút lịch sử. Đúng 6:05 thì chuông nhà thờ thánh Phêrô vang lên reo vui. Và giây phút quan trọng đã đến: đúng 6:40 chiều (giờ Roma) thì đức hồng y Jorge Medina Estivez tiến ra bao lơn đền thờ thánh Phêrô tuyên bố: "Habemus Papam" nghĩa là "Chúng Ta Đã Có Giáo Hoàng." Nhiều người hồi hộp chờ đợi, nghĩ rằng vị giáo hoàng mới chắc thế nào cũng lấy tên là Gioan Phaolô III để theo bước chân vị mục tử đang quá nổi tiếng. 
Lời tuyên bố tiếp: vị giáo hoàng mới là đức hồng y Josef Ratzinger, lấy tên là Benedictô XVI. 
Nghe vậy tôi bèn giật bắn người lên. Sao lần này lời tiên tri lại có thể đúng quá như thế. Chỉ khác là đức hồng y Josef Ratzinger không phải là người thuộc dòng Benedictô, nhưng lại lấy tên là Benedictô để nói lên cái tinh thần của thánh Benedictô chăng?
Thế là biết bao nhiêu suy diễn đầy tràn trên các mạng lưới. Rằng sắp đến ngày tận thế! Vì chỉ còn một vị nữa là hết danh sách! Câu nói tiên tri về vị giáo hoàng cuối cùng, tức thứ 112 là "Phêrô thành Rôma." "Trong thời kỳ bách hại sau cùng của Giáo hội Rôma, Phêrô thành Rôma sẽ lên ngôi, người sẽ chăn dắt đoàn chiên giữa những cơn bách hại; sau khi một thành phố 7 đồi (tức Rôma) bị phá huỷ và một vị Quan Án kinh hoàng sẽ xét sử muôn dân."
AI LÀ MALACHY?
Thánh Malachy sinh năm 1094 với tên gọi O'Margair trong một gia đình quý phái ở thành phố Armagh, Bắc Ái Nhĩ Lan. Ngài được rửa tội lấy tên La-tinh là Maelmhaedhoc, nhưng ngài được biết đến với tên gọi là Malachy. Sau một thời gian dài học hành, ngài quyết định thay vì sẽ làm công việc giống như cha ngài đang làm, ngài có ước muốn trở thành một linh mục Công giáo, thụ phong linh mục vào năm 1119 ở tuổi 25. Ngài tiếp tục theo học thần học ở Lismore. Năm 1127, ngài trở thành cha giải tội cho Cormac MacCarthy, hoàng tử của Desmond, người sau này trở thành Vua của Ái Nhĩ Lan. Ngài được phong làm Tổng Giám mục Armagh vào năm 1132. Thánh Malachy qua đời trong lúc hành hương Rôma lần thứ hai vào năm 1148. Ngài được Đức Thánh Cha Clemente III phong thánh vào ngày 6/7/1199. Điều kỳ diệu trong những lời tiên tri của Thánh Malachy là việc tiên đoán về ngày và giờ chết của chính ngài, và đã xảy ra đúng như thế. 
Thánh Malachy có ơn chữa lành giúp người bệnh tật. Ngoài ra, ngài còn có ơn bay bổng và ơn tiên tri thấu thị. Nhiều phép lạ đã xảy ra liên quan tới những mục vụ của Ngài. Ngài còn được ban cho ơn tiên tri, mà một trong nhưng lời tiên tri quan trọng nhất ngài nhận được trong một thị kiến ở Rôma vào năm 1139 liên quan đến những Vị Giáo Hoàng sau này - từ Đức Giáo Hoàng Innocent II cho tới thời kỳ tận cùng của thế giới. Ngài đã làm thơ để mô tả mỗi một Đức Giáo Hoàng, và đã trao bản viết tay cho Đức Giáo Hoàng Innocent II, và kể từ đó lời tiên tri của Ngài không được nhắc tới cho mãi đến năm 1590, thì được in ra sách, và đã trở thành điểm tranh luận nóng bỏng về tính chất nguyên thuỷ và chính xác của lời tiên tri. Theo như lời tiên tri của Thánh Malachy, thì chỉ còn 2 Đức Giáo Hoàng nữa sau Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì tới tận cùng thời gian, mà Đức Giáo Hoàng cuối cùng sẽ mang danh hiệu "Thánh Phêrô thành Rôma."
Thánh Malachy viết những lời tiên tri về các Đức Giáo Hoàng với những danh hiệu liên quan tới tên gọi nơi gia đình, nơi sinh, huy hiệu hay văn phòng đang nắm giữ trước khi được bầu lên Giáo hoàng. Một số đoạn viết là những lời tiên tri đa dạng được viết rất tài tình bởi lối dùng chữ. Thí dụ như, Đức Giáo hoàng Piô II làm Giáo Hoàng trong vòng 26 ngày vào năm 1503, được Thánh Malachy mô tả là "từ một người đàn ông nhỏ". Tên gia đình của ngài là Piccolomini, tiếng Ý nghĩa là "người đàn ông nhỏ". Thỉnh thoảng, quá khứ cá nhân của Đức Giáo Hoàng là một phần của biệt hiệu được viết bởi Thánh Malachy. Đức Giáo Hoàng Clement XIII (1758-1769) là người có những liên hệ với chính quyền Ý của bang Umbria và có huy hiệu là một bông hoa hồng, đã được Thánh Malachy mô tả với biệt hiệu là "Hoa hồng của Umbria."
Thời gian qua đi đã chứng tỏ cho những người nghi ngờ về lời tiên tri của thánh Malachy, vì những lời tiên tri của ngài đã thực sự chính xác đến độ làm ngạc nhiên người ta. 
CHAO ĐẢO HAY ĐỊNH HƯỚNG?
Hình như thiên hạ thích suy diễn về ngày tận thế. Ngay thời trước 1975 ở Việt Nam, lâu lâu dân chúng lại đổ đi mua nến vì sẽ có tối trời ba ngày! Rồi tới thời điểm chuyển sang thiên niên kỷ mới năm 2000, thiên hạ lại càng nhiều xôn xao. 
Danh sách chỉ có 112 không có nghĩa là không còn vị nào nữa. Thánh Malachy chỉ nhìn thấy tới đó thì sao? Mà thời tận cùng là thời kỳ gì? Tận cùng các vị giáo hoàng từ Âu châu? Tận cùng thời giáo hội bị điêu đứng, bị chao đảo, bị tấn công từ nhiều phía? Cứ nhìn vào những "bàn tay lông lá" của những "bạo chúa" truyền thông những năm qua và những ngày vừa qua thì rõ. Muốn dán nhãn hiệu xấu hay tốt, bảo thủ hay cấp tiến là cứ tự tiện khuynh đảo hành xử.
Tại sao đức tân giáo hoàng không lấy tên là Gioan Phaolô III mà lại chọn là Bênêđictô XVI? Điều này có liên hệ gì tới cành ô-liu hay tinh thần thánh Biển Đức và dòng Biển Đức? 
Nhiều người đã tiết lộ là đức hồng y Josef Ratzinger mỗi lần tĩnh tâm thường tới nhà dòng Monte Cassino ở gần Roma, là nơi thánh Biển Đức đã lập dòng vào thế kỷ thứ 6. Thánh Biển Đức đã khơi lên trong giáo hội một trào lưu nội tâm là đường hướng tốt nhất để vượt qua những chao đảo và bảo toàn được Giáo Hội vào thế kỷ thứ 6. 
Thế là mọi người đều tìm đọc bài giảng của đức hồng y Josef Ratzinger trưởng hồng y đoàn trong ngày khai mạc cơ mật hội. Và vỡ lẽ ra rằng đây không ngờ mà lại là một bài giảng mang tính chất tiên tri và viễn kiến mở hướng đi cho giáo hội đầy tin tưởng lạc quan trong những ngày sắp tới.
"Chúng ta không thể cứ mãi là những trẻ thơ trong đức tin, trong trạng thái vị thành niên. Cứ mãi là những trẻ thơ trong đức tin nghĩa là gì? Thánh Phaolô trả lời: nghĩa là “bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý.” (Eph 4:14). Một diễn tả rất thời sự!
Biết bao nhiêu làn gió chủ thuyết mà chúng ta đã biết đến trong những thập niên cuối cùng… Con thuyền nhỏ tư duy của nhiều Kitô hữu đã thường bị đánh bởi những đợt sóng này - trôi giạt từ thái cực này sang thái cực khác: từ Mác Xít tới chủ nghĩa tự do, tới mức chủ nghĩa tự do phóng túng; từ chủ nghĩa tập thể đến chủ nghĩa cá nhân; từ chủ nghĩa vô thần tới chủ nghĩa duy huyền bí tôn giáo mơ hồ; từ chủ nghĩa vô tín đến chủ nghĩa hỗn tạp và vân vân. Nhiều giáo phái mới được đẻ ra mỗi ngày và xảy ra điều mà Thánh Phaolô đã nói về sự lường gạt con người và sự tinh quái nhắm lôi kéo con người đến chỗ lầm lạc (x Eph 4:14). Có một đức tin rõ ràng, theo kinh Tin Kính của Giáo Hội, lại bị gán cho nhãn hiệu cuồng tín. Trong khi chủ nghĩa tương đối, nghĩa là để chính mình “bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý” dường như lại là cách thức hành xử duy nhất thức thời. Người ta đang thành lập một chế độ độc tài của chủ nghĩa tương đối, nó không nhìn nhận điều gì là chung kết và để cho cái tôi và ý muốn của mình là mẫu mực duy nhất."
TIN VUI CHIẾN THẮNG VINH QUANG CỦA CÀNH Ô-LIU (Chúa nhật 4c Mùa Phục sinh)
Vậy là câu trả lời đã khá rõ. Trong những tù mù xáo trộn bị sóng đánh trôi dạt, hãy tìm vào đời sống nội tâm và bầu khí phụng vụ thánh thiêng như tinh thần của thánh Biển Đức. Đây là lời quả quyết của chính đức hồng y Ratzinger trong bài giảng trên:
"Trái lại chúng ta có một mẫu mực khác, đó là Con Thiên Chúa, là người thật. Ngài là thước đo của chủ nghĩa nhân bản đích thật. Đức tin “trưởng thành” không phải là một đức tin trôi theo những làn sóng thời thượng hay mốt mới. Đức tin với vóc dáng đầy đủ và trưởng thành là một đức tin ăn rễ sâu xa nơi tình bằng hữu với Chúa Kitô."
Tin Mừng tuần này trả lời như vậy. Đang khi quyền lực bóng tối xem chừng tung hoành lấn lướt và nhiều người nghĩ Chúa như ngủ quên để mặc, thì Chúa có mặt ra tay và giõng giạc tuyên bố: 
27 “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi.28 Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.” (Gioan 10:27-28)
Trong lúc thiên hạ bàn tán về một ngày tận thế mơ hồ nào đó, trong lúc nhân loại càng lún sâu vào xô xát giẫy giụa do những xung khắc tham vọng quyền lực hay những bùa phép toàn cầu của "trật tự mới", khiến lòng người chao đảo, tâm hồn tín hữu xôn xao mất hướng đi, ĐGH Biển Đức XVI đang mở hướng đối thoại hòa giải và hóa giải. Mọi người đang chờ đợi một vị lãnh đạo, với cành ô-liu vinh thắng, tiếp tục hô to như ĐGH Gioan Phaolô II: "Đừng Sợ!" Vì chính Chúa là con đường và là người dẫn đường. Dù chỉ với con người dòn mỏng, ĐGH Gioan Phaolô II đã làm thay đổi thế giới và lòng người thời đại. Dù với bàn tay run rẩy của tuổi già bệnh tật, ĐGH Gioan Phaolô II vẫn thu hút cả mấy triệu người trẻ trong mỗi dịp đại hội giới trẻ thế giới. Và ngay dù đã nằm xuống, xác thân bất động, con người với ơn thánh đó đã kéo biết bao triệu người tuốn về Roma trong ngày vỗ cánh bay lên. Đó là sức mạnh của niềm tin và của con tim nhân ái xóa bỏ được mọi làn ranh.
"Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa." (Gioan 14:12)
TỪ MỘT THỜI BỊ NGUYỀN RỦA TỚI MỘT THỜI ĐƯỢC CHÚC PHÚC 
Sắp sửa tận thế hay sửa soạn một thời ân sủng? Bài giảng mang chất tiên tri này đã xướng lên ngay từ đầu: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh này" (Lc 4:21), là "công bố một năm hồng ân của Chúa." 
Bênêdictô từ tiếng La-tinh có nghĩa là Được Chúc Phúc, Được Ban Hồng Ân. Ở đây chữ "Lòng Thương Xót Chúa" (Divine Mercy) được nhắc đi nhắc lại. Bởi chính Đức Kitô đã bằng lòng mang lấy "toàn bộ gánh nặng của sự ác, toàn thể quyền năng hủy diệt của nó." Ngài đã trả giá cho những hồng ân đó bằng nhận lấy "ngày báo phục của Thiên Chúa" (Is 61:2)
“Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá”(1 Pet 2:24). Và Thánh Phaolô đã viết cho các tín hữu Galát : “Đức Ki-tô đã chuộc chúng ta cho khỏi bị nguyền rủa vì Lề Luật, khi vì chúng ta chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa, vì có lời chép: Đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ! Như thế là để nhờ Đức Giê-su Ki-tô, các dân ngoại cũng được hưởng phúc lành dành cho ông Áp-ra-ham, và để nhờ đức tin, chúng ta nhận được ơn Thiên Chúa đã hứa tức là Thần Khí.” (Gal 3:13).
Như thế, thay vì nhiều người cứ nghĩ tới ngày "bị nguyền rủa," bằng chính những hành động tự hủy của con người như thảm cảnh Nhà Tháp Đôi ở New York hay những vụ ôm bom tự sát để "đóng cửa trần gian," ĐGH Biển Đức mang danh hiệu đầy chất tiên tri "Được Chúc Phúc" đang mở ra một thời hồng ân của cuộc chiến thắng do chính Chúa Giêsu dẩn đầu. Đây lại chẳng phải là một lời tiên tri trong một viễn kiến đầy tin tưởng, hy vọng và tươi sáng hay sao?
“Hãy can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian.” (Gioan 16:33)
Lm. Trần Cao Tường
---
Xin mời xem Những Lời Tiên Tri Liên Quan Tới 112 Vị Giáo Hoàng, 
LỜI TIÊN TRI CỦA THÁNH MALACHY VỀ CÁC ĐGH THỜI CUỐI CÙNG
Lời ngỏ: Đây là bản dịch về lời tiên tri của thánh Malachy về các Đức Giáo Hoàng thời cuối cùng. Bài này không có ý gây lo sợ, bởi vì những người tin vào Chúa Kitô thì không có gì phải sợ, và chính Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đã nhất mạnh: "Đừng sợ!". Cần cầu nguyện để xin Thiên Chúa soi sáng khi phân định lời tiên tri này.
Thánh Malachi sinh năm 1094 với tên gọi O'Margair trong một gia đình quý phái ở thành phố Armagh, Bắc Ái Nhĩ Lan. Ngài được rửa tội với tên gọi Maelmhaedhoc. Tên Maelmhaedhoc được La-tinh hóa và ngài được biết đến với tên gọi là Malachy. Sau một thời gian dài học hành, ngài quyết định thay vì sẽ làm công việc giống như cha ngài đang làm, ngài có ước muốn trở thành một linh mục Công giáo. 
Ngài được thụ phong vào năm 1119 ở tuổi 25. Ngài tiếp tục theo học thần học ở Lismore. Năm 1127, ngài trở thành cha giải tội cho Cormac MacCarthy, hoàng tử của Desmond, người sau này trở thành Vua của Ái Nhĩ Lan. Ngài được phong làm Tổng Giám mục Armagh vào năm 1132. Thánh Malachi qua đời trong lúc hành hương Rôma lần thứ hai vào năm 1148. Ngài được Đức Thánh Cha Clemente III phong thánh vào ngày 6/7/1199. Điều kỳ diệu trong những lời tiên tri của Thánh Malachi là việc tiên đoán về ngày và giờ chết của chính ngài, và đã xảy ra đúng như thế. 
Thánh Malachi có ơn chữa lành giúp người bệnh tật. Ngoài ra, ngài còn có ơn bay bổng và ơn tiên tri thấu thị. Nhiều phép lạ đã xảy ra liên quan tới những mục vụ của Ngài. Ngài còn được ban cho ơn tiên tri, mà một trong nhưng lời tiên tri quan trọng nhất ngài nhận được trong một thị kiến ở Rôma vào năm 1139 liên quan đến những Vị Giáo Hoàng sau này - từ Đức Giáo Hoàng Innocent II cho tới thời kỳ tận cùng của thế giới. Ngài đã làm thơ để mô tả mỗi một Đức Giáo Hoàng, và đã trao bản viết tay cho Đức Giáo Hoàng Innocent II, và kể từ đó lời tiên tri của Ngài không được nhắc tới cho mãi đến năm 1590, thì được in ra sách, và đã trở thành điểm tranh luận nóng bỏng về tính chất nguyên thuỷ và chính xác của lời tiên tri. Theo như lời tiên tri của Thánh Malachi, thì chỉ còn 2 Đức Giáo Hoàng nữa sau Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì tới tận cùng thời gian, mà Đức Giáo Hoàng cuối cùng sẽ mang danh hiệu "Thánh Phêrô thành Rôma".
Thánh Malachi viết những lời tiên tri về các Đức Giáo Hoàng với những danh hiệu liên quan tới tên gọi nơi gia đình, nơi sinh, huy hiệu hay văn phòng đang nắm giữ trước khi được bầu lên Giáo hoàng. Một số đoạn viết là những lời tiên tri đa dạng được viết rất tài tình bởi lối dùng chữ. Thí dụ như, Đức Giáo hoàng Piô II làm Giáo Hoàng trong vòng 26 ngày vào năm 1503, được Thánh Malachi mô tả là "từ một người đàn ông nhỏ". Tên gia đình của ngài là Piccolomini, tiếng Ý nghĩa là "người đàn ông nhỏ". Thỉnh thoảng, quá khứ cá nhân của Đức Giáo Hoàng là một phần của biệt hiệu được viết bởi Thánh Malachi. Đức Giáo Hoàng Clement XIII (1758-1769) là người có những liên hệ với chính quyền Ý của bang Umbria và có huy hiệu là một bông hoa hồng, đã được Thánh Malachi mô tả với biệt hiệu là "Hoa hồng của Umbria".
Thời gian qua đi đã chứng tỏ cho những người nghi ngờ về lời tiên tri của Thánh Malachi, vì những lời tiên tri của ngài đã thực sự chính xác đến độ làm ngạc nhiên người ta. Có tất cả 112 vị Giáo hoàng với những chân tính được liệt kê kể từ Đức Giáo Hoàng Celestine II năm 1143 cho tới thời tận cùng của thế giới.
10 GIÁO HOÀNG SAU CÙNG
1. Đức Giáo Hoàng Piô X 1903-1914, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Lửa Cháy", tên thật là Giuseppe Melchiarre Sarto. Trong thời gian ngài làm Giáo hoàng, lục điạ Âu châu bùng cháy cuộc chiến tranh như đám lửa cháy lan từ quốc gia này tới quốc gia khác cho mãi tới năm 1914, chiến tranh đã bao phủ toàn bộ lục điạ Âu châu.
2. Đức Giáo Hoàng Benedict XV (1914-1922) biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Tôn Giáo Tiêu Tàn", tên thật là Giacomo Della Chiesa. Đức Giáo Hoàng Benedict XV được biết đến là Đức Giáo Hoàng của chiến tranh, vì lửa chiến tranh bất hòa làn tràn khắp ra thế giới. Ngài đã chứng kiến chủ nghĩa cộng sản đi vào Liên Bang Sô Viết khiến đời sống tôn giáo bị tiêu huỷ, chiến tranh thế giới thứ nhất gây thương vong cho hàng triệu người Kitô giáo như trong cuộc tàn sát ở cánh đồng Flanders và ở nhiều nơi khác.
3. Đức Giáo Hoàng Piô XI (1922-1939), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Đức tin sắt son", tên thật là Achilee Ratti. Là vị Giáo hoàng chứng kiến thế giới chuẩn bị cho một hậu quả của một cuộc chiến để chấm dứt các cuộc chiến. Ngài chứng kiến phong trào phá thai ở Âu châu ra đời, và sự phát triển của chủ nghĩa vô thần được giảng dạy cho các giới trẻ trong các trường đại học và đầu độc để loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi đầu óc những người công dân của một trật tự thế giới mới. 
4. Đức Giáo Hoàng Piô XII (1939-1958), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Mục tử thiên thần", tên thật là Eugento Pacelli. Ngài đã dành thời giờ trong thời gian đầu làm giáo hoàng trong lãnh vực ngoại giao của tòa thánh Vatican. Ngài là sự chọn lựa tự nhiên theo sau Đức Giáo hoàng Piô XI vì không có vị lãnh đạo giáo hội nào có đủ kinh nghiệm điều hành giáo hội, và với các lãnh đạo quốc gia trong cuộc xung đột thế giới.
5. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958-1963), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Chủ chăn và thuỷ thủ", tên thật là Angelo Giuseppe Roncalli. Đức Gioan 23 là tổng Giám Mục Areoplis của Palestine trong khoảng thời gian khai sinh quốc gia Dothái, năm 1953 Đức Giáo Hoàng Piô XII phong ngài làm Hồng Y của Venice. Ngài được xem là vị Giáo hoàng được yêu mến nhất trong các Đức Giáo Hoàng cận đại. Những sử học gia tin rằng ngài được Thánh Malachi tiên tri là thuỷ thủ vì thành phố Venice là một thành phố nước. Thế nhưng cũng có thể khi ngài là tổng Giám mục của Palestine, ngài được coi là một "thuỷ thủ rao giảng" bởi vì miền đất của dân ngoại và Hồi giáo có liên quan trong lời tiên tri là "biển cả".
6. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI (1963-1978), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Hoa của các loài Hoa" tên thật là Giovanni Battista Montini, Ngài làm Giáo hoàng 15 năm. Danh hiệu của ngài là ba bông hoa huệ Iris.
7. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I (1978-1978 - 33 ngày), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "trăng bán nguyệt", tên thật là Albino Buciani, là vị Giáo hoàng chăn dắt Giáo hội trong thời gian ngắn nhất là 33 ngày. Khi ngài được bầu Giáo hoàng ngày 26/8/1978, là thời gian có trăng hình bán nguyệt. Trong thời gian ngài làm Giáo hoàng, sự nổi dậy của các nhóm Hồi giáo quá khích chống lại thế giới dân ngoại bùng nổ. Tổ chức OPEC dầu hỏa ra đời, và các quốc gia Ảrập dùng vũ khí dầu hỏa của họ để chống lại các quốc gia kỹ nghệ. Dấu hiệu của Hồi giáo là hình "trăng bán nguyệt". 
8. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II (1978-2005), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Nhật thực" hay cũng còn có nghĩa là "Mặt trời lam lũ". Ngài là hoàng tử người Balan của Giáo hội Công giáo. Ngài là vị Giáo hoàng đã có công trong việc làm cho chủ nghĩa cộng sảng sụp đổ. Trong suốt 25 năm làm Giáo hoàng, ngài đã tông du nước ngoài trên 100 lần và cái chết lịch sử của Ngài đã lôi kéo trên 3 triệu người tham dự tang lễ. Ngày ngài sinh ra ngày 18/5/11920 vào buổi sáng có hiện tượng nhật thực trên toàn cõi Âu châu, và ngày ngài qua đời cũng có nhật thực bán phần trên vùng trời Bắc Mỹ. 
9. Đức Giáo Hoàng áp cuối cùng, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi là "Vinh Quang Cành Ô-liu". Điều kỳ diệu là Chúa Giêsu nói lời tiên tri về thời tận cùng cũng trên núi Ô-liu. Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo hội trong thời kỳ khởi đầu sự bách hại mà Chúa Giêsu đã nói đến trong Kinh thánh. Vị Giáo hoàng này sẽ có liên quan tới cây/cành Ô-liu vẫn được xem là dấu chỉ của hòa bình, hay cũng có thể liên quan tới cây, trái ô-liu. Dòng thánh Benedict nói rằng vị Giáo hoàng này đến từ nhà dòng của họ, vì dòng còn được biết như là "những người của hòa bình". Thánh Benedictô đã nói tiên tri rằng trước ngày tận cùng của thế giới, nhà dòng của ngài sẽ chiến thắng dẫn dắt Giáo hội chống lại sự dữ. 
10. Đức Giáo Hoàng thứ 112 cuối cùng, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Phêrô thành Rôma". Lời tiên tri viết về vị Giáo hoàng thứ 112 này: "Trong thời kỳ bách hại sau cùng của Giáo hội La mã, Phêrô thành Rôma sẽ lên ngôi, người sẽ chăn dắt đoàn chiên giữa những cơn bách hại; sau khi một thành phố 7 đồi (tức Rôma) bị phá huỷ và một vị Quan Án kinh hoàng sẽ xét sử muôn dân." 

Trở ngại với những lời tiên tri được liệt kê trong sách Những Lời tiên tri của Thánh Malachi xuất bản bởi Thomas A. Nelson, một nhà sách xuất bản Công giáo thì bản nguyên thuỷ của Thánh Malachi chỉ có 111 Đức Giáo Hoàng, chứ không phải là 112 như trong bản màu nâu xuất bản sau này. Trong khoảng giữa ấn bản thứ nhất và ấn bản sau này thì vị Giáo hoàng 112 là Phêrô Thành Rôma được thêm vào trong lời tiên tri của Thánh Malachi.
Theo Thanhlinh.net

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2015

Sứ Điệp cho Mùa Chay: Phạm tội thật dễ dàng làm sao

Thứ Hai ngày 24 tháng 1 năm 2011 lúc 10 giờ tối

Hỡi con gái yêu quý của Cha, hôm nay cuối cùng thì con cũng hiểu những nguy hiểm gây ra bởi Satan khi con mất cảnh giác. Cầu nguyện với Chúa Cha Hằng Hữu Cha Ta qua chuỗi kinh Lòng Thương Xót là rất quan trọng trong việc thánh hoá linh hồn con.

Hỡi con gái yêu dấu của Cha, tội lỗi thì rất khó tránh khỏi. Càng khó khăn hơn nữa để đạt được những ân sủng đặc biệt của Cha hơn là để xa lánh tội lỗi dưới bất kỳ hình thức nào. Khi con được mời gọi để thực thi Sứ Vụ Thánh Thiêng này, con sẽ luôn là mục tiêu của Satan, kẻ luôn tìm mọi cơ hội để tạo ra sự tiêu cực trong cuộc sống của con. Hắn sẽ sử dụng những người chung quanh con như là phương tiện để tấn công, đó là lý do tại sao con phải luôn cảnh giác với hắn. Đừng bao giờ để hắn thắng cuộc vì khi hắn thắng cuộc hắn sẽ làm ô uế các linh hồn và gây ra những đau đớn thống khổ khủng khiếp. Hắn sẽ làm cho tình bạn tan rã, gây ra sự hiểu lầm, thất vọng và gieo rắc những suy nghĩ sai lạc trong tâm trí những ai là mục tiêu của hắn. Rồi khi con cái Cha cảm thấy tội lỗi do những sự yếu đuối của họ vì trót sa chân vào cám dỗ thì họ sẽ nghiệm thấy một nỗi thống khổ lớn lao, nỗi đau đớn tuyệt vọng và mất tập trung trong cuộc sống của họ.

Hỡi con cái của Cha, các con sẽ luôn bị cám dỗ để phạm tội. Sự hoàn thiện trong linh hồn của các con thì vô cùng khó khăn để đạt được và đòi hỏi một sự kỷ luật và quyết tâm to lớn từ phía các con. Nếu các con đối mặt với cám dỗ của Satan và phạm tội thì các con phải ngay lập tức cầu nguyện với hết cả tâm hồn mình và tìm kiếm ơn tha thứ.

Việc xưng tội thường xuyên là một Bí Tích bị hiểu lầm quá nhiều. Chỉ bằng việc xưng tội hàng tuần thì linh hồn các con mới có thể ở trong tình trạng ân sủng thường xuyên. Khi linh hồn các con được thánh hoá bằng cách này và qua việc cầu nguyện hàng ngày, chỉ khi đó các con mới có thể giữ gìn để không cho Tên Lừa Dối lại gần mình.

Cảm giác tội lỗi

Nếu các con phải chịu đựng cảm giác tội lỗi như là kết quả của một hành vi tội ác, bất kể tội ấy nghiêm trọng thế nào trong mắt Cha Ta, thì cũng đừng băn khoăn nhiều. Hãy quay trở lại với Ta, cởi mở tâm hồn mình ra và nài xin ơn tha thứ của Ta. Cảm giác tội lỗi là một thứ cảm giác tiêu cực. Và trong khi cảm giác này được xem như là một hình thức hướng dẫn lương tâm các con thì thật là không lành mạnh nếu cứ ở lại mãi trong trạng thái này. Hãy nài xin những ân Sủng, thông qua lời cầu nguyện, nhằm đạt được sự trong sáng cần thiết trong linh hồn để phục vụ Cha. Sự kiên nhẫn là quan trọng. Đừng bao giờ để tội lỗi khiến cho các con phải xa rời Cha. Cảm giác tội lỗi không bao giờ được phép đứng giữa để ngăn cản các con tìm kiếm ơn cứu rỗi.

Hỡi các con, hãy nhớ rằng vì tội nguyên tổ, các con sẽ luôn trở thành nạn nhân cho những cuộc cám dỗ của Satan. Qua việc cầu nguyện, ăn chay và tận hiến cho Bí Tích Thánh Thể mà các con sẽ trở nên gần gũi với Cha hơn. Điều này đòi hỏi phải có thời gian.

Hỡi các con, giờ đây hãy ra đi và ghi nhớ một điều - đừng bao giờ lo sợ quay trở lại với Cha khi các con đã trót phạm tội. Đừng bao giờ bối rối nài xin ơn tha thứ khi các con thật lòng thống hối. Nhưng cũng phải nhớ rằng khi các con không ăn năn thống hối thực lòng thì các con sẽ lôi kéo Tên Lừa Dối hết lần này đến lần khác và rồi linh hồn các con sẽ sa vào bóng tối. Bóng tối lôi kéo bóng tối. ánh sáng lôi kéo ánh sáng. Cha là ánh Sáng.

Hãy quay trở về với Cha ngay và hãy để cho Tình Yêu của Cha soi chiếu những linh hồn lầm lạc đáng thương của các con. Hỡi các con, Cha yêu thương các con rất nhiều, và khi các con hướng tâm hồn mình về với Cha, cho dù các con có cảm thấy cô đơn thế nào thì các con sẽ không bao giờ bị bỏ rơi.

Hãy ra đi trong bình an và tình yêu,

Đấng Cứu Thế Thánh Thiêng của các con

Chúa Giêsu Kitô

Chuyển dịch từ nguồn: thewarningsecondcoming.com

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2015

Hắn đã được sai đến để phá hủy tan tành Giáo Hội của Ta

Hắn đã được sai đến để phá hủy tan tành Giáo Hội của Ta (08/03/2013)

Thứ sáu, ngày 8 tháng 3 năm 2013 lúc 14:05

Hỡi con gái yêu dấu của Ta, Satan đang điên cuồng chống lại Giáo Hội của Ta, và sự tàn phá của hắn vẫn tiếp tục lan tràn ngay bên trong Giáo Hội. Kẻ mạo danh xảo quyệt, kẻ đã kiên nhẫn ẩn mình nơi kín đáo, sẽ sớm công bố triều đại của hắn trước những tôi tớ được thánh hiến đáng thương của Ta, những người không hề mảy may nghi ngờ gì. Đau thương mà hắn sẽ gây ra cho Ta thật là quá sức chịu đựng, đã thế, cuộc thanh trừng do sự dữ tạo ra nơi đỉnh cao quyền lực của Giáo Hội sẽ lên đến đỉnh điểm dưới sự cai trị của hắn. Hắn đã rất cẩn thận sắp đặt cho vị thế của hắn, và chẳng bao lâu nữa người ta sẽ chứng kiến phong thái khoa trương của hắn ngay trong nơi Tòa Thánh cao trọng. Khi mới bắt đầu, thói kiêu căng ngạo mạn và tính tự phụ của hắn được che đậy cẩn thận trước thế giới. Đối với thế giới bên ngoài, người ta sẽ nghe tiếng thở phào nhẹ nhõm khi nghe loan báo về triều đại của hắn với tư cách là người đứng đầu Giáo Hội của Ta.

Thân Mình Ta chính là Giáo Hội, nhưng hắn không dốc lòng trung thành với Ta, Chúa Giêsu Kitô, vì hắn không có chút tình yêu nào dành cho Ta. Hắn dốc lòng trung thành với con thú, và hắn sẽ khinh thường những tôi tớ được thánh hiến của Ta biết bao, những người sẽ ủng hộ hắn.

Hắn là kẻ dám ngồi trong Thánh Điện của Ta, nhưng là kẻ mà tên ác quỷ sai đến, hắn không thể rao giảng Sự Thật vì hắn không đến từ Ta. Hắn đã được sai đến để phá hủy tan tành Giáo Hội của Ta trước khi hắn thốt ra những lời phỉ báng từ miệng lưỡi độc ác của hắn.

Thân Mình Ta là Giáo Hội. Giáo Hội của Ta sẽ tồn tại, nhưng chỉ có những ai rao giảng Sự Thật và trung thành với Lời Chí Thánh của Thiên Chúa mới là thành phần trong Giáo Hội của Ta trên mặt đất. Vì sự sỉ nhục cuối cùng mà hắn sẽ tỏ ra để chống lại Ta, Chúa Giêsu Kitô từ Ngai Tòa Thánh Phêrô, cuối cùng thì các con sẽ hiểu được Sự Thật.

Hàng Giáo Phẩm trong Giáo Hội của Ta không được phép xem thường Sách Sự Thật được báo trước cho ngôn sứ Đaniel vào thời cuối, vì nội dung của Sách Sự Thật sẽ làm cho những tôi tớ được thánh hiến yêu dấu của Ta phải khiếp sợ khi họ nhận ra rằng Ta đang phán truyền Sự Thật.

Ngôn sứ giả - kẻ thể hiện như là người

lãnh đạo Giáo Hội - đã sẵn sàng để mặc những bộ phẩm phục vốn không dành cho hắn.

Hắn sẽ xúc phạm đến Bí Tích Thánh Thể và chia rẽ Giáo Hội rồi lại tiếp tục gây chia rẽ để phá hủy Giáo Hội.

Hắn sẽ thực hiện mọi nỗ lực để loại bỏ những người trung thành với vị Giáo Hoàng Benedict XVI yêu dấu của Ta, người đã được chính Ta cắt đặt.

Hắn sẽ loại bỏ tận gốc rễ tất cả những ai trung thành với Giáo Huấn của Ta và ném họ cho thú dữ.

Những hành động đó của hắn sẽ không thể hiện ra ngay lập tức, nhưng chẳng bao lâu sau đó người ta sẽ thấy những dấu chỉ khi hắn bắt đầu tìm kiếm sự ủng hộ của những nhà lãnh đạo có thế lực trên thế giới và những người có địa vị cao.

Khi sự ghê tởm này bắt đầu bén rễ thì những biến đổi sẽ bất ngờ xảy ra. Vì ngay sau đó, hắn sẽ ra một thông báo về việc hình thành một Giáo Hội Công Giáo hiệp nhất, bằng cách liên kết với tất cả những tín ngưỡng và những tôn giáo khác.

Hắn sẽ lãnh đạo tôn giáo toàn cầu mới và sẽ cai trị các tôn giáo của dân ngoại. Hắn sẽ đón nhận chủ nghĩa vô thần bằng cách loại bỏ sự phân biệt mà hắn nói là điều rất cần thiết trong việc theo đuổi cái được gọi là quyền con người. Tất cả tội lỗi, trong mắt Thiên Chúa, sẽ được coi là chấp nhận được bởi thứ giáo hội mới bao gồm tất cả mọi tôn giáo này.

Bất kỳ một ai dám thách thức hắn sẽ bị lùng bắt và bị trừng phạt. Những linh mục, giám mục và hồng y phản đối hắn sẽ bị rút phép thông công và sẽ bị tước hết mọi tước hiệu. Những người khác sẽ bị ngược đãi và bị bách hại và nhiều linh mục sẽ phải bỏ trốn.

Đối với những tôi tớ được thánh hiến đáng thương của Ta, những người giờ đây nhận ra Tiếng Nói của Ta, hãy lắng nghe Ta khi Ta ra sức đánh động linh hồn các con để ban cho các con niềm an ủi. Ta sẽ không bao giờ kêu gọi các con khước từ Giáo Hội của Ta vì Giáo Hội chính là Ta, Đấng Cứu Thế yêu dấu của các con, Đấng đã lập nên Giáo Hội. Ta đã hiến dâng chính Thân Mình Ta như là Hy Tế Sống Động để cứu chuộc các con. Các con đã được trao cho trách nhiệm để làm chứng cho Ta hầu cứu những linh hồn mà các con dạy dỗ và dẫn dắt.

Tất cả những gì các con có thể làm là tín thác vào Ta và tiếp tục phụng sự Ta. Các con không được phép đón nhận bất kỳ thứ giáo lý nào mà người ta bày ra cho các con và ngay lập tức các con nhận biết thứ giáo lý ấy không theo đúng những Giáo Huấn của Ta. Các con phải làm những gì trái tim các con mách bảo, nhưng hãy biết rằng, giai đoạn này sẽ gây cho các con nỗi đau sâu sắc và nỗi đau buồn khủng khiếp mà các con cảm nhận được, khi các con chứng kiến Giáo Hội của Ta bị xúc phạm, sẽ khiến cho các con phải khóc. Nhưng các con phải nhận ra được bản chất của những sự dối trá mà người ta bày ra cho các con - một sự sỉ nhục đối với cái chết của Ta trên Thập Giá.

Sự phá huỷ này có thể dẫn đến sự sụp đổ cơ cấu của Giáo Hội. Việc thay đổi và sửa chữa những ngôi thánh đường và việc xây mới một đền thờ của tôn giáo toàn cầu, tất cả sẽ diễn ra ở Rôma.

Hãy biết chắc rằng, cũng như Đền thờ của Ta bị xúc phạm thế nào thì Ta, Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế của toàn thể nhân loại, cũng sẽ bị xúc phạm và bị loại bỏ một cách không thương tiếc như vậy.

Chúa Giêsu của các con
Trích Sách Sự Thật

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

Giáo Hội của Ta đang bị tấn công, Thân Mình Ta sẽ bị đóng đinh lần nữa

Giáo Hội của Ta đang bị tấn công, và điều này có nghĩa là Thân Mình Ta sẽ bị đóng đinh lần nữa như đã được tiên báo (03/03/2013)

Chủ nhật, ngày 3 tháng 3 năm 2013 lúc 11:45

Hỡi con gái yêu dấu của Ta, đừng sợ hãi những đợt tấn công mà người ta đang gia tăng để chống lại con, vì Ta luôn ở với con trong từng giây phút để làm cho con mạnh mẽ hơn. Ta cực lòng khi phải nói với con rằng, con sẽ phải chịu rất nhiều lời lăng mạ khiến con phải đau khổ vì thời điểm trong Kế Hoạch Cứu Độ của Ta.

Vì đây chính là thời điểm mà những người Công Giáo nhiệt thành sẽ bị thử thách trong đức tin và lòng trung thành của họ đối với Ta, không chỉ thế, đây cũng là thời điểm thử thách lớn lao nhất đối với tất cả mọi Kitô hữu ở khắp mọi nơi trên thế giới.

Đối với những ai cáo buộc con tội dị giáo, Ta nói rằng, Ta, Chúa Giêsu Kitô không thể nào nói sai sự thật vì Ta là Sự Thật. Ta không thể nào lừa dối các con vì đó là điều không thể. Hãy nhớ rằng Thân Mình Ta chính là Giáo Hội. Và Giáo Hội của Ta trên mặt đất đang bị tấn công, điều này có nghĩa là Thân Mình Ta sẽ bị Đóng Đinh một lần nữa như đã được tiên báo. Và Ta muốn nói rằng Thân Mình Ta sẽ không còn hiện diện nữa khi mà những giới chức trong Tòa Thánh tại Rôma loại bỏ Bí Tích Thánh Thể. Điều này sẽ trở thành một thực tế và các con buộc phải quay lưng lại với nó.

Ta mời gọi các con hãy cầu nguyện cho tất cả những con cái Thiên Chúa, cầu nguyện cho tất cả những tôi tớ được thánh hiến của Ta, bao gồm cả những ngôn sứ giả lầm lạc. Tuy nhiên, Ta không bao giờ mời gọi các con cầu nguyện cho tên phản Kitô, vì đó là điều không thể.

Hỡi tất cả các con, hãy tỉnh thức, và hãy lắng nghe điều Ta phải nói với các con. Các con không được hoảng hốt, tuyệt vọng hay đánh mất niềm hi vọng, vì sự ghê tởm này sẽ là nỗi thống khổ cuối cùng mà tất cả con cái Thiên Chúa sẽ phải chứng kiến và phải chịu đựng trước khi Ta trở lại.

Đó sẽ là ngày Vinh Quang Trọng Đại, ngày Vui Mừng Trọng Đại, và Cuộc Quang Lâm của Ta sẽ chấm dứt sự dữ, vốn gây đau thương cho thế giới.

Thay vì sợ hãi, hãy vui mừng hoan hỷ. Các con phải mong đợi Cuộc Quang Lâm của Ta, vì Ta mang đến Thiên Đàng Mới như đã hứa với các con.

Khi các con vác Thánh Giá của Ta, điều này tất nhiên luôn khó khăn. Thời đại các con đang sống hôm nay mang trong nó một loại hình khổ giá mà hầu hết mọi Kitô hữu đều cảm thấy rất khó để có thể chịu đựng được - nỗi đau thương của họ quá lớn.

Những linh hồn đáng thương, những người không tin rằng Ta nói Sự Thật qua những Thông Điệp này, họ phải tự hỏi lại chính mình. Các con có tin Kinh Thánh và những lời tiên tri có trong Kinh Thánh không? Các con có tin rằng có tên phản Kitô và tin vào những mặc khải về ngôn sứ giả, kẻ sẽ chiếm lấy Ngai Tòa Thánh Phêrô bằng phương thế hết sức độc ác không? Nếu tin, vậy thì các con hãy nhìn nhận rằng đây chính là lúc những biến cố ấy xảy ra trước mắt các con. Nó không phải là biến cố trong tương lai - mà nó đang xảy ra hiện nay. Hãy nhìn nhận biến cố này với lòng can đảm và hãy chạy đến Ta với trọn niềm tín thác vì Ta yêu thương các con. Ta mong các con hãy tỉnh thức. Các con không được tránh né Sự Thật.

Điều ghê tởm giờ đây đã bắt đầu. Khi các con từ chối Chén của Ta, các con ngăn cản Ta trong việc cứu rỗi các linh hồn mà Ta mong mỏi để hoàn tất Giao Ước mà Ta đã hứa với Cha Ta. Ta chúc lành cho các con. Ta mong muốn các con mở rộng tâm hồn để Ta có thể đưa các con vào Vương Quốc đầy Vinh Hiển của Ta.
Chúa Giêsu của các con

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2015

Cuối cùng Ta cũng đã ấn định được một ngày cho Cuộc Cảnh Báo

Thiên Chúa Cha: Ta là Cha yêu dấu của các con, cuối cùng Ta cũng đã ấn định được một ngày cho Cuộc Cảnh Báo. Chỉ mình Ta mới biết được ngày này (01/04/2013)

Thứ hai, ngày 01 tháng 04 năm 2013, lúc 17:22

Hỡi con gái rất yêu dấu của Ta, những sự Hy Sinh mà Ta, Cha yêu dấu của các con, đã thực hiện vì lợi ích của nhân loại đang đến hồi kết thúc.

Vì Tình Yêu Tinh Tuyền của Ta đối với con cái Ta, Ta đã được thực hiện mọi nỗ lực để cứu họ khỏi những tai ương của tội lỗi. Giờ đây, trận chiến cuối cùng để cứu tất cả con cái của Ta trong mọi tôn giáo và mọi sắc tộc, đang ở giai đoạn cuối cùng.

Ai trong số các con sẽ bảo vệ Sự Thật, khi mà Sự Thật đã được ban cho các con từ rất lâu rồi? Ai trong số các con sẽ đón nhận Lời Chí Thánh của Ta khi ngày hôm nay Lời Ta được ban cho các con trong Sách Sự Thật?

Những kẻ gào thét phản đối ngôn sứ của Ta sẽ phải câm lặng, để con cái Ta có thể lắng nghe Tiếng Nói ngọt ngào của Con Yêu Dấu Ta, khi Tiếng Nói này lôi kéo các linh hồn vào nơi trú ẩn an toàn, để chuẩn bị họ cho Thiên Đàng Mới trên trái đất.

Ta mời gọi tất cả con cái Ta, những người mạnh mẽ, những người yếu đuối, những người đơn thân cô thế, người thiếu hiểu biết và những người lòng đầy kiêu ngạo, những người nghĩ rằng họ biết Sự Thật về những lời tiên báo mà Ta đã hứa ban trong nhiều thế kỷ qua, hãy đáp lại lời mời gọi này từ Vương Quốc Thiên Đàng của Ta.

Ta là Cha yêu dấu của các con, cuối cùng Ta đã ấn định một ngày cho Cuộc Cảnh Báo. Chỉ mình Ta mới biết được ngày này. Chỉ mình Ta mới biết được Ngày Trọng Đại này khi mà Thánh Tử của Ta sẽ trở lại để công bố Vương Quốc mà Ta đã hứa ban cho Người.

Ngày Cảnh Báo, được ban cho các con như một Tặng ân trọng đại, sẽ tách biệt nhân loại ra làm hai bên. Một bên sẽ đón nhận Lòng Thương Xót vô biên của Con Ta. Một bên sẽ lẩn trốn và bỏ chạy. Họ tin rằng họ có được sức mạnh để chống lại sự can thiệp của Thiên Chúa nhằm cứu rỗi họ. Điều mà họ không biết được là Ta sẽ theo đuổi họ cho đến Ngày Sau Hết để cứu họ khỏi nỗi kinh hoàng tận cùng, mà từ nơi đó họ không còn có lối thoát.

Hỡi con cái của Ta, đừng khiếp sợ Ta. Chính vì Tình Yêu của Ta dành cho các con mà Ta đã cho phép cuộc bách hại cuối cùng xảy ra khi mà những tai ương tỏ ra rõ ràng như chưa từng có trước đây.

Tất cả các Giáo Hội thuộc Kitô Giáo sẽ bị triệt hạ về mặt tinh thần. Một số Giáo Hội sẽ bị phá hủy. Trên tất cả các giáo hội khác, Giáo Hội Công Giáo sẽ phải chịu đau khổ nhiều nhất, vì Giáo Hội Công Giáo sẽ bị ô uế từ trong gốc rễ.

Thứ dịch bệnh này sẽ là đáng sợ, nhưng Giáo Hội do Thánh Tử của Ta sáng lập trên trái đất sẽ sống sót qua tai ương này, Ngai Tòa Thánh Phêrô đã bị báng bổ và phần lớn sự tàn phá sẽ diễn ra bên ngoài Rôma.

Hãy trỗi dậy, hỡi tất cả những ai đã nguyện trung thành với Thánh Tử của Ta. Hãy liên kết với nhau và cầu nguyện để sự ô uế không thể tàn phá những linh hồn đã dâng trọn cuộc đời để phụng sự Thánh Tử của Ta. ôi, họ sẽ bị cám dỗ hết sức mạnh mẽ bởi những lề luật mới, những lề luật mà họ tin là được ban xuống bởi Trời, qua Ngai Tòa Thánh Phêrô ở Rô-ma. Tâm hồn họ sẽ thổn thức đau buồn biết bao khi sự rối loạn nổ ra. Họ sẽ khóc trong đau buồn biết bao khi hàng trăm ngàn những tôi tớ được thánh hiến bị rút phép thông công. Chỉ khi đó họ mới giơ tay lên và kêu cầu Thánh Tử của Ta dẫn dắt họ.

Thần Khí của Ta sẽ bảo bọc nhân loại và quy tụ tất cả con cái Ta vào Vương Quốc của Con Ta. Các con phải chờ đón lời mời gọi này và hãy đón nhận với tấm lòng biết ơn, những Tặng ân sẽ được ban cho các con như là những khí giới mà các con cần để chiến đấu chống lại sự dữ, vốn sẽ bao phủ thế giới trong bóng tối.

Những người hiền lành và khiêm nhường, những người yêu mến Ta, Cha của họ, và những người nhìn nhận Thiên Tính của Con Một yêu dấu của Ta, Chúa Giêsu Kitô, sẽ được quy tụ trước hết. Tên của họ đã được ghi trong Sổ Trường Sinh, họ sẽ được mời gọi và họ sẽ trị vì như những nhà lãnh đạo, cùng với các thánh, trong mười hai chi tộc ít-ra-en.

Sau đó, những linh hồn lạnh nhạt sẽ được soi sáng và gánh nặng của các con sẽ nặng hơn. Chính nhờ lời cầu nguyện của các con mà những người lẩn tránh Ta sẽ được đem về trong sự che chở của Ta.

Con thú, kẻ thu mình trong sự sợ hại trước mặt Ta, sẽ không thể giành được linh hồn của con cái Ta một cách dễ dàng. Ta sẽ thực hiện mọi Hành Động của Lòng Thương Xót, mọi phép lạ và mọi sự can thiệp, vì lợi ích của con cái Ta.

Những ai ngăn cách Ta với con cái Ta sẽ phải chịu một sự trừng phạt khủng khiếp. Mặc dầu Ta yêu thương tất cả con cái Ta, nhưng Ta sẽ không ngần ngại ngăn chặn những người mà nếu như Ta cho phép, họ sẽ cướp mất Vương Quốc của Ta, Vương Quốc mà tất cả gia đình Ta sẽ cư ngụ trong đó.

Hãy biết lo sợ trước Cơn Thịnh Nộ của Ta. Măc dù Cơn Thịnh Nộ của Ta đã được kiềm chế và Lòng Kiên Nhẫn của Ta là vô biên, nhưng Ta sẽ giáng sự trừng phạt khủng khiếp xuống trái đất, cho dù sự trừng phạt này phá hủy phần lớn trái đất. Những hành động độc ác của con người chống lại anh em đồng loại như một căn bệnh tàn phá cơ thể con người, nó phá hủy những tế bào khỏe mạnh. Nếu căn bệnh này không được ngăn chặn và nếu Ta không cắt bỏ những phần cơ thể bị nhiễm bệnh thì Ta không thể làm cho toàn bộ cơ thể được lành lặn trở lại.

Chỉ khi được lành lặn trở lại, thì Thân Thể khỏe mạnh của Giáo Hội mới có thể đến được với cổng Vương Quốc Mới của Ta trên trái đất. Những ai đã tự tránh xa trước cám dỗ trong việc chối bỏ Thánh Tử của Ta, sẽ cảm thấy dễ dàng hơn để trở nên xứng đáng trong việc kết hiệp nên một với Thánh Tử của Ta. Họ sẽ được ban sự sống đời đời và nỗi đau sẽ không còn nữa.

Cha yêu dấu của các con

Thiên Chúa Tối Cao
Trích Sách Sự Thật

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2015

Sự mô phỏng mới mẻ và đầy khiếm nhã về Lời Chúa

Mẹ của Ơn Cứu Rỗi: Sự mô phỏng mới mẻ và đầy khiếm nhã về Lời Chúa sẽ làm cho nhiều người tin rằng đó chỉ là một lối giải thích về Sách Tân Ước (23/12/2013)

Thứ Hai, ngày 23 tháng 12 năm 2013 lúc 18:36

Hỡi con nhỏ bé của Mẹ, bóng tối sẽ bất ngờ ập xuống trên Giáo Hội của Con Mẹ, đến nỗi nhiều người sẽ đột nhiên im lặng do quá đỗi sửng sốt. Người ta sẽ tuyên bố rằng, Thánh Tử của Mẹ, Chúa Giêsu Kitô Vua, không còn là Vua nữa. Thế vào chỗ của Người là những thứ tà thần và tất cả các tôn giáo khác mà người ta sẽ đề cao, bao gồm cả những tôn giáo không đến từ Thiên Chúa và tất cả những thứ này sẽ chiếm lấy vị trí trong Giáo Hội của Con Mẹ trên Trái Đất.

Đối với thế gian lời tuyên bố mới mẻ về thứ tôn giáo được cho là Kitô Giáo, dường như là tin tốt lành. Thế gian sẽ vui mừng, vì nhiều người sẽ hoan nghênh điều mà họ cho là một sự bao dung hết sức quảng đại đối với mọi hành vi, mà cho đến nay vẫn bị coi là tội lỗi trong Mắt của Thiên Chúa.

Khi Thánh Tử của Mẹ đi rao giảng trên thế gian, những người Pha-ri-sêu đã khước từ Sự Thật. Họ chỉ tin theo điều gì phù hợp với họ và họ đã tin vào nhiều sự dối trá. Họ không chịu đón nhận Vòng Tay rộng mở của Con Mẹ, khi Người rao giảng Lời Chí Thánh của Thiên Chúa. Một lần nữa, thời điểm này lại đến khi những người tuyên bố rằng họ nhận biết Sự Thật nhưng lại chối bỏ Thánh Tử của Mẹ. Khi nói đến điều này, Mẹ có ý nói đến Lời Chí Thánh của Người được loan báo trong Phúc âm Rất Thánh. Chẳng bao lâu nữa, Kinh Thánh sẽ bị loại bỏ và người ta sẽ công bố một sự thay thế mới mẻ và đầy báng bổ dành cho tất cả mọi người, bên trong và bên ngoài Giáo Hội của Con Mẹ. Nhiều người sẽ bị lừa gạt.

Những kẻ thù của Con Mẹ thì quá xảo quyệt đến nỗi sự mô phỏng mới mẻ và đầy khiếm nhã này về Lời Chúa sẽ làm cho nhiều người tin rằng đó chỉ là một lối giải thích về Tân Ước được cập nhật hóa theo hướng hiện đại. Người ta sẽ sử dụng và sửa đổi Lời của Con Mẹ để nói đến điều mới mẻ - điều mà Người không bao giờ phán bảo. Tên ác quỷ, thông qua những kẻ thù của Con Mẹ, sẽ luôn lừa dối thế gian khi sử dụng Sự Thật như là nền tảng cho những điều dối trá. Chúng sẽ luôn tấn công điều gì là Sự Thật bằng cách bóp méo Sự Thật, để phỉ báng Lời của Con Mẹ.

Trước hết chúng sẽ bắt đầu bằng Lời của Người và đả phá Lời Người - đầu tiên là việc chế nhạo Lời Người và sau đó là loại bỏ Lời Người, để chạy theo dị giáo. Kế đến chúng sẽ tấn công Thân Mình Người. Ngôi Lời đã mặc lấy Xác Phàm trong Thân Mình của Con Mẹ. Truớc kia chúng đã đóng đinh Thánh Tử của Mẹ và giờ đây, khi Người đến lần nữa để canh tân Trái Đất, chúng sẽ triệt phá Bí Tích Thánh Thể. Tất cả những ai có niềm tin cần phải kiên trì giữa những cơn đau chuyển bụng khủng khiếp này, vì khi tất cả qua đi, thì Con Thiên Chúa sẽ trỗi dậy và ngự đến để giành lại Vương Quốc của Người trên Trái Đất. Những ai yêu mến Thánh Tử của Mẹ phải luôn tôn vinh Người và không được phép khước từ Người.

Các con cần phải sẵn sàng để sống cho Sự Thật và không được phép đầu hàng để chấp nhận những điều dối trá mà người ta sẽ tuyên truyền khắp mọi nơi trên thế giới và chẳng bao lâu nữa người ta sẽ công bố một thứ tôn giáo toàn cầu mới. Khi các con thấy những sự việc này xảy ra, các con hãy tin chắc rằng thời điểm đã cận kề cho Cuộc Quang Lâm của Đấng Cứu Thế Duy Nhất Đích Thực - Chúa Giêsu Kitô, Vua của nhân loại.

Mẹ yêu dấu của các con

Mẹ của Ơn Cứu Rỗi

Chuyển dịch từ nguồn: thewarningsecondcoming.com

Thứ Năm, 12 tháng 3, 2015

Hàng giáo phẩm mới và mau chóng được thiết lập này sẽ nắm quyền kiểm soát Giáo Hội của Ta

Hàng giáo phẩm mới và mau chóng được thiết lập này sẽ nắm quyền kiểm soát Giáo Hội của Ta (16/01/2014)

Thứ Năm, ngày 16 tháng 01 năm 2014, lúc 19:41

Hỡi con gái yêu dấu thân thương của Ta, Sự Thật thì gây chia rẽ. Sự thật luôn luôn là như vậy. Khi một người nói rằng anh ta nhận biết được Sự Thật, thì người khác lại phủ nhận Sự Thật. Nhưng khi Sự Thật đến từ Lời của Thiên Chúa, thì Sự Thật sẽ gây ra sự chia rẽ khủng khiếp nhất. Nhiều người khiếp sợ Sự Thật, vì Sự Thật không phải lúc nào cũng dễ chịu, tuy nhiên nếu không có Sự Thật, các con sẽ sống trong sự chối bỏ Lời của Thiên Chúa. Khi các con sống trong sự chối bỏ Lời của Thiên Chúa, thì các con sẽ không bao giờ cảm nhận được bình an đích thực trong tâm hồn.

Khi các con nhận biết được Sự Thật trong Sách Thánh của Cha Ta, thì các con nhận biết được Đường Lối của Thiên Chúa và các con cần phải đi theo con đường này, cho đến hơi thở cuối cùng. Đừng bao giờ đi lạc khỏi con đường này. Nhưng nếu Lời Ta bị làm xáo trộn, bị sửa đổi và bị bác bỏ, thì chắc chắn rằng các con sẽ không bao giờ chấp nhận điều này. Điều đó là tốt. Nhưng nếu những thứ giáo lý mới, vốn khác biệt với Lời Chí Thánh của Ta, được bày ra cho các con bởi hàng ngũ lãnh đạo cao nhất trong các giáo hội của Ta, thì các con sẽ làm gì?

Phải chăng các con sẽ chấp nhận sự dối trá, thay vì Sự Thật? Phải chăng các con sẽ chấp nhận một thứ tín lý mới vốn là ghê tởm trong Mắt Ta?

Câu trả lời phải là không. Các con không bao giờ được phép chối bỏ Lời Ta – vì bất cứ kẻ nào. Không một ai, cho dù họ đến trong những bộ phẩm phục của tầng lớp được trọng vọng trong hàng giáo phẩm thuộc Giáo Hội của Ta, một người khốn khổ, một ông vua hay một hoàng tử - bất cứ ai buộc các con đón nhận một thứ tín lý mới có liên quan đến Lời Ta, thì không đến từ Ta.

Giáo Hội của Ta đang bị phá huỷ cách kín đáo từ bên trong và từng phần đang bị phá bỏ. Khi những phẩm trật trong hàng giáo phẩm bị bãi bỏ và những tôi tớ trung thành bị sa thải – và sau đó họ bị cho là không còn hữu dụng nữa – thì người ta sẽ dọn đường để đưa ra những thứ giáo lý của Hỏa Ngục.

Thật khốn khổ cho các linh mục, giám mục và hồng y, những người dám liều mình bảo vệ Lời Chúa, vì họ sẽ phải chịu đau khổ nhiều nhất. Trong khi một số vị sẽ bị rút phép thông công và bị buộc tội là dị giáo - mặc dù họ chỉ lên tiếng vì lòng yêu mến dành cho Lời Đích Thực của Thiên Chúa – nhiều vị khác sẽ hết sức yếu đuối. Nhiều tôi tớ được thánh hiến đáng thương sẽ nhượng bộ trước sức ép để tuyên bố bãi bỏ những Lề Luật của Thiên Chúa. Nếu họ không đồng ý đón nhận thứ giáo lý của những sự dối trá, họ sẽ bị quăng cho thú dữ. Những ai đã sẵn yếu đuối trong đức tin, yêu mến những sự thế gian và có tham vọng hết sức mạnh mẽ trong linh hồn, sẽ là những người đầu tiên thề hứa trung thành với “lời khấn” mới.

Hàng giáo phẩm mới và mau chóng được thiết lập này, sẽ nắm quyền kiểm soát Giáo Hội của Ta. Chúng sẽ tuyên bố những điều dối trá nhân danh Thiên Chúa và lôi kéo theo chúng nhiều linh hồn vô tội của các tín hữu. Các cộng đoàn sẽ không hề hay biết gì về việc họ được trao cho chén thuốc độc mà không có gì khác - ngoài mỗi bánh. Bí Tích Thánh Thể không còn làm no thỏa linh hồn của họ nữa. Chẳng mấy chốc họ sẽ được dạy dỗ bằng những bài giảng, vốn sẽ nhạo báng Lời của Thiên Chúa khi họ tuyên bố rằng quyền của con người là thứ giáo lý quan trọng nhất. Và khi ấy họ sẽ công bố một thứ lạc giáo hết sức ghê tởm, rằng con người sẽ được ban cho Sự Sống Vĩnh Cửu, cho dù con người có thống hối lỗi tội của mình hay không. Đây là cách mà họ sẽ hủy diệt linh hồn của hàng triệu người.

Khi chúng tiếp tục phá tan Giáo Hội của Ta từ trong ra ngoài, thì những linh mục trung thành và những tín hữu trung kiên của Ta sẽ xây dựng lại Giáo Hội của Ta, từng phần một. Giáo Hội của Ta, mà các con đang trông thấy, không bao giờ chết được vì Ta không để cho điều đó xảy ra.

Tất cả các linh mục, tất cả các giám mục và tất cả các hồng y sẽ bị truất phế và những ai vẫn trung thành với Ta, sẽ không bao giờ bỏ rơi những người công chính hoặc những tín hữu của Ta, những người đã được ban cho Ơn Khôn Ngoan.

Và rồi, khi sự hiểu biết sai lạc ngự trị nơi tâm hồn của những tôi tớ yếu đuối trong Giáo Hội của Ta, thì Ơn Chúa Thánh Thần sẽ không chỉ soi sáng các linh hồn trong Giáo Hội Còn Sót Lại của Ta, mà còn ban ánh Sáng cho tất cả những ai có tên trong Sổ Trường Sinh, để dẫn họ đến cửa của Ta.

Trong tương lai, các môn đệ của Ta sẽ bị thử thách như chưa bao giờ họ phải chịu thử thách đến như vậy. Họ sẽ được ban cho Ơn Trợ Giúp Thiêng Liêng để giúp họ giữ cho ánh Sáng của Thiên Chúa chiếu tỏa trong một thế giới, vốn sẽ từ từ lao vào bóng tối một cách đau đớn, bóng tối này là do sự xuất hiện của kẻ thù - tên phản kitô, gây ra.

Chúa Giêsu của các con

Chuyển dịch từ nguồn: thewarningsecondcoming.com

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2015

+ ĐC Bùi Tuần: Những chứng Bệnh nguy hiểm của Giáo Hội

BỆNH NGUY HIỂM CỦA GIÁO HỘI
Bệnh nguy hiểm
Năm nay tôi 80 tuổi. Nhìn lại Hội Thánh Việt Nam trong cuộc đời đã qua của tôi, tôi thấy Hội Thánh của tôi thực vất vả. Có thể ví cuộc đời ấy như một chuyến đi đầy trắc trở.

Nhưng những gian nan trắc trở đó đã được vượt qua. Hơn thế nữa, đức tin được tôi luyện đã đào tạo nên nhiều con người biết sống công bình bác ái. Nhờ đâu? Tất nhiên là nhờ ơn Chúa. Nhưng chắc chắn cũng nhờ nhiều tín hữu, nhất là nhiều vị lãnh đạo trong Hội Thánh Việt Nam đã biết khiêm tốn cộng tác với ơn Chúa. Các vị đã cùng nhau tiến lên trong mọi chặng đường lịch sử khác nhau với tâm hồn sáng suốt.

Bây giờ, Ðạo đang bước vào một giai đoạn mới của lịch sử: Giai đoạn hội nhập và cạnh tranh. Tôi vui, nhưng cũng lo. Với kinh nghiệm của một người, vừa già về tuổi đời, vừa già về tuổi mục vụ, tôi xin phép chia sẻ một nỗi lo như một cảnh báo. Ðó là hãy coi chừng về một chứng bệnh nguy hiểm cho Ðạo. Chứng bệnh này thường xuất hiện trong thời cạnh tranh giữa các giá trị.

Chứng bệnh đó là bệnh mù quáng.

Mù quáng trong sống đạo được Kinh Thánh đề cập đến nhiều cách. Ở đây tôi chỉ nêu lên bốn dạng mù quáng dễ gặp thấy.

1/ Mù quáng, vì không nhận ra cái chính, cái phụ

Chúa Giêsu có lúc đã đau buồn phải nói sự thực với các kinh sư và Pharisêu: “Khốn cho các ngươi, những kẻ dẫn đường mù quáng... Các ngươi nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề luật là công bình, lòng thương xót và sự thành tín... Hỡi những kẻ dẫn đường mù quáng. Các ngươi lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà” (Mt 23,23-24).

Những lời Chúa Giêsu phiền trách trên đây xem ra đang ứng nghiệm ở nơi này nơi nọ. Tình hình đạo ở những chỗ đó được tiếng là thêm mở mang, thêm hoạt động, thêm luật lệ. Nhưng lòng đạo thực ra chỉ được xây dựng bằng những giá trị phụ.Người ta gọi đạo kiểu đó là đạo hình thức, đạo gánh nặng, đạo bề ngoài, đạo phong trào. Nhưng không thiếu người tự mãn với lối sống đạo như thế. Chúa thì dứt khoát không hài lòng. Người gọi những người giữ đạo kiểu đó là mù quáng. Cái làm cho sự mù quáng đó thành nguy hiểm, đó là sự nó tạo nên một ảo tưởng sai lầm, đưa con người vào ẩn trú trong đó. Hơn nữa, nó càng nguy hiểm, khi lôi kéo, thậm chí ép buộc nhiều người khác đi vào não trạng sai lạc về đạo, bám vào một nếp sống đạo dễ dàng biến chất. Hy vọng cảnh đó sẽ không nhiều tại Việt Nam.

2/ Mù quáng, vì không nhận ra đoàn lũ quỷ dữ rình rập mình thường xuyên

Trong thư thứ nhất của thánh Phêrô gởi các giáo đoàn, Ngài đã viết: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì quỷ dữ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5,8).

Danh từ quỷ dữ mà thánh Phêrô dùng ở đây không những chỉ đích danh các tướng quỷ và thuộc hạ ác ôn vô hình luôn rảo quanh chúng ta, mà cũng ám chỉ các lực lượng xấu hữu hình xung quanh ta. Ðó là những thứ văn hoá đồi truỵ, những phong trào gây hận thù chia rẽ, những nhóm đầu tư đủ loại mưu mô quỷ quyệt, những lối sống kích thích huỷ hoại luân lý, những định kiến hẹp hòi, kiêu căng.

Thánh tông đồ Phêrô nói rõ với tín hữu là chỉ với tiết độ và tỉnh thức, người ta mới nhận diện được mặt thực của quỷ dữ và mới đối phó được với chúng một cách có hiệu quả. Nhưng thực tế nhiều nơi cho thấy sự tiết độ và tỉnh thức có vẻ như đang bị lơ là. Do đó mà không ít người trở nên dần dần mù quáng. Họ không những không nhận ra đoàn lũ các loại quỷ dữ đang hoạt động ráo riết xung quanh mình, mà còn nhởn nhơ hoà nhập và tích cực cộng tác vào những cái xấu của chúng.

3/ Mù quáng, vì không biết nhận xét thời đại mình sống

Chúa Giêsu có lần đã cảnh báo nặng lời: “Những kẻ đạo đức giả kia, cảnh sắc trời đất, thì các ngươi biết nhận xét, còn thời đại này, sao các ngươi lại không biết nhận xét? Sao các ngươi không tự mình xét xem cái gì là phải” (Lc 12,56-57).

Lời Chúa phán trên đây, nếu áp dụng vào nhiều người có đạo thời nay, thì thiết tưởng không sai. Bởi vì theo các nơi hành hương và huấn giáo, thì thời nay có hai việc Chúa muốn ta làm:

Việc thứ nhất là sám hối, đền tội, đổi mới bản thân ta.

Việc thứ hai là tin vào Thiên Chúa giàu tình yêu thương xót và hãy đến với Người bằng những việc ta xót thương người khác, như Chúa thương xót ta.

Thế nhưng, cách sống của bao người tín hữu hôm nay tỏ ra mình chưa nhìn thấy rõ bao con đường Chúa đang đợi họ trong thời đại này.

4/ Mù quáng, vì không nhận ra Chúa đến và ở giữa lịch sử nhân loại

Phúc Âm thánh Gioan viết: “Ngôi Lời ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng thế gian lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón Người” (Ga 1,10-11).

Ðọc mấy dòng trên, chúng ta cảm thấy buồn. Người nhà của Chúa là chính những người công giáo chúng ta. Nhưng biết đâu biết bao lần Chúa đến với ta, mà ta không đón nhận Người. Người đến qua Kinh Thánh, qua các bí tích, qua Hội Thánh. Ngoài ra, Người cũng đến qua nhiều ngả khác, như qua các biến cố lịch sử, qua các thành công và thất bại của ta, qua các nền văn hoá chất lượng, qua các sách báo và gương sáng nhắc nhở của cá nhân và tập thể, trong và ngoài Ðạo ta.

Nhưng, chúng ta nhiều khi tự mãn, không nhìn và không muốn nhìn, cho nên kể như tự mình trở nên mù quáng. Mọi thứ mù quáng đều đáng tiếc. Nhưng mù quáng không nhìn nhận Chúa đến với ta, đó quả là một tai hoạ kinh khủng.

Kinh nghiệm tại nhiều nơi cho thấy: Ðạo Chúa thời khó thì chất lượng phát triển. Ðạo Chúa thời dễ thì chất lượng suy thoái.

Chúng ta cũng nên nhìn sự phát triển của các tôn giáo bạn hiện nay trong nước ta và tại các nước xung quanh, nói chung là tại Á châu. Tại nhiều nước Á châu, văn hoá dân tộc là văn hoá một tôn giáo nào đó phủ kín khắp nước. Tất nhiên văn hoá đó và tôn giáo đó không phải là công giáo.

Ai trong chúng ta cũng có nhiều giới hạn. Nên chúng ta rất cần cầu nguyện.

Thiết tưởng vấn đề này nên được nhận thức sớm, với những nghiên cứu mới, sáng kiến mới, dấn thân mới. Kẻo sẽ quá muộn. Vì lịch sử đất nước, khu vực và thế giới, đang chuyển biến rất mau, với những bất ngờ dễ sợ.

Long Xuyên, ngày 8 tháng 01 năm 2007

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015

Đức Hồng Y George Pell nói về hôn nhân, ly dị và vua Henry Đệ Bát

Đức Hồng Y George Pell nói về hôn nhân, ly dị và vua Henry Đệ Bát
Đức Hồng Y George Pell đã đưa ra một lập luận ngắn, gọn, nhưng rất mạnh mẽ chống lại những đề nghị thay đổi kỷ luật của Giáo Hội về việc cho những người đã ly dị và tái hôn được rước lễ trong một bài bình luận đăng trên tờ The Catholic Thing.
Ảnh Minh Họa
Sau khi đề cập đến các huấn lệnh rõ ràng trong Kinh Thánh, đến sự "nhất trí gần như hoàn toàn trong suốt hai ngàn năm lịch sử Công Giáo", và sự thành công mà Giáo Hội được hưởng trong thời gian kỷ luật nghiêm khắc, Đức Hồng Y tổng trưởng bộ kinh tế Tòa Thánh kết thúc bằng một câu hỏi hùng hồn:

“Chẳng nhẽ những quyết định đã được đưa ra sau vụ ly hôn của Henry VIII là hoàn toàn không cần thiết sao?”

Toàn văn bài viết của ngài như sau:

“Điều thú vị là giảng dạy cứng rắn của Chúa Giêsu rằng ‘những gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly’ (Mt 19: 6) đã được Ngài đưa ra không lâu sau khi chính Chúa đã nhấn mạnh với Thánh Phêrô về sự cần thiết của sự tha thứ (xem Mt 18: 21-35).

Đúng là Chúa Giêsu đã không lên án người phụ nữ ngoại tình, là người đã bị đe dọa ném đá cho tới chết, nhưng Ngài cũng không nói với cô ấy rằng hãy cứ tiếp tục công việc của mình, cứ tiếp tục sống như đã từng sống không cần thay đổi gì hết. Không, Ngài bảo cô ta đừng phạm tội nữa (xem Ga 8: 1-11).

Một rào cản không thể vượt qua đối với những người ủng hộ một học thuyết và một đường hướng kỷ luật mục vụ mới về việc cho rước lễ là sự nhất trí gần như hoàn toàn trong suốt hai ngàn năm lịch sử Công Giáo về điểm này. Đúng là Chính Thống Giáo có một truyền thống lâu đời và khác biệt với chúng ta về điểm này nhưng là vì lúc ban đầu họ bị ép buộc bởi các đại đế Byzantine. Cho người ly dị và tái hôn được rước lễ chưa bao giờ là một thực hành Công Giáo.

Người ta có thể cho rằng các kỷ luật về sám hối trong những thế kỷ đầu, trước Công Đồng Nicaea là quá cứng rắn khi các nghị phụ tranh luận xem liệu Hội Thánh có nên cho những kẻ phạm vào những tội như giết người, ngoại tình, hoặc bỏ đạo có thể được hòa giải với các cộng đồng địa phương một lần duy nhất - hay không. Các nghị phụ luôn thừa nhận rằng Thiên Chúa có thể tha thứ, ngay cả khi Giáo Hội không nhận lại những tội nhân này vào cộng đồng của mình.

Sự cứng rắn như thế là chuẩn mực vào thời điểm khi Giáo Hội được mở rộng về số lượng, bất chấp những bách hại. Những lời dạy của Công Đồng Trentô hay của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI về hôn nhân cũng không thể bị bỏ qua. Chẳng nhẽ những quyết định đã được đưa ra sau vụ ly hôn của Henry VIII là hoàn toàn không cần thiết sao?”

(Đặng Tự Do, VCN 01.03.2015)

Thứ Ba, 17 tháng 2, 2015

Sứ Điệp 1325: Các con hãy cầu cho sự bảo vệ Giáo Hội của Con Mẹ trên thế giới


Mẹ của Ơn Cứu Rỗi: Các con hãy cầu cho sự bảo vệ Giáo Hội của Con Mẹ trên thế giới (10/02/2015)
Thứ ba ngày 10 tháng 2 năm 2015, lúc 14:36
Hỡi các con thân yêu của Mẹ, điều quan trọng là tất cả các con hãy đọc những Chiến Dịch Cầu Nguyện và đọc Kinh Mân Côi Rất Thánh của Mẹ như là một phần trong đời sống cầu nguyện hàng ngày của các con. Các con có thể chọn đọc bất cứ Chiến Dịch Cầu Nguyện nào mà các con yêu thích, không nhất thiết phải đọc hết mọi Chiến Dịch Cầu Nguyện mà chỉ cần đọc những Chiến Dịch Cầu Nguyện theo ý cầu nguyện của các con. Các con phải đọc Kinh Mân Côi Rất Thánh của Mẹ mỗi ngày để bảo vệ các con trước ảnh hưởng của tên ác quỷ.

Việc cầu nguyện đưa các con đến gần với Thiên Chúa hơn và bảo vệ linh hồn của tất cả những người mà các con cầu xin Thánh Tử của Mẹ bảo vệ họ khỏi quyền lực của tên lừa dối. Lời cầu nguyện là khí giới mạnh mẽ nhất để chống lại sự dữ và các con không bao giờ được phép coi thường sức mạnh của lời cầu nguyện.

Các con hãy cầu cho sự bảo vệ Giáo Hội của Con Mẹ trên thế giới và các con hãy cầu xin Thánh Tử của Mẹ ban Lòng Thương Xót của Người cho bất cứ ai đang tìm cách gây khổ hình cho Giáo Hội của Người. Giáo Hội của Người - là Nhiệm Thể và là Đền Thờ của Con Mẹ - cũng là con đường qua đó tất cả mọi vinh quang đều quy hướng về Thiên Chúa. Những Giáo Huấn, Lời Chúa và Thánh Thể Cực Trọng, Mình và Máu của Chúa Giêsu Kitô, Con Mẹ, là những Tặng ân mà Thiên Chúa đã ban cho nhân loại vì phần rỗi của nhiều linh hồn. Các con phải bảo vệ Sự Thật và phải chuẩn bị để đón nhận Lòng Thương Xót của Con Mẹ.

Mẹ khẩn thiết kêu gọi các con hãy cầu nguyện cho linh hồn những người chối bỏ Sự Thật và hãy nài xin Thánh Tử của Mẹ tuôn đổ Lòng Thương Xót của Người trên linh hồn họ. Thánh Tử của Mẹ là Sự Sống. Tất cả Sự Sống đến từ Người. Nếu các con khước từ Thánh Tử của Mẹ thì các con sẽ không có sự sống trong Vương Quốc tương lai của Người.

Thánh Tử của Mẹ đã nhờ Mẹ nài xin các con thêm nhiều lời cầu nguyện cho linh hồn những ai sẽ khước từ Người. Người sẽ đón nhận lời cầu nguyện mà các con dâng lên để cầu cho tất cả những người thân yêu của các con và những người sẽ không thể nào đón nhận được ánh Sáng khi ánh Sáng chiếu soi rực rỡ vào bao trùm nhân loại.

Những linh hồn tràn ngập tình yêu và nhân đức khiêm nhường, vốn là những điều cần thiết để đón nhận Thánh Tử của Mẹ, sẽ là những người hân hoan vui mừng. Những người có linh hồn tăm tối sẽ khước từ ánh Sáng vì họ cảm thấy hết sức đau đớn để nhìn nhận Sự Thật. Từ hôm nay trở đi, mỗi ngày các con hãy hết lòng cầu nguyện cho những linh hồn hết sức cần đến Lòng Thương Xót của Con Mẹ.

Nếu không có những lời cầu nguyện của các con, thì nhiều người sẽ bị hư mất và muôn đời họ sẽ khao khát sự Hiện Diện của Người, nhưng họ sẽ không thể nào tìm thấy Người.

Mẹ ban cho các con tình yêu của Mẹ, sự che chở và bình an của Mẹ. Xin các con hãy đáp lại lời mời gọi của Mẹ vì phần rỗi của nhiều linh hồn.

Mẹ yêu dấu của các con

Mẹ của Ơn Cứu Rỗi

Chuyển dịch từ nguồn: thewarningsecondcoming.com

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

Hơn 6,000 bệnh nhân đã được Ðức Mẹ chữa lành tại Lộ Ðức

Từ năm 1858, nghĩa là từ ngày Ðức Mẹ hiện ra với Bernadette cho đến nay, suốt thời gian trên một thế kỷ, có khoảng 6,000 người tự cho mình được ơn lành bệnh và 3,500 vụ được coi là đặc biệt do Ủy Ban Y Khoa Lộ Ðức gồm tất cả các bác sĩ hiện diện kiểm chứng và nhìn nhận. Trong số này, tính đến ngày 9 tháng 2 năm 1999, chỉ có 66 trường hợp lành bệnh đã được Giáo Hội chính thức thừa nhận.

Từ năm 1858, nghĩa là từ ngày Ðức Mẹ hiện ra với Bernadette cho đến nay, suốt thời gian trên một thế kỷ, có khoảng 6,000 người tự cho mình được ơn lành bệnh và 3,500 vụ được coi là đặc biệt do Ủy Ban Y Khoa Lộ Ðức gồm tất cả các bác sĩ hiện diện kiểm chứng và nhìn nhận. Trong số này, tính đến ngày 9 tháng 2 năm 1999, chỉ có 66 trường hợp lành bệnh đã được Giáo Hội chính thức thừa nhận.

Chúng ta biết có một nghiêm luật được triệt để thi hành xung quanh vấn đề là những cơn bệnh cơ năng đều bị loại bỏ, nghĩa là những chứng bệnh phát xuất do sự xáo trộn các cơ năng, hôm nay thế này ngày mai có thể thế khác, không được xét đến, như các bệnh thần kinh, ung thư, dị ứng v.v... Chỉ có các cơn bệnh hoàn toàn về cơ thể rõ rệt mới được nhìn nhận và thẩm xét. Vì thế, một số lớn các hồ sơ bị loại. Trong thời gian 3 năm (từ 1990 đến 1993) chỉ có 5 hồ sơ được chấp nhận và thẩm xét. Các nhà chuyên viên để ra nhiều năm để khám nghiệm, để tái khám, để giám định lại theo những phương thức tối tân của khoa học, hầu đi đến các câu trả lời sau đây: Chứng bệnh có thật sự nan y không? Bệnh nhân được lành hẳn và vĩnh viễn không? Hay chỉ là một cơn đột biến tình cảm.

Sau khi những vấn nạn trên được trả lời thỏa đáng thì bác sĩ Pilon, giám đốc Ủy Ban Y Khoa Lộ Ðức từ mấy năm nay, làm bản phúc trình cho Ủy Ban Y Khoa Quốc Tế gồm 40 vị cự phách trong y giới thuộc nhiều quốc gia, mỗi năm họp một lần ở Paris dưới quyền đồng chủ tọa của Giám Mục Lộ Ðức và vị Chủ Tịch Ủy Ban Y Khoa Quốc Tế. Ở đây, hồ sơ lại được mở ra, các vấn nạn lại được thẩm xét, các cuộc khám nghiệm mới bị đòi hỏi.

Cuối cùng, có rất ít hồ sơ lọt qua được cửa ải này. Và chỉ khi nào, khoa học nhận thức rằng không thể giải thích được theo y khoa thì giáo quyền mới chấp nhận hồ sơ. Trong thực tế, Giáo Luật dành cho vị Giám Mục nơi cư ngụ của người thụ hưởng quyền khai mở cuộc thẩm xét theo Giáo Luật. Lại phải chờ đợi nhiều năm trước khi cuộc lành bệnh được công nhận là phép lạ.

Ðành rằng các "Phép Lạ" không phải là những tín điều phải tin, nhưng các dữ kiện xảy ra được giáo quyền cứu xét một cách nghiêm chỉnh và hết mức theo những tiêu chuẩn Giáo Luật do Ðức Giáo Hoàng Benêdictô XIV ban hành năm 1734. Những tiêu chuẩn gắt gao này ngày nay một số thần học gia lại muốn duyệt xét lại. Vì thế, hội các bác sĩ Pháp tổ chức tại Lộ Ðức vào những ngày 21 đến 25 tháng 10 năm 1993 một Ðại Hội với chủ đề: "Lành Bệnh và Phép Lạ". Chắc chắn từ nay các tiêu chuẩn sẽ muôn vàn khó khăn hơn.

Những phép lạ được giáo hội chính thức thừa nhận

(1) Bà Catherine Latapie, sinh năm 1820, sống ở Loubajac, gần Lộ Ðức. Ðược chữa lành vào ngày 1 tháng 3 năm 1858. Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.

(2) Ông Louis Bouriette, sinh năm 1804, sống ở Lộ Ðức. Ðược chữa lành vào tháng 3 năm 1858. Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.

(3) Bà Blaisette Cazenave (Soupene), sinh năm 1808, sống ở Lô Ðức. Ðược chữa lành vào tháng 3 năm 1858. Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.

(4) Ông Henri Busquet, sinh năm 1842, sống ở Nay, Atlantic Pyrenees. Ðược chữa lành vào cuối tháng 4 năm 1854. Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.

(5) Cậu bé Justin Bouhort, sinh tại Lộ Ðức ngày 28 tháng 7 năm 1856, và sống ở Lộ Ðức. Ðược chữa lành vào đầu tháng 7 năm 1858. Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.

(6) Bà Madeleine Rizan, sinh năm 1800, sống ở Nay, Atlantic Pyrenees. Ðược chữa lành ngày 17 tháng 10 năm 1858. Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.

(7) Cô Marie Moreau, sinh năm 1841, sống ở Tartas, Landes. Ðược chữa lành ngày 9 tháng 11 năm 1858. Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.

(8) Ông Pierre de Rudder, sinh tại Jabbeker, Bỉ. Ðược chữa lành ngày 7 tháng 4 năm 1875. Ngày 25 tháng 7 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Gustave Waffelaert, Giám Mục Bruges.

(9) Cô Joachime Dehant, sinh tại Velaines, Sambre, năm 1849, sống ở Gesves, Bỉ. Ðược chữa lành ngày 13 tháng 9 năm 1878. Ngày 25 tháng 4 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Thomas Louis Heylen, Giám Mục Namur.

(10) Cô Elisa Seisson, sinh năm 1855. Ðược chữa lành ngày 29 tháng 8 năm 1882. Ngày 12 tháng 7 năm 1912 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Francois Bonnefoy, Giám Mục Aix, Arles và Embrun.

(11) Nữ Tu Eugenia (Marie Mabille), sinh năm 1855. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1883. Ngày 30 tháng 8 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Philippe Meunier, Giám Mục Evreux.

(12) Nữ Tu Julienne (Aline Bruyere), sinh năm 1864, sống ở làng La Roque, gần Sarlat. Ðược chữa lành ngày 1 tháng 9 năm 1889. Ngày 7 tháng 3 năm 1912 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Albert Negre, Giám Mục Tulle.

(13) Nữ Tu Josephine Marie (Anne Jourdain), sinh ngày 5 tháng 8 năm 1854 tại Le Havre. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1890. Ngày 10 tháng 10 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Marie Jean Douais, Giám Mục Beauvais.

(14) Cô Amélie Chagnon, sinh ngày 17 tháng 9 năm 1874, sống ở Ðịa Phận Tournai, Bỉ. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1891. Ngày 8 tháng 9 năm 1910 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Charles G. Walravens, Giám Mục Tournai.

(15) Cô Clémentine Trouvé, sinh tại Azay le Boulé, năm 1878. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1891. Ngày 6 tháng 6 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Amette, Tổng Giám Mục Paris.

(16 và 17) Cô Marie Lebranchu, sinh năm 1857, và cô Marie Lemarchand, sinh năm 1874. Ðược chữa lành ngày 20 và 21 tháng 8 năm 1892. Ngày 6 tháng 6 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Amette, Tổng Giám Mục Paris.

(18) Cô Elisa Lesage, sinh tại Bucquoy (Pas de Calais), năm 1874. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1892. Ngày 4 tháng 2 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Alfred Williez, Giám Mục Arras.

(19) Nữ Tu Marie of the Presentation (Sylvanie Delporte), sinh ngày 8 tháng 2 năm 1848. Ðược chữa lành ngày 29 tháng 8 năm 1892. Ngày 15 tháng 8 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Francois Delamaire, Giám Mục phó Cambrai.

(20) Linh Mục Cirette, sinh tại Poses (Eure), ngày 15 tháng 3 năm 1847. Ðược chữa lành ngày 31 tháng 8 năm 1893. Ngày11 tháng 2 năm 1907 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Meunier, Giám Mục Evreux.

(21) Cô Aurélie Huprelle, sinh năm 1869. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1895. Ngày 1 tháng 5 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Jean Douais, Giám Mục Beauvais.

(22) Cô Esther Brachmann, sinh tại Paris, năm 1881. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1896. Ngày 6 tháng 6 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Léon Amette, Tổng Giám Mục Paris.

(23) Cô Jeane Tulasne, sinh tại Indre et Loire, ngày 8 tháng 9 năm 1877. Ðựợc chữa lành ngày 8 tháng 9 năm 1907. Ngày 27 tháng 10 năm 1907 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Réné Francois Renou, Tổng Giám Mục Tours.

(24) Cô Clémentine Malot, sinh tại Granvilliers, ngày 22 tháng 11 năm 1872. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1898. Ngày 1 tháng 11 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Jean Douais, Giám Mục Beauvais.

(25) Bà Rose Francois (Labreuvois), sinh năm 1863. Ðược chữa lành ngày 20 tháng 8 năm 1899. Ngày 6 tháng 6 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Jean Amette, Tổng Giám Mục Paris.

(26) Linh Mục Salvator Capuchin, sinh năm 1862, sống ở Dinard. Ðược chữa lành ngày 25 tháng 6 năm 1900. Ngày 1 tháng 7 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha A. Dubourg, Tổng Giám Mục Rennes.

(27) Nữ Tu Maximilien, sinh năm 1858, sống ở Marseilles (Tu Viện Nữ Tu Hy Vọng). Ðược chữa lành ngày 20 tháng 5 năm 1901. Ngày 5 tháng 2 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Paulin Andrieu, Giám Mục Marseilles.

(28) Cô Marie Savoye, sinh năm 1877, sống ở Cateau-Cambresis (Bắc). Ðược chữa lành ngày 20 tháng 9 năm 1901. Ngày 15 tháng 8 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Francois Delamaire, Giám Mục phó Cambrai.

(29) Bà Johanna Bezenac (Dubos), sinh năm 1876. Ðược chữa lành ngày 8 tháng 8 năm 1904. Ngày 2 tháng 7 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Henri J. Bougoin, Giám Mục Périgueux.

(30) Nữ Tu Saint Hilaire, sinh năm 1865, Bề Trên Tu Viện Peyreleau (Dòng Thánh Giuse Clairvaux). Ðược chữa lành ngày 20 tháng 8 năm 1904. Ngày 10 tháng 5 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Charles de Ligonnes, Giám Mục Rodez.

(31) Nữ Tu Saint Béatrix (Rosalie Vildier), sinh năm 1862, sống ở Evreux. Ðược chữa lành ngày 31 tháng 8 năm 1904. Ngày 25 tháng 3 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Philippe Meunier, Giám Mục Evreux.

(32) Cô Marie Thérèse Noblet, sinh năm 1889, sống ở Rheims. Ðược chữa lành ngày 31 tháng 8 năm 1905. Ngày 11 tháng 2 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Hồng Y Lucon, Tổng Giám Mục Rheims.

(33) Cô Cécile Douville de Franssu, sinh tại Tournai, Bỉ, ngày 26 tháng 12 năm 1885. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 9 năm 1905. Ngày 8 tháng 12 năm 1909 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Charles Gibier, Giám Mục Versailles.

(34) Cô Antoina Moulin, sinh tại Vinne (Isere), ngày 13 tháng 4 năm 1877. Ðược chữa lành ngày 10 tháng 8 năm 1907. Ngày 6 tháng 11 năm 1911 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Paul E. henry, Giám Mục Grenoble.

(35) Cô Marie Borel, sinh tại Lozere, ngày 14 tháng 11 năm 1879. Ðược chữa lành ngày 21 và 22 tháng 8 năm 1907. Ngày 4 tháng 6 năm 1911 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Jacques Gely, Giám Mục Mende.

(36) Cô Virginie Haudebourg, sinh tại Lons le Saulnier, Pháp, năm 1886. Ðược chữa lành ngày 17 tháng 5 năm 1908. Ngày 25 tháng 11 năm 1912 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Francois A. Mallet, Giám Mục Saint Claude.

(37) Bà Marie Biré (Lucas), sinh tại Vendée (Pháp), ngày 8 tháng 10 năm 1866. Ðược chữa lành ngày 5 tháng 8 năm 1908. Ngày 30 tháng 7 năm 1910 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Clovis Joseph Catteau, Giám Mục Lucon.

(38) Cô Aimée, sinh năm 1872, sống ở Vern, gần Angers. Ðược chữa lành ngày 28 tháng 5 năm 1810. Ngày 5 tháng 8 năm 1910 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Joseph Rumeau, Giám Mục Angers.

(39) Cô Juliette Orion, sinh năm 1886, sống ở St. Hilaire de Voust, Véndée. Ðược chữa lành ngày 22 tháng 7 năm 1910. Ngày 18 tháng 10 năm 1913 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Clovis Joseph Catteau, Giám Mục Lucon.

(40) Bà Marie Fabre, sinh năm 1879. Ðược chữa lành ngày 26 tháng 11 năm 1911. Ngày 8 tháng 9 năm 1912 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Pierre Cezerac, Giám Mục Cahors.

(41) Cô Henriette Bressolles, sinh năm 1896. Ðược chữa lành ngày 3 tháng 7 năm 1924. Ngày 4 tháng 6 năm 1957 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Paul Remond, Giám Mục Nice.

(42) Cô Lydia Brosse, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1889. Ðược chữa lành ngày 11 tháng 10 năm 1930. Ngày 5 tháng 8 năm 1958 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Jean Guyot, Giám Mục Contances.

(43) Nữ Tu Marie Marguerite (Francois Captitaine), sinh ngày 13 tháng 4 năm 1872, sống ở Ðan Viện Rennes từ năm 1896. Ðược chữa lành ngày 22 tháng Giêng năm 1937. Ngày 20 tháng 5 năm 1946 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Hồng Y Clément Roques, Tổng Giám Mục Rennes.

(44) Cô Louise Jamain, sinh tại Paris, ngày 5 tháng 11 năm 1914. Ðược chữa lành ngày 1 tháng 4 năm 1937. Ngày 14 tháng 12 năm 1951 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Maurice Feltin, Tổng Giám Mục Paris.

(45) Cậu bé Francis Pascal, sinh ngày 2 tháng 10 năm 1934, sống ở Beaucaire, Gard. Ðược chữa lành ngày 31 tháng 8 năm 1938. Ngày 31 tháng 5 năm 1949 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Ch. de Provenchères, Tổng Giám Mục Aix en Provence.

(46) Cô Gabrielle Clauzel, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1894, sống ở Oran. Ðược chữa lành ngày 15 tháng 8 năm 1943. Ngày 18 tháng 3 năm 1948 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Bertrand Lacaste, Giám Mục Oran.

(47) Cô Yvonne Fournier, sinh tháng Giêng năm 1923. Ðược chữa lành ngày 19 tháng 8 năm 1945. Ngày 14 tháng 11 năm 1959 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Hồng Y Maurice Feltin, Tổng Giám Mục Paris.

(48) Bà Rose Martin (Pérona), sinh ngày 28 tháng 3 năm 1901. Ðược chữa lành ngày 3 tháng 7 năm 1947. Ngày 5 tháng 5 năm 1949 được chính thức công bố là Phép Lạ, và ngày 17 tháng 3 năm 1958 được tái xác nhận là Phép Lạ bởi Ðức Cha Rémond, Giám Mục Nice.

(49) Bà Jeanne Gestas, sinh ngày 8 tháng 1 năm 1897, sống ở Bègles, Gironde. Ðược chữa lành ngày 22 tháng 8 năm 1947. Ngày13 tháng 7 năm 1952 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Paul Richaud, Tổng Giám Mục Bordeaux.

(50) Cô Marie Therese Canin, sinh năm 1910. Ðược chữa lành ngày 9 tháng 10 năm 1947. Ngày 6 tháng 6 năm 1952 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Jean Delay, Giám Mục Marseilles.

(51) Cô Mađalena Carini, sinh tại Pavia, ngày 11 tháng 3 năm 1917. Ðược chữa lành ngày 15 tháng 8 năm 1948. Ngày 2 tháng 6 năm 1960 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Hồng Y G. B. Montini, Tổng Giám Mục Milan.

(52) Cô Jeanne Frétel, sinh ngày 25 tháng 5 năm 1914. Ðược chữa lành ngày 8 tháng 10 năm 1948. Ngày 20 tháng 10 năm 1950 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Hồng Y Clément Roques, Tổng Giám Mục Rennes.

(53) Nữ Tu Marie Mercédès (Théa Angele), sinh tại Ðức, ngày 24 tháng 9 năm 1921. Ðược chữa lành ngày 20 tháng 5 năm 1950. Ngày 28 tháng 6 năm 1961 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha P.M. Théas, Giám Mục Tarbes và Lô Ðức.

(54) Ông Evasio Ganora, sinh ngày 2 tháng 3 năm 1913, sống ở Casale Monferrato. Ðược chữa lành ngày 2 tháng 6 năm 1955. Ngày 31 tháng 5 năm 1955 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha G. Angrisani, Giám Mục Casale Monferrato.

(55) Cô Edeltraud Fulda, sinh ngày 20 tháng 7 năm 1916. Ðược chữa lành ngày 12 tháng 8 năm 1950. Ngày 18 tháng 5 năm 1955 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Hồng Y Théodor Innitzer, Tổng Giám Mục Vienna.

(56) Ông Paul Pellegrin, sinh ngày 12 tháng 4 năm 1898. Ðược chữa lành ngày 3 tháng 10 năm 1950. Ngày 8 tháng 12 năm 1953 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Auguste Gaudel, Giám Mục Fréjus.

(57) Tu Sĩ Léo Schwager, sinh tại Thụy Sĩ, ngày 30 tháng 4 năm 1924. Ðược chữa lành ngày 30 tháng 4 năm 1952. Ngày 8 tháng 12 năm 1960 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Francois Charriere, Giám Mục Lausanne, Geneva và Fribourg.

(58) Bà Alice Couteault Gourdon), sinh ngày 1 tháng 12 năm 1917, sống ở Bouillé Loretz, Deux Sevres. Ðược chữa lành ngày 15 tháng 5 năm 1952. Ngày 16 tháng 7 năm 1956 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Henri Vion, Giám Mục phó Poitiers.

(59) Cô Marie Bigot, sinh ngày 7 tháng 12 năm 1922. Ðược chữa lành ngày 8 tháng 10 năm 1953 và ngày 8-10 tháng 10 năm 1954. Ngày 15 tháng 8 năm 1956 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Hồng Y Clément Roques, Tổng Giám Mục Rennes.

(60) Bà Ginette Nouvel (Fabre), sinh ngày 18 tháng 1 năm 1928, sống ở Carmaux, Tarn. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 9 năm 1954. Ngày 31 tháng 5 năm 1963 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Claude Dupuy, Tổng Giám Mục Albi.

(61) Cô Elisa Aloi, sinh tại Patti, Sicily, ngày 26 tháng 11 năm 1931. Ðược chữa lành ngày 5 tháng 6 năm 1958. Ngày 26 tháng 5 năm 1965 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Francesco Fasola, Tổng Giám Mục Messine.

(62) Cô Juliette Tamburini, sinh tại Marseilles, ngày 4 tháng 12 năm 1936. Ðược chữa lành ngày 17 tháng 7 năm 1959. Ngày 11 tháng 5 năm 1965 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Marc Lallier, Giám Mục Marseilles.

(63) Anh Vittorio Micheli, sinh tại tỉnh Trento, Ý, ngày 6 tháng 2 năm 1940. Ðược chữa lành ngày 1 tháng 6 năm 1963. Ngày 26 tháng 5 năm 1976 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Alessandro Gottardi, Tổng Giám Mục Trento.

(64) Ông Serge Perrin, sinh ngày 13 tháng 2 năm 1929. Ðược chữa lành ngày 1 tháng 5 năm 1970. Ngày 17 tháng 6 năm 1978 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Jean Orchampt, Giám Mục Angers.

(65) Cô Delizia Cirolli, sinh ngày 17 tháng 11 năm 1964. Ðược chữa lành vào dịp gần Lễ Giáng Sinh năm 1976. Ngày 28 tháng 6 năm 1989 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Luigi Bonmarito, Tổng Giám Mục Catania.

(66) Ông Jean Pierre Bély, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1936. Ðược chữa lành ngày 9 tháng 10 năm 1987. Ngày 9 tháng 2 năm 1999 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Claude Dagens, Giám Mục Angoulême.

(67) Bà Anna Santaniello, sinh năm 1912, bị chứng bệnh tim khó thở từ nhỏ, đã được chữa lành bệnh trong một chuyến hành hương cầu nguyện ở Lộ Ðức vào ngày 19 tháng 8 năm 1952. Ðức Tổng Giám Mục Salerno Gerardo Pierro đã công bố phán quyết của Giáo Hội về việc chính thức thừa nhận phép lạ này trước sự hiện diện của bà Santaniello trong thánh lễ Chúa Nhật ngày 13/11/2005.

(68) Nữ tu Luigina Traverso, sinh năm 1934, dòng Con Ðức Bà Phù Hộ (FMA), được khỏi bệnh tại Lộ Ðức ngày 23 tháng 7 năm 1965. Ngày 27 tháng 7 năm 1965, giáo sư bác sĩ Claudio Rinaldi chứng thực: tình trạng sức khỏe tổng quát của chị là tốt, không còn đau đớn, các bắp cơ không còn co thắt và cứng nữa. Ðôi chân hoàn toàn cử động.

(69) Bà Danila Castelli, sinh ngày 16 tháng 01 năm 1946 bị bệnh biến chứng tăng huyết áp. Từ năm 1982, các hình chụp siêu âm cho thấy bà bị khối u tạo ra hóc môn catécholamine trong niệu sinh dục. Bà đã chịu nhiều phẫu thuật nhưng không đều có kết quả. Tháng 5 năm 1989, nhân chuyến hành hương tại Lộ Ðức, bà tắm nước suối Lộ Ðức và được khỏi bệnh. Hiện nay, bà đã hoạt động bình thường.

(*) Ông Jacquew Salaun, sinh năm 1935, sống ở La Loupe, Chartres, Pháp. Ðược chữa lành ngày 1 tháng 9 năm 1993. Sự kiện được chữa lành này đang chờ sự phán quyết tối hậu của Giáo Hội.

(Linh Mục Joseph Trương, Chuyển dịch từ Nguyệt San Lourdes, số 49, tháng 5 năm 1997,

và từ tác phẩm Lourdes Miraculous Cure của Bác Sĩ Theodore Mangiapan, Chủ Tịch Ủy Ban Y Khoa Quốc Tế).