Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiên Tri. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiên Tri. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015

Ngẫm lại lời tiên tri về những đại thảm họa đang diễn ra năm 2015

Ngẫm lại lời tiên tri về những đại thảm họa diễn ra năm 2015

Lũ lụt, sạt lở đất, động đất, chiến tranh, núi lửa phun trào, sóng thần, lấn biển đều là những lời tiên tri cho năm 2015

Theo Mixtopten, nhà tiên tri Nostradamus đã tiên đoán về việc thế giới sẽ xảy ra nhiều biến động trong năm 2015.

Trong đó, sự khác biệt ngôn ngữ sẽ biến mất. Nostradamus còn tiên đoán núi lửa Vesuvius sẽ "thức giấc" và sẽ gây ra thảm họa khủng khiếp vào cuối năm 2015 hoặc đầu năm 2016.
Nostradamus (1503-1566) là dược sĩ, nhà tiên tri người Pháp.

Không chỉ vậy, Nostradamus cũng đưa ra tiên đoán trong tháng 11/2015, nhiệt độ trung bình của trái đất sẽ đạt đến 59 độ C và thế giới đại loạn sẽ phát sinh.

Các nhà tiên khác bao gồm Doris Hutchinson, Apostle Steve Lyston, Prophetess Michelle Lyston, Prophetess Sophia DiMuccio, Prophetess Nadra Brotherton và Prophet O. Onesto Jollycũng đã đưa ra dự báo cho năm 2015 như:

Địa chất:

- Lũ lụt, sạt lở đất, động đất, chiến tranh ở một vài nơi dẫn đến nạn đói có thể xảy ra trong năm 2015. Thảm họa tự nhiên như núi lửa phun trào, sóng thần, lấn biển sẽ là vấn đề thu hút sự chú ý hàng đầu.

Ô nhiễm đất và nước khiến nguồn hải sản bị sụt giảm. Các khu vực Trung Đông, Bắc Phi và châu Âu chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất.

An sinh

- Các vấn đề nợ, thuế, lao động, pháp luật, trị an sẽ được giải quyết dứt điểm, mang lại hy vọng cho mọi người.

- 2015 cũng là năm có những đôt phá về Y học. Các nghiên cứu từ các loại trái cây và thực vật sẽ giúp con người chữa nhiều bệnh nan y. Tuy nhiên, các bệnh về da vẫn đe dọa con người. Thay đổi khí hậu, những đợt nóng kỷ lục và mưa đá sẽ khiến nhiều người chết.
Những lời tiên đoán của Vanga

Trước đó, tiên đoán về năm 2014 của nhà tiên tri mù lòa Vanga đã khiến nhiều người sửng sốt về độ chính xác.

Nhà tiên tri mù Vanga

Trước khi qua đời, nhà tiên tri lỗi lạc này đã tiên đoán, đến năm 2014 “đa số người dân sẽ bị mụn nhọt, ung thư da và những chứng bệnh khác về da”. Và năm 2014 vừa qua, dịch Ebola đã cướp đi hàng nghìn mạng người. Đến giờ, dịch bệnh vẫn đang đe dọa cả nhân loại.

Tuy nhiên, bà Vanga không đưa ra bất cứ lời tiên đoán cụ thể nào cho năm 2015 mà chỉ dự báo cho các năm sau.

- Nhà tiên tri Vanga tiên đoán, năm 2016, Châu Âu gần như sẽ không có người sinh sống.

- Năm 2018, Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc thế giới mới. 

Được biết, bà Vanga qua đời vào năm 1996. Trước khi mất, bà nói rằng một cô bé mù 10 tuổi sống tại Pháp đã thừa kế được năng lực tiên tri của bà và thế giới sẽ sớm biết về người đó thôi. Tuy nhiên đã 16 năm trôi qua, thông tin về cô bé vẫn còn là một ẩn số bí ẩn chưa được khám phá…
Tin hay không tùy bạn

Dĩ nhiên trước quá nhiều thiên tai địch họa đang tiến đến rất gần như việcđộng đất ở Nepal ít ngay qua khi con số thương vong đã vượt ngưỡng 20.000 thì không ít người cho rằng lịch Maya thực sự có thể chấm dứt vào ngày 15/5/2015 như dự đoán trước đó.

Một cảnh trong chuỗi ảnh hậu động đất Nepal.

Trong khi đó, nhiều người cũng đã đề cập đến những lời tiên đoán của nhà tiên tri người Pháp Nostradamus vào thế kỷ 16.

Nostradamus được cho là đã tiên đoán đúng thời điểm diễn ra cuộc cách mạng Pháp; vụ ám sát Tổng thống Mỹ JFKennedy; sự kiện tòa tháp đôi ở New York sụp đổ trong vụ khủng bố 11/9/2001; sự xuất hiện của bom nguyên tử... vì thế những gì ông đoán tiếp cho tương lai đều có vẻ khiến nhân loại phải dè chừng.

Dẫn theo website predictionsofnostradamus.com, song song với thảm họa thì những điềm tốt cũng sẽ được phát triển, ví dụ như núi lửa Vesuvuius phun trào và người chết sẽ hồi sinh. Bù lại, rào cản ngôn ngữ loài người có vẻ như sẽ bị xóa bỏ. Nhiều cư dân mạng cho rằng phải chăng nó đã hiện thực hóa thông qua thiết bị thông dịch, chuyển ngữ mọi thứ tiếng do Microsoft sáng tạo và loài người đang sử dụng hiện thời?

Đã là tiên tri thì đúng, sai vẫn là điều bí ẩn. Bởi nếu nó là thật thì lẽ ra trái đất đã nổ tung vào ngày 21/12/2012. Đương nhiên không thể vì nó chưa chính xác mà ngồi đợi vào kết quả của các nhà tiên tri để xác nhận hậu quả thay vì nhân loại cố gắng tìm ra những giải pháp tốt đẹp hơn để ngăn ngừa thiên tai kề cận nhằm hạn chế tối đa thiệt hại và bảo vệ tương lai của chúng ta trong khả năng có thể.

Theo Đất Việt

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2015

Lời tiên tri của Thánh Malachy

VỊ GIÁO HOÀNG ÁP CUỐI CỦA THỜI SAU HẾT THEO LỜI TIÊN TRI CỦA THÁNH MALACHY? 

Vào Tuần Thánh năm 2010 này, quyền lực bóng tối đã khai hỏa cuộc tổng tấn công đánh thẳng vào Vatican, vào vị lãnh đạo giáo hội Công giáo là ĐGH Biển Đức XVI, sau cả chục năm các mặt trận truyền thông bùa phép bủa vây đánh vòng quanh ở nhiều nơi và nhiều phía. Và sau đó là các cơ quan từ tầm cỡ lớn đến các tờ báo ở mỗi địa phương đều đồng loạt tiền pháo hậu xung liên tiếp trong nhiều ngày, có bài bản, theo đúng chiến thuật và chiến lược trong một chiến dịch tổ chức qui mô như nhận định của giáo sư Elizabeth Lev. 
Tự nhiên nhiều người nhắc tới lời tiên tri của thánh Malachy được ghi lại vào năm 1139 khi viếng Roma, về 112 vị giáo hoàng, mà ĐGH Biển Đức là vị áp cuối cùng. 
Đức Giáo Hoàng áp cuối cùng, tức thứ 111, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy là "Vinh Quang của Cành Ô-liu" (Gloria Olivæ, the Glory of the Olive). Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo Hội trong thời kỳ khởi đầu cuộc bách hại.
Điều kỳ diệu là Chúa Giêsu nói lời tiên tri về thời tận cùng cũng trên núi Ô-liu. Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo hội trong thời kỳ khởi đầu sự bách hại mà Chúa Giêsu đã nói đến trong Kinh thánh. Vị Giáo hoàng này sẽ có liên quan tới cây/cành Ô-liu vẫn được xem là dấu chỉ của hòa bình, hay cũng có thể liên quan tới cây, trái ô-liu. Dòng thánh Benedict nói rằng vị Giáo hoàng này đến từ nhà dòng của họ, vì dòng còn được biết như là "những người của hòa bình". Thánh Benedictô đã nói tiên tri rằng trước ngày tận cùng của thế giới, người của nhà dòng ngài sẽ chiến thắng dẫn dắt Giáo hội chống lại sự dữ. 
Đức Giáo Hoàng thứ 112 cuối cùng, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy là "Phêrô thành Rôma". Lời tiên tri viết về vị Giáo hoàng thứ 112 này: "Trong thời kỳ bách hại sau cùng của Giáo hội La mã, Phêrô thành Rôma sẽ lên ngôi, người sẽ chăn dắt đoàn chiên giữa những cơn bách hại; sau khi một thành phố 7 đồi (tức Rôma) bị phá huỷ và một vị Quan Án kinh hoàng sẽ xét sử muôn dân." 
LẤY TÊN LÀ BÊNÊĐICTÔ
Những ngày sửa soạn bầu giáo hoàng kế vị Đức Gioan Phaolô II vào tháng 4 năm 2005, tôi tự nhiên nhớ lại hình như đâu đây có lời tiên tri về các vị giáo hoàng. Thế là tôi đã tìm trong mạng lưới và thấy ngay. Những lời tiên tri này là của thánh Malachy vào năm 1139. Ngài là giám mục giáo phận Armagh bên Ái nhĩ lan. Năm đó ngài có dịp về Roma bái kiến ĐGH Innocentê II. Trong thời gian ở đó, ngài đã thấy một thị kiến về 112 vị giáo hoàng sau đó, liền viết ra và trao cho ĐGH Innocentê II. 
Mỗi vị giáo hoàng đều được nói tới qua một câu bằng tiếng La-tinh diễn tả đặc điểm. Những lời tiên tri về các vị giáo hoàng trước đây khá đúng cách này hoặc các khác. Lời tiên tri về ĐGH Gioan Phaolô II là "De Labore Solis" nghĩa là Mặt Trời Lam Lũ hay Nhật Thực. Quả thực cuộc đời của ngài ra đi không ngừng nghỉ cho đến những ngày già cả bệnh tật cuối cùng.
Buổi tối ngày 18 tháng 4 năm 2005, ngày đầu tiên bầu giáo hoàng mà chưa có kết quả, tôi ngồi đọc những lời tiên tri trong danh sách 112 vị giáo hoàng, thì ĐGH Gioan Phaolô II là thứ 110. Và đức giáo hoàng kế vị sẽ là thứ 111, áp cuối cùng trong danh sách. 
Đây là vị giáo hoàng áp cuối vào thời sau hết? Câu nói trong lời tiên tri thánh Malachy về vị giáo hoàng này là "Vinh Quang Ngành Ô-liu" (Gloria Olivae, the Glory of the Olive). Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo hội trong thời kỳ khởi đầu sự bách hại mà Chúa Giêsu đã nói đến trong Kinh thánh. Vị Giáo hoàng này sẽ có liên quan tới cây/cành Ô-liu vẫn được xem là dấu chỉ của hòa bình. Dòng thánh Benedictô nói rằng vị Giáo hoàng này đến từ nhà dòng của họ, vì dòng còn được biết như là "những người của cành ô-liu". (The Benedictine order traditionally said this Pope would come from their order). Thánh Benedictô (Biền Đức) đã nói tiên tri rằng trước ngày tận cùng của trật tự thế giới, nhà dòng của ngài sẽ chiến thắng dẫn dắt Giáo hội chống lại sự dữ. 
Đọc xong tôi tự hỏi liệu những lời trên đây sẽ nghiệm tới cỡ nào. Vì trong các hồng y kỳ này có ai là từ dòng Bênêdictô đâu! 
Vậy là ngày hôm sau, 19 tháng 4, vào lúc 5:45 chiều giờ Roma (tức lúc 10:45 sáng giờ New Orleans), tôi mở TV thì thấy khói trắng đang bốc ra từ ống khói trên nóc nhà nguyện Sistine. Mọi người đang tuốn vào công trường thánh Phêrô để chứng kiến giây phút lịch sử. Đúng 6:05 thì chuông nhà thờ thánh Phêrô vang lên reo vui. Và giây phút quan trọng đã đến: đúng 6:40 chiều (giờ Roma) thì đức hồng y Jorge Medina Estivez tiến ra bao lơn đền thờ thánh Phêrô tuyên bố: "Habemus Papam" nghĩa là "Chúng Ta Đã Có Giáo Hoàng." Nhiều người hồi hộp chờ đợi, nghĩ rằng vị giáo hoàng mới chắc thế nào cũng lấy tên là Gioan Phaolô III để theo bước chân vị mục tử đang quá nổi tiếng. 
Lời tuyên bố tiếp: vị giáo hoàng mới là đức hồng y Josef Ratzinger, lấy tên là Benedictô XVI. 
Nghe vậy tôi bèn giật bắn người lên. Sao lần này lời tiên tri lại có thể đúng quá như thế. Chỉ khác là đức hồng y Josef Ratzinger không phải là người thuộc dòng Benedictô, nhưng lại lấy tên là Benedictô để nói lên cái tinh thần của thánh Benedictô chăng?
Thế là biết bao nhiêu suy diễn đầy tràn trên các mạng lưới. Rằng sắp đến ngày tận thế! Vì chỉ còn một vị nữa là hết danh sách! Câu nói tiên tri về vị giáo hoàng cuối cùng, tức thứ 112 là "Phêrô thành Rôma." "Trong thời kỳ bách hại sau cùng của Giáo hội Rôma, Phêrô thành Rôma sẽ lên ngôi, người sẽ chăn dắt đoàn chiên giữa những cơn bách hại; sau khi một thành phố 7 đồi (tức Rôma) bị phá huỷ và một vị Quan Án kinh hoàng sẽ xét sử muôn dân."
AI LÀ MALACHY?
Thánh Malachy sinh năm 1094 với tên gọi O'Margair trong một gia đình quý phái ở thành phố Armagh, Bắc Ái Nhĩ Lan. Ngài được rửa tội lấy tên La-tinh là Maelmhaedhoc, nhưng ngài được biết đến với tên gọi là Malachy. Sau một thời gian dài học hành, ngài quyết định thay vì sẽ làm công việc giống như cha ngài đang làm, ngài có ước muốn trở thành một linh mục Công giáo, thụ phong linh mục vào năm 1119 ở tuổi 25. Ngài tiếp tục theo học thần học ở Lismore. Năm 1127, ngài trở thành cha giải tội cho Cormac MacCarthy, hoàng tử của Desmond, người sau này trở thành Vua của Ái Nhĩ Lan. Ngài được phong làm Tổng Giám mục Armagh vào năm 1132. Thánh Malachy qua đời trong lúc hành hương Rôma lần thứ hai vào năm 1148. Ngài được Đức Thánh Cha Clemente III phong thánh vào ngày 6/7/1199. Điều kỳ diệu trong những lời tiên tri của Thánh Malachy là việc tiên đoán về ngày và giờ chết của chính ngài, và đã xảy ra đúng như thế. 
Thánh Malachy có ơn chữa lành giúp người bệnh tật. Ngoài ra, ngài còn có ơn bay bổng và ơn tiên tri thấu thị. Nhiều phép lạ đã xảy ra liên quan tới những mục vụ của Ngài. Ngài còn được ban cho ơn tiên tri, mà một trong nhưng lời tiên tri quan trọng nhất ngài nhận được trong một thị kiến ở Rôma vào năm 1139 liên quan đến những Vị Giáo Hoàng sau này - từ Đức Giáo Hoàng Innocent II cho tới thời kỳ tận cùng của thế giới. Ngài đã làm thơ để mô tả mỗi một Đức Giáo Hoàng, và đã trao bản viết tay cho Đức Giáo Hoàng Innocent II, và kể từ đó lời tiên tri của Ngài không được nhắc tới cho mãi đến năm 1590, thì được in ra sách, và đã trở thành điểm tranh luận nóng bỏng về tính chất nguyên thuỷ và chính xác của lời tiên tri. Theo như lời tiên tri của Thánh Malachy, thì chỉ còn 2 Đức Giáo Hoàng nữa sau Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì tới tận cùng thời gian, mà Đức Giáo Hoàng cuối cùng sẽ mang danh hiệu "Thánh Phêrô thành Rôma."
Thánh Malachy viết những lời tiên tri về các Đức Giáo Hoàng với những danh hiệu liên quan tới tên gọi nơi gia đình, nơi sinh, huy hiệu hay văn phòng đang nắm giữ trước khi được bầu lên Giáo hoàng. Một số đoạn viết là những lời tiên tri đa dạng được viết rất tài tình bởi lối dùng chữ. Thí dụ như, Đức Giáo hoàng Piô II làm Giáo Hoàng trong vòng 26 ngày vào năm 1503, được Thánh Malachy mô tả là "từ một người đàn ông nhỏ". Tên gia đình của ngài là Piccolomini, tiếng Ý nghĩa là "người đàn ông nhỏ". Thỉnh thoảng, quá khứ cá nhân của Đức Giáo Hoàng là một phần của biệt hiệu được viết bởi Thánh Malachy. Đức Giáo Hoàng Clement XIII (1758-1769) là người có những liên hệ với chính quyền Ý của bang Umbria và có huy hiệu là một bông hoa hồng, đã được Thánh Malachy mô tả với biệt hiệu là "Hoa hồng của Umbria."
Thời gian qua đi đã chứng tỏ cho những người nghi ngờ về lời tiên tri của thánh Malachy, vì những lời tiên tri của ngài đã thực sự chính xác đến độ làm ngạc nhiên người ta. 
CHAO ĐẢO HAY ĐỊNH HƯỚNG?
Hình như thiên hạ thích suy diễn về ngày tận thế. Ngay thời trước 1975 ở Việt Nam, lâu lâu dân chúng lại đổ đi mua nến vì sẽ có tối trời ba ngày! Rồi tới thời điểm chuyển sang thiên niên kỷ mới năm 2000, thiên hạ lại càng nhiều xôn xao. 
Danh sách chỉ có 112 không có nghĩa là không còn vị nào nữa. Thánh Malachy chỉ nhìn thấy tới đó thì sao? Mà thời tận cùng là thời kỳ gì? Tận cùng các vị giáo hoàng từ Âu châu? Tận cùng thời giáo hội bị điêu đứng, bị chao đảo, bị tấn công từ nhiều phía? Cứ nhìn vào những "bàn tay lông lá" của những "bạo chúa" truyền thông những năm qua và những ngày vừa qua thì rõ. Muốn dán nhãn hiệu xấu hay tốt, bảo thủ hay cấp tiến là cứ tự tiện khuynh đảo hành xử.
Tại sao đức tân giáo hoàng không lấy tên là Gioan Phaolô III mà lại chọn là Bênêđictô XVI? Điều này có liên hệ gì tới cành ô-liu hay tinh thần thánh Biển Đức và dòng Biển Đức? 
Nhiều người đã tiết lộ là đức hồng y Josef Ratzinger mỗi lần tĩnh tâm thường tới nhà dòng Monte Cassino ở gần Roma, là nơi thánh Biển Đức đã lập dòng vào thế kỷ thứ 6. Thánh Biển Đức đã khơi lên trong giáo hội một trào lưu nội tâm là đường hướng tốt nhất để vượt qua những chao đảo và bảo toàn được Giáo Hội vào thế kỷ thứ 6. 
Thế là mọi người đều tìm đọc bài giảng của đức hồng y Josef Ratzinger trưởng hồng y đoàn trong ngày khai mạc cơ mật hội. Và vỡ lẽ ra rằng đây không ngờ mà lại là một bài giảng mang tính chất tiên tri và viễn kiến mở hướng đi cho giáo hội đầy tin tưởng lạc quan trong những ngày sắp tới.
"Chúng ta không thể cứ mãi là những trẻ thơ trong đức tin, trong trạng thái vị thành niên. Cứ mãi là những trẻ thơ trong đức tin nghĩa là gì? Thánh Phaolô trả lời: nghĩa là “bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý.” (Eph 4:14). Một diễn tả rất thời sự!
Biết bao nhiêu làn gió chủ thuyết mà chúng ta đã biết đến trong những thập niên cuối cùng… Con thuyền nhỏ tư duy của nhiều Kitô hữu đã thường bị đánh bởi những đợt sóng này - trôi giạt từ thái cực này sang thái cực khác: từ Mác Xít tới chủ nghĩa tự do, tới mức chủ nghĩa tự do phóng túng; từ chủ nghĩa tập thể đến chủ nghĩa cá nhân; từ chủ nghĩa vô thần tới chủ nghĩa duy huyền bí tôn giáo mơ hồ; từ chủ nghĩa vô tín đến chủ nghĩa hỗn tạp và vân vân. Nhiều giáo phái mới được đẻ ra mỗi ngày và xảy ra điều mà Thánh Phaolô đã nói về sự lường gạt con người và sự tinh quái nhắm lôi kéo con người đến chỗ lầm lạc (x Eph 4:14). Có một đức tin rõ ràng, theo kinh Tin Kính của Giáo Hội, lại bị gán cho nhãn hiệu cuồng tín. Trong khi chủ nghĩa tương đối, nghĩa là để chính mình “bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý” dường như lại là cách thức hành xử duy nhất thức thời. Người ta đang thành lập một chế độ độc tài của chủ nghĩa tương đối, nó không nhìn nhận điều gì là chung kết và để cho cái tôi và ý muốn của mình là mẫu mực duy nhất."
TIN VUI CHIẾN THẮNG VINH QUANG CỦA CÀNH Ô-LIU (Chúa nhật 4c Mùa Phục sinh)
Vậy là câu trả lời đã khá rõ. Trong những tù mù xáo trộn bị sóng đánh trôi dạt, hãy tìm vào đời sống nội tâm và bầu khí phụng vụ thánh thiêng như tinh thần của thánh Biển Đức. Đây là lời quả quyết của chính đức hồng y Ratzinger trong bài giảng trên:
"Trái lại chúng ta có một mẫu mực khác, đó là Con Thiên Chúa, là người thật. Ngài là thước đo của chủ nghĩa nhân bản đích thật. Đức tin “trưởng thành” không phải là một đức tin trôi theo những làn sóng thời thượng hay mốt mới. Đức tin với vóc dáng đầy đủ và trưởng thành là một đức tin ăn rễ sâu xa nơi tình bằng hữu với Chúa Kitô."
Tin Mừng tuần này trả lời như vậy. Đang khi quyền lực bóng tối xem chừng tung hoành lấn lướt và nhiều người nghĩ Chúa như ngủ quên để mặc, thì Chúa có mặt ra tay và giõng giạc tuyên bố: 
27 “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi.28 Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.” (Gioan 10:27-28)
Trong lúc thiên hạ bàn tán về một ngày tận thế mơ hồ nào đó, trong lúc nhân loại càng lún sâu vào xô xát giẫy giụa do những xung khắc tham vọng quyền lực hay những bùa phép toàn cầu của "trật tự mới", khiến lòng người chao đảo, tâm hồn tín hữu xôn xao mất hướng đi, ĐGH Biển Đức XVI đang mở hướng đối thoại hòa giải và hóa giải. Mọi người đang chờ đợi một vị lãnh đạo, với cành ô-liu vinh thắng, tiếp tục hô to như ĐGH Gioan Phaolô II: "Đừng Sợ!" Vì chính Chúa là con đường và là người dẫn đường. Dù chỉ với con người dòn mỏng, ĐGH Gioan Phaolô II đã làm thay đổi thế giới và lòng người thời đại. Dù với bàn tay run rẩy của tuổi già bệnh tật, ĐGH Gioan Phaolô II vẫn thu hút cả mấy triệu người trẻ trong mỗi dịp đại hội giới trẻ thế giới. Và ngay dù đã nằm xuống, xác thân bất động, con người với ơn thánh đó đã kéo biết bao triệu người tuốn về Roma trong ngày vỗ cánh bay lên. Đó là sức mạnh của niềm tin và của con tim nhân ái xóa bỏ được mọi làn ranh.
"Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa." (Gioan 14:12)
TỪ MỘT THỜI BỊ NGUYỀN RỦA TỚI MỘT THỜI ĐƯỢC CHÚC PHÚC 
Sắp sửa tận thế hay sửa soạn một thời ân sủng? Bài giảng mang chất tiên tri này đã xướng lên ngay từ đầu: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh này" (Lc 4:21), là "công bố một năm hồng ân của Chúa." 
Bênêdictô từ tiếng La-tinh có nghĩa là Được Chúc Phúc, Được Ban Hồng Ân. Ở đây chữ "Lòng Thương Xót Chúa" (Divine Mercy) được nhắc đi nhắc lại. Bởi chính Đức Kitô đã bằng lòng mang lấy "toàn bộ gánh nặng của sự ác, toàn thể quyền năng hủy diệt của nó." Ngài đã trả giá cho những hồng ân đó bằng nhận lấy "ngày báo phục của Thiên Chúa" (Is 61:2)
“Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá”(1 Pet 2:24). Và Thánh Phaolô đã viết cho các tín hữu Galát : “Đức Ki-tô đã chuộc chúng ta cho khỏi bị nguyền rủa vì Lề Luật, khi vì chúng ta chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa, vì có lời chép: Đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ! Như thế là để nhờ Đức Giê-su Ki-tô, các dân ngoại cũng được hưởng phúc lành dành cho ông Áp-ra-ham, và để nhờ đức tin, chúng ta nhận được ơn Thiên Chúa đã hứa tức là Thần Khí.” (Gal 3:13).
Như thế, thay vì nhiều người cứ nghĩ tới ngày "bị nguyền rủa," bằng chính những hành động tự hủy của con người như thảm cảnh Nhà Tháp Đôi ở New York hay những vụ ôm bom tự sát để "đóng cửa trần gian," ĐGH Biển Đức mang danh hiệu đầy chất tiên tri "Được Chúc Phúc" đang mở ra một thời hồng ân của cuộc chiến thắng do chính Chúa Giêsu dẩn đầu. Đây lại chẳng phải là một lời tiên tri trong một viễn kiến đầy tin tưởng, hy vọng và tươi sáng hay sao?
“Hãy can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian.” (Gioan 16:33)
Lm. Trần Cao Tường
---
Xin mời xem Những Lời Tiên Tri Liên Quan Tới 112 Vị Giáo Hoàng, 
LỜI TIÊN TRI CỦA THÁNH MALACHY VỀ CÁC ĐGH THỜI CUỐI CÙNG
Lời ngỏ: Đây là bản dịch về lời tiên tri của thánh Malachy về các Đức Giáo Hoàng thời cuối cùng. Bài này không có ý gây lo sợ, bởi vì những người tin vào Chúa Kitô thì không có gì phải sợ, và chính Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đã nhất mạnh: "Đừng sợ!". Cần cầu nguyện để xin Thiên Chúa soi sáng khi phân định lời tiên tri này.
Thánh Malachi sinh năm 1094 với tên gọi O'Margair trong một gia đình quý phái ở thành phố Armagh, Bắc Ái Nhĩ Lan. Ngài được rửa tội với tên gọi Maelmhaedhoc. Tên Maelmhaedhoc được La-tinh hóa và ngài được biết đến với tên gọi là Malachy. Sau một thời gian dài học hành, ngài quyết định thay vì sẽ làm công việc giống như cha ngài đang làm, ngài có ước muốn trở thành một linh mục Công giáo. 
Ngài được thụ phong vào năm 1119 ở tuổi 25. Ngài tiếp tục theo học thần học ở Lismore. Năm 1127, ngài trở thành cha giải tội cho Cormac MacCarthy, hoàng tử của Desmond, người sau này trở thành Vua của Ái Nhĩ Lan. Ngài được phong làm Tổng Giám mục Armagh vào năm 1132. Thánh Malachi qua đời trong lúc hành hương Rôma lần thứ hai vào năm 1148. Ngài được Đức Thánh Cha Clemente III phong thánh vào ngày 6/7/1199. Điều kỳ diệu trong những lời tiên tri của Thánh Malachi là việc tiên đoán về ngày và giờ chết của chính ngài, và đã xảy ra đúng như thế. 
Thánh Malachi có ơn chữa lành giúp người bệnh tật. Ngoài ra, ngài còn có ơn bay bổng và ơn tiên tri thấu thị. Nhiều phép lạ đã xảy ra liên quan tới những mục vụ của Ngài. Ngài còn được ban cho ơn tiên tri, mà một trong nhưng lời tiên tri quan trọng nhất ngài nhận được trong một thị kiến ở Rôma vào năm 1139 liên quan đến những Vị Giáo Hoàng sau này - từ Đức Giáo Hoàng Innocent II cho tới thời kỳ tận cùng của thế giới. Ngài đã làm thơ để mô tả mỗi một Đức Giáo Hoàng, và đã trao bản viết tay cho Đức Giáo Hoàng Innocent II, và kể từ đó lời tiên tri của Ngài không được nhắc tới cho mãi đến năm 1590, thì được in ra sách, và đã trở thành điểm tranh luận nóng bỏng về tính chất nguyên thuỷ và chính xác của lời tiên tri. Theo như lời tiên tri của Thánh Malachi, thì chỉ còn 2 Đức Giáo Hoàng nữa sau Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì tới tận cùng thời gian, mà Đức Giáo Hoàng cuối cùng sẽ mang danh hiệu "Thánh Phêrô thành Rôma".
Thánh Malachi viết những lời tiên tri về các Đức Giáo Hoàng với những danh hiệu liên quan tới tên gọi nơi gia đình, nơi sinh, huy hiệu hay văn phòng đang nắm giữ trước khi được bầu lên Giáo hoàng. Một số đoạn viết là những lời tiên tri đa dạng được viết rất tài tình bởi lối dùng chữ. Thí dụ như, Đức Giáo hoàng Piô II làm Giáo Hoàng trong vòng 26 ngày vào năm 1503, được Thánh Malachi mô tả là "từ một người đàn ông nhỏ". Tên gia đình của ngài là Piccolomini, tiếng Ý nghĩa là "người đàn ông nhỏ". Thỉnh thoảng, quá khứ cá nhân của Đức Giáo Hoàng là một phần của biệt hiệu được viết bởi Thánh Malachi. Đức Giáo Hoàng Clement XIII (1758-1769) là người có những liên hệ với chính quyền Ý của bang Umbria và có huy hiệu là một bông hoa hồng, đã được Thánh Malachi mô tả với biệt hiệu là "Hoa hồng của Umbria".
Thời gian qua đi đã chứng tỏ cho những người nghi ngờ về lời tiên tri của Thánh Malachi, vì những lời tiên tri của ngài đã thực sự chính xác đến độ làm ngạc nhiên người ta. Có tất cả 112 vị Giáo hoàng với những chân tính được liệt kê kể từ Đức Giáo Hoàng Celestine II năm 1143 cho tới thời tận cùng của thế giới.
10 GIÁO HOÀNG SAU CÙNG
1. Đức Giáo Hoàng Piô X 1903-1914, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Lửa Cháy", tên thật là Giuseppe Melchiarre Sarto. Trong thời gian ngài làm Giáo hoàng, lục điạ Âu châu bùng cháy cuộc chiến tranh như đám lửa cháy lan từ quốc gia này tới quốc gia khác cho mãi tới năm 1914, chiến tranh đã bao phủ toàn bộ lục điạ Âu châu.
2. Đức Giáo Hoàng Benedict XV (1914-1922) biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Tôn Giáo Tiêu Tàn", tên thật là Giacomo Della Chiesa. Đức Giáo Hoàng Benedict XV được biết đến là Đức Giáo Hoàng của chiến tranh, vì lửa chiến tranh bất hòa làn tràn khắp ra thế giới. Ngài đã chứng kiến chủ nghĩa cộng sản đi vào Liên Bang Sô Viết khiến đời sống tôn giáo bị tiêu huỷ, chiến tranh thế giới thứ nhất gây thương vong cho hàng triệu người Kitô giáo như trong cuộc tàn sát ở cánh đồng Flanders và ở nhiều nơi khác.
3. Đức Giáo Hoàng Piô XI (1922-1939), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Đức tin sắt son", tên thật là Achilee Ratti. Là vị Giáo hoàng chứng kiến thế giới chuẩn bị cho một hậu quả của một cuộc chiến để chấm dứt các cuộc chiến. Ngài chứng kiến phong trào phá thai ở Âu châu ra đời, và sự phát triển của chủ nghĩa vô thần được giảng dạy cho các giới trẻ trong các trường đại học và đầu độc để loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi đầu óc những người công dân của một trật tự thế giới mới. 
4. Đức Giáo Hoàng Piô XII (1939-1958), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Mục tử thiên thần", tên thật là Eugento Pacelli. Ngài đã dành thời giờ trong thời gian đầu làm giáo hoàng trong lãnh vực ngoại giao của tòa thánh Vatican. Ngài là sự chọn lựa tự nhiên theo sau Đức Giáo hoàng Piô XI vì không có vị lãnh đạo giáo hội nào có đủ kinh nghiệm điều hành giáo hội, và với các lãnh đạo quốc gia trong cuộc xung đột thế giới.
5. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958-1963), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Chủ chăn và thuỷ thủ", tên thật là Angelo Giuseppe Roncalli. Đức Gioan 23 là tổng Giám Mục Areoplis của Palestine trong khoảng thời gian khai sinh quốc gia Dothái, năm 1953 Đức Giáo Hoàng Piô XII phong ngài làm Hồng Y của Venice. Ngài được xem là vị Giáo hoàng được yêu mến nhất trong các Đức Giáo Hoàng cận đại. Những sử học gia tin rằng ngài được Thánh Malachi tiên tri là thuỷ thủ vì thành phố Venice là một thành phố nước. Thế nhưng cũng có thể khi ngài là tổng Giám mục của Palestine, ngài được coi là một "thuỷ thủ rao giảng" bởi vì miền đất của dân ngoại và Hồi giáo có liên quan trong lời tiên tri là "biển cả".
6. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI (1963-1978), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Hoa của các loài Hoa" tên thật là Giovanni Battista Montini, Ngài làm Giáo hoàng 15 năm. Danh hiệu của ngài là ba bông hoa huệ Iris.
7. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I (1978-1978 - 33 ngày), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "trăng bán nguyệt", tên thật là Albino Buciani, là vị Giáo hoàng chăn dắt Giáo hội trong thời gian ngắn nhất là 33 ngày. Khi ngài được bầu Giáo hoàng ngày 26/8/1978, là thời gian có trăng hình bán nguyệt. Trong thời gian ngài làm Giáo hoàng, sự nổi dậy của các nhóm Hồi giáo quá khích chống lại thế giới dân ngoại bùng nổ. Tổ chức OPEC dầu hỏa ra đời, và các quốc gia Ảrập dùng vũ khí dầu hỏa của họ để chống lại các quốc gia kỹ nghệ. Dấu hiệu của Hồi giáo là hình "trăng bán nguyệt". 
8. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II (1978-2005), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Nhật thực" hay cũng còn có nghĩa là "Mặt trời lam lũ". Ngài là hoàng tử người Balan của Giáo hội Công giáo. Ngài là vị Giáo hoàng đã có công trong việc làm cho chủ nghĩa cộng sảng sụp đổ. Trong suốt 25 năm làm Giáo hoàng, ngài đã tông du nước ngoài trên 100 lần và cái chết lịch sử của Ngài đã lôi kéo trên 3 triệu người tham dự tang lễ. Ngày ngài sinh ra ngày 18/5/11920 vào buổi sáng có hiện tượng nhật thực trên toàn cõi Âu châu, và ngày ngài qua đời cũng có nhật thực bán phần trên vùng trời Bắc Mỹ. 
9. Đức Giáo Hoàng áp cuối cùng, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi là "Vinh Quang Cành Ô-liu". Điều kỳ diệu là Chúa Giêsu nói lời tiên tri về thời tận cùng cũng trên núi Ô-liu. Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo hội trong thời kỳ khởi đầu sự bách hại mà Chúa Giêsu đã nói đến trong Kinh thánh. Vị Giáo hoàng này sẽ có liên quan tới cây/cành Ô-liu vẫn được xem là dấu chỉ của hòa bình, hay cũng có thể liên quan tới cây, trái ô-liu. Dòng thánh Benedict nói rằng vị Giáo hoàng này đến từ nhà dòng của họ, vì dòng còn được biết như là "những người của hòa bình". Thánh Benedictô đã nói tiên tri rằng trước ngày tận cùng của thế giới, nhà dòng của ngài sẽ chiến thắng dẫn dắt Giáo hội chống lại sự dữ. 
10. Đức Giáo Hoàng thứ 112 cuối cùng, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Phêrô thành Rôma". Lời tiên tri viết về vị Giáo hoàng thứ 112 này: "Trong thời kỳ bách hại sau cùng của Giáo hội La mã, Phêrô thành Rôma sẽ lên ngôi, người sẽ chăn dắt đoàn chiên giữa những cơn bách hại; sau khi một thành phố 7 đồi (tức Rôma) bị phá huỷ và một vị Quan Án kinh hoàng sẽ xét sử muôn dân." 

Trở ngại với những lời tiên tri được liệt kê trong sách Những Lời tiên tri của Thánh Malachi xuất bản bởi Thomas A. Nelson, một nhà sách xuất bản Công giáo thì bản nguyên thuỷ của Thánh Malachi chỉ có 111 Đức Giáo Hoàng, chứ không phải là 112 như trong bản màu nâu xuất bản sau này. Trong khoảng giữa ấn bản thứ nhất và ấn bản sau này thì vị Giáo hoàng 112 là Phêrô Thành Rôma được thêm vào trong lời tiên tri của Thánh Malachi.
Theo Thanhlinh.net

Thứ Năm, 19 tháng 2, 2015

Tiên tri về ngày tận thế của tộc người Hopi, bậc thầy không gian

Tiên tri về ngày tận thế của tộc người Hopi, bậc thầy không gian

Hơn bất cứ bộ lạc nào khác ở Bắc Mỹ, sự phát triển của người da đỏ Hopi hoàn toàn đi theo lời truyền dạy và yêu cầu từ trong kho tàng tiên tri.

Những lời tiên đoán liên quan đến sự sống không chỉ đơn thuần nhắm đến chính tộc người Hopi mà còn bao quát sự kiện diễn ra trên toàn thế giới.

Dân Hopi bao gồm nhiều tộc người di cư đến “vùng trung tâm” Tuuwanasavi tại miền bắc Arizona. Không xuất phát từ cùng một bộ lạc đồng nhất, nguồn gốc những lời tiên tri của bộ tộc này mang tính chắp vá nhưng vô cùng phong phú. Việc thiếu đi thông tin rõ ràng cũng làm nên những bí ẩn về bản chất tự nhiên của người Hopi.

Những người nông dân định cư sống biệt lập trong những ngôi nhà vách đá đơn sơ trên cao nguyên hoang mạc Nam Mỹ nhìn thấy được tương lai tại các kiva (nhà nguyện của cộng đồng nằm dưới lòng đất). Nhiều lần, họ đơn giản không có ý định tiết lộ điều mình thấy cho thế giới bên ngoài.

Một kiva tại làng Oraibi, cộng đồng định cư cổ xưa nhất ở lục địa Bắc Mỹ, được xây dựng năm 1100 sau Công Nguyên.

Giống như người Maya, người Hopi nhìn nhận số năm tồn tại của một thế giới được vận hành theo chu kì thời gian. Tộc người này tin rằng chúng ta từng trải qua 3 thảm họa thế giới. Thế giới Thứ nhất bị tiêu hủy bởi lửa khi một sao chổi, tiểu hành tinh tấn công hoặc cũng có thể là phun trào núi lửa. Thế giới Thứ hai bị tiêu hủy bởi băng, một Kỷ Băng Hà khắc nghiệt. Theo ghi chép của nhiều nền văn hóa trên toàn thế giới, một trận lụt kinh hoàng đã nhấn chìm Thế giới Thứ ba.

Tận thế không chỉ đơn thuần là sự biến đổi ngẫu nhiên của Trái đất hay hiện tượng vật lý thiên văn, mà đó là việc con người coi thường cả Đất Mẹ lẫn lời kêu gọi linh thiêng của Đấng Tạo Hóa.

Nói cách khác, sự kiện đại hồng thủy trong thế giới tự nhiên có mối quan hệ nhân quả với một tập thể lớn hay xuất phát từ những hành động tiêu cực của con người.

Không giống người Maya, người Hopi hiếm khi quan tâm đến ngày chuyển đổi của tân thế kỷ. Người ta cho rằng, người Maya là bậc thầy về thời gian, trong khi tộc Hopi là chuyên gia về không gian.

Sống trên ba đỉnh núi bằng cổ đại, người Hopi thực hành các nghi thức linh thiên hằng năm để giữ trạng thái cân bằng không chỉ cho chính họ mà còn cho cả thế giới.

Theo thời gian, nhiệm vụ này đối mặt với nhiều khó khăn hơn do cuộc sống tạm bợ của nhân loại cùng với công nghệ phát triển và những cám dỗ thô thiển không ngừng xói mòn lối sống và giá trị của tổ tiên người Hopi. Ngày càng ít thế hệ trẻ Hopi biết về ngôn ngữ, trang phục và nghi thức nguyên sơ của tộc người mình. Ngày càng nhiều người Hopi rời nơi sinh sống để tìm công ăn việc làm trong khu vực đô thị. Chính tộc người này cũng đối mặt với các vấn đề ngày càng tồi tệ phát sinh từ xung đột sắc tộc, nghiện hút. Dấu hiệu cơ bản của “Thời điểm Tận thế” hiện diện khắp mọi nơi.

Nhiều người Hopi lớn tuổi, hay còn được gọi là kikmongwi cho biết chúng ta đang sống trong thời điểm kết thúc của Thế giới Thứ tư. Hơn 60 năm qua, những người Hopi khác nhau đã tiên đoán về sự thay đổi của Trái đất báo hiệu sự kết thúc của chu kì thế giới hiện tại và thiết lập nên Thế giới Thứ năm. Năm 1970, thủ lĩnh Dan Katchongva, làng Hotevilla, người qua đời ở cái tuổi 112 đã nói về sự tình ngày càng xấu đi vào thời đại của chúng ta.

Những lời tiên tri về tận thế được đưa ra không phải để hăm dọa, trêu chọc hay trục lợi mà để cảnh tỉnh con người và nhắc nhở họ về nguồn cội, dũng khí và niềm tin chân chính.

“Máu sẽ đổ. Tóc tai và quần áo rải rác khắp mặt đất. Thiên nhiên sẽ chuyện trò với chúng ta bằng hơi thở hùng mạnh của gió. Sẽ có động đất và lũ lụt gây thảm họa nghiêm trọng, thời tiết biến đổi, sinh vật hoang dã biến mất và nạn đói kém xảy ra với nhiều hình thức. Tham nhũng lũy tiến và xung đột giữa các lãnh đạo và người dân trên khắp thế giới, rồi chiến tranh như những ngọn gió mạnh mẽ. Tất cả đã được định sẵn từ thời điểm khai thủy của thế giới.

Hai con đường đời trên tảng đá tiên tri
Hình vẽ trên Đá Tiên tri được họa lại.

Một thầy mo lớn tuổi khác cũng đến từ Đỉnh núi bằng Thứ ba là David Monongye, người sống lâu hơn Grandfather Dan, cảnh báo: Khi động đất, lũ lụt, mưa đá, hạn hán, đói kém sẽ là hiện tượng mỗi ngày thì đã đến lúc chọn lựa trở về với con đường chân chính hay vẫn tiếp tục lối đi zig-zag (lối đi lầm lạc)”.

Con đường zig-zag là hình vẽ được tìm thấy trên tảng đá tiên tri, một tổ hợp hình khắc trên đá tại bắc Arizona. Đường zig-zag nằm trên hai đường song song. Người ta cho rằng, hình ảnh này đại diện cho con đường của những kẻ Hai lòng (Two-Hearts), loại người đang tàn phá Đất mẹ, sống trái với các nguyên tắc sinh thái và quy luật tự nhiên. Mặt khác, ở đường kẻ bên dưới là con đường đi của người Nhất Tâm (One-Hearts), những người gần gũi với đất đai và nuôi trồng ngũ cốc, rau quả, vốn gắn liền với con đường của người Hopi.

Đường vẽ bên trên bị tách rời ra khỏi thế giới tự nhiên và hoàn toàn đắm chìm trong thực tế nhân tạo phi tự nhiên của công nghệ. Người Hopi gọi lối sống này là koyaanisqatsi, có nghĩa là “thế giới mất cân bằng” hoặc “cuộc sống đạo đức sa đọa và thối nát”. Đường vẽ bên dưới bắt nguồn từ thanh âm từ lòng đất, tìm thấy nguồn động lực nuôi dưỡng tinh thần từ phấn hoa ngô, ánh nắng và mưa, một cuộc sống tuân theo đấng Sáng thế và Linh hồn Vĩ đại.

Khối đá sa thạch lớn này hướng mặt về phía Đông được khắc vào thời cổ đại với nhiều hình tượng đa dạng. Các hình khắc được tạc trên bề mặt thẳng thẳng đứng. Nhân vật tại góc trái bên dưới làMasau’u, vị thần của người Hopi cai quản cái chết, lửa và cõi trần gian. Ông mang theo cung tên hướng vào thế giới bên dưới (Thế giới Thứ Ba). Tay trái của ông nắm lấy con đường hướng đến Thế giới Thứ Tư. Vòng tròn đại diện cho Trái Đất hoặc đường chân trời. Dấu chữ thập ám chỉ sự xâm nhập của người Tây Ban Nha vào vùng đất người Hopi.

Hình vuông tượng trưng cho làng mạc, nhà cửa và lãnh thổ Hopi.

Hai đường song song xéo lên được cho hai con đường đời của nhân loại khi Thế giới Thứ tư kết thúc.

Trên đường vẽ bên dưới, người ta còn thấy 3 vòng tròn đại diện cho “ba hiện tượng chấn động thế giới” hay ba cuộc chiến thế giới. Phía bên phải của vòng tròn cuối cùng là thân cây ngô và một người Hopi đang chăm sóc ngô. Con đường này được tiếp nối qua bề mặt khác của khối đá, trong khi con đường zig-zag phía trên đứt đoạn giữa chừng.

Một vạch nằm giữa hai đường song song và vuông góc biểu thị cơ hội cuối cùng cho người Hai lòng bước xuống con đường chân chính của cuộc đời.

Theo ông Martin Gashweseoma từ Fire Clan của làng Hotevilla trên Đỉnh núi bằng Thứ ba, đường bên dưới đại diện cho “cuộc sống vĩnh hằng” và mặt trời đang lên. Khi kiểm tra hình vẽ này, người ta thấy rằng nếu một người đứng quay lưng vào tảng đá sẽ trực tiếp hướng mặt về ngay một vị trí trên đường chân trời nơi mặt trời mọc vào ngày hạ chí. Người Hopi cho rằng, vào thời điểm này, Taawa, vị thần Mặt trời có được uy lực mạnh mẽ nhất bên trong Taawaki, ngôi nhà mùa hè.

Ông Martin Gashweseoman, Fire Clan, làng Hotevilla, Arizona, bên cạnh Đá Tiên tri.

Dấu hiệu kết thúc Thế giới Thứ tư

Nhiều bô lão của tộc Hopi công khai tiên đoán rằng thế kỷ 20 là thời điểm kết thúc Thế giới Thứ Tư. Điều này liên quan đến các dấu hiệu ngày càng gia tăng như sự mất cân bằng xã hội, chính trị. Các biến động trên Trái Đất như động đất, sóng thần, bão, lốc xoáy, lũ lụt lớn và nạn đói. Nhắc đến những điều này người ta còn liên tưởng đến đại dịch Ebola đang hoành hành châu Phi khiến gần 5.000 người thiệt mạng tính đến hết tháng 10/2014. Con số người tử vong theo dự đoán của Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát dịch bệnh của Mỹ (CDC) tính đến tháng 01/2015 trong trường hợp tệ nhất có thể lên đến 1,4 triệu người.

Người Hopi cũng tiên đoán, những biến đổi trong công nghệ cũng sẽ là dấu hiệu kết thúc Thế giới Thứ tư. Đã từ lâu, trước khi nó xảy ra, người lớn tuổi đã nói về một “bầu tàn tro” rơi xuống Trái Đất. Điều này có thể khiến người ta liên tưởng đến bom nguyên tử.

Tiên tri người Hopi còn nói về việc con người cưỡi trên “cỗ xe không ngựa” bước trên những dải băng đen. Thêm vào đó, những phương tiện không gian sẽ du hành trên các con đường nơi thiên giới. Người Hopi còn đề cập đến một trong những dấu hiệu kết thúc là con người “sống trên bầu trời” (Trạm Không gian Quốc tế).

Một điều cần hiểu là tiên tri Hopi không phải là văn bản gần đây đề cập đến các vấn đề thời sự của thế giới, mà những phát biểu này đã ra đời cách đây hàng thế kỷ thậm chí là hàng thiên niên kỷ và được truyền miệng qua bao thế hệ không hề thay đổi.

Theo Tinhhoa

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

Những lời tiên tri trùng khớp với nội dung được ghi trong Sách Khải Huyền

Những tiên đoán đáng sợ của Nostradamus về năm 2015

Núi lửa phun trào, người chết sẽ ‘sống lại’… là một trong những tiên đoán đáng sợ của nhà tiên tri Nostradamus về năm 2015.

Nostradamus tiên đoán thế giới sẽ xảy ra nhiều biến động trong năm 2015. Trong đó, sự khác biệt ngôn ngữ sẽ biến mất bởi sự xuất hiện của một cỗ máy có khả năng dịch mọi thứ tiếng.

Người chết sẽ sống lại là tiên đoán tiếp theo của Nostradamus. “Khi địa ngục không còn nhiều phòng, những người chết được chôn cất sẽ đi ra khỏi ngôi mộ của họ”. Tiên đoán đáng sợ này của Nostradamus có nhiều điều trùng khớp với nội dung được ghi trong sách Khải huyền.

Nostradamus tiên đoán núi lửa Vesuvius nằm ở vịnh Naples, Ý sẽ “thức giấc” và gây ra thảm họa khủng khiếp vào cuối năm 2015 hoặc đầu năm 2016. Và đây có thể là vụ phun trào tồi tệ nhất của núi lửa này kể từ năm 1631.
Động đất có thể xảy ra trong khoảng 5 – 10 phút trước khi dung nham chảy thành dòng suối đỏ rực và khiến 6.000 – 16.000 người thiệt mạng.

“Vua chúa sẽ chiếm lấy những khu rừng và bầu trời sẽ mở ra. Nhiều nơi sẽ bị thiêu đốt”. Nostradamus cảnh báo việc phá hủy các khu rừng mưa sẽ khiến cho tầng ozone bị thủng, khi đó cả con người và hệ động thực vật trên Trái đất sẽ phải gánh chịu những hậu quả nặng nề từ tia cực tím.

Trong tháng 11/2015, nhiệt độ trung bình của Trái đất sẽ đạt đến 59 độ C và thế giới sẽ phát sinh đại loạn là tiên đoán cuối cùng của Nostradamus về năm 2015 này.

Theo Kienthuc

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015

Thị Kiến Lạ Lùng Của Thánh Gioan Don Bosco

Buổi chiều ngày 26 tháng 5 năm 1862, thánh Don Bosco đã được thị kiến sau đây. Vì ý nghĩa rất hiển nhiên cho thế giới ngày nay, ở đây chúng tôi tóm lược thị kiến đó:

“tôi thấy mình đang trên một đảo nhỏ bằng đá giữa biển khơi. Một trận cuồng phong dữ dội nổi lên. Rồi tôi tháy một con tầu vĩ đại và hùng mạnh bị nhồi lên nhận xuống, cuốn chôi nổi đây đó bởi trận cuồng phong. Trên con tầu đó tôi thấy Đức Giáo hoàng, và các Đức Hồng y, các Giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và rất đông dân chúng. Tôi hiểu rằng con tầu này phải hàm ý là Hội thánh Công giáo. Vậy quanh con tầu vĩ đạo đó, tôi lại thấy nhiều con tầu mạnh mẽ khác. Nhưng nhiều hặc ít thì tất cả chúng xem ra đều là những con tầu đối nghịch, chúng xô vào và gây nhiều tổn thất cho con tầu Giáo hội. Trong một trận tấn công hùng bạo ác liệt, tôi thấy chính Đức Giáo hoàng bị thương trầm trọng, ngài đã ngã xuống. Nhưng các Đức Hồng y trên con tầu đó lập tức chọn nay một vị Giáo hoàng mới trong các vị Hồng y đang hiện diện. Tin tức về cái chết của vị Giáo hoàng quá cố và việc bầu chọn người kế vị của ngài được công bố cùng một lúc trên khắp thế giới. Vị Giáo hoàng mới đắc cử hiểu rõ nhiệm vụ vô cùng khó khăn của ngài. Con tầu Giáo hội bị khốn đốn vì những thiệt hại rất nặng nề, khủng khiếp và xem ra nó không tránh khỏi sự xụp đổ trước các kẻ thù hung tợn, dũng mãnh hơn, chúng hầu như nắm chắc rằng bây giờ là giờ chiến thắng của chúng. Nhưng rồi tôi thấy thình lình nhô lên khỏi mặt biển tăm tối và cuồng phong thét gào là hai thạch trụ thẳng đứng bằng ánh sáng. Bên trên thạch trụ hùng vĩ, sừng sững thứ nhất, tôi thấy lơ lửng một Minh Thánh trắng toát vĩ đại, trên chính thân thạch trụ này có khắc ghi rằng; Salus credentium, nghĩa là ơn cứu độ cho những ai tin. Xa hơn, nhỏ hơn một chút là thạch trụ thứ hai mà bên trên có pho tượng Đức Maria. Trên thân thạch trụ này, tôi thấy có ghi khắc rằng; Auxilium Christianorum nghĩa là cứu giúp các Kitô hữu.

Đang giữa cơn cuồng phong bão tố và tăn tối, giữa cơn nguy biến khốn cùng, được thứ ánh sáng này chiếu toả, cả con tầu Giáo hội lại bừng dạy niềm hy vọng mới.

Vị Giáo hoàng mới đắc cử lệnh cho con tàu Giáo hội lái thẳng hướng về phía hai thạch trụ ánh sáng. Nơi đây, con tầu được cột và thả neo an toàn. Khi đã xong, going bão dịu xuống và tăn tối nhường chỗ cho ngày mới huy hoàng.

Rồi tôi lại thấy các con tầu đối nghịch kia đi vào một con đường rối loạn cùng khắp, đâm bổ vào nhau, gây lủng lỗ và thiệt hại nặng nề. Chúng tán loạn và biến mất khỏi cảnh này, nhiều người được sống sót trên những con tầu đó, họ bán vào những mảnh vụn của những con tầu bị bể vỡ tìm đường bơi về phía con tầu Giáo hội. Ở đây, họ được thân ái cứu lên boong tầu Giáo hội.

Thánh Don Bosco cũng hay nhắc lại thị kiến này và giải thích; Giáo hội sẽ sẽ trải qua một thời giông bão khốc liệt và những thiệt hại nặng nề. Nhưng chính thiên đường đã can thiệp và cứu vớ Giáo hội. Thời kỳ gian khó rồi cuối cùng cũng chấm dứt, và sẽ có hoà bình. Bởi vì Hội Thánh sẽ trở thành một Mùa Xuân mới vinh hiển.

Từ khi thánh Don Bosco được thị kiến này cho tới nay đã hơn một thế kỷ, Giáo hội đã phải trải qua nhiều thời kỳ gian nan khốn khó, nhưng với sự cứu giúp của Thiên Chúa, Giáo hội vẫn vững vàng và kiên trung trong dòng lịch sử của nhân loại.

Hy vọng là tin vào Bí tích Thánh Thể và trông cậy vào Đức Maria là nguồn trợ lực duy nhất cho chúng ta.

Đức Maria ‘hoa hồng mầu nhiệm’ chắc chắn sẽ chỉ rõ cho chúng ta hai phương tiện giải thoát và cứu rỗi này. Đức Maria không chỉ đòi cầu nguyện ăn năn, thống hối, hy sinh và đền tội cho ifkhacs, nhưng trước hết là thống hối ăn năn vì chính tội lỗi của riêng mình.

Điều này hàm ý la ta phải xiêng năng lãnh nhận Bí Tích Hoà Giải. Những yếu đau, thương tích và nhờm tởm của tội, tiên vàn phải được chữa lành và được tẩy rửa sạch tinh. Vì phương dược này là một sự lạ lùng, một quà tặng của tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa – còn lớn lao gấp bội so với bất cứ sự chữa trị bệnh tật thể xác nào, nên trước hết phải biết cảm tạ Thiên Chúa trong Bí tích Thánh thể. Vì khi lãnh nhận Bí tích Giải tội cách chọn và rước Thánh Thể trong tâm tình cảm tạ tri ân là phép lạ vĩ đại nhất của lòng thương xót và tình yêu Thiên Chúa.làm thế rồi cùng với những yếu nhược, đau đớn buồn phiền và nhiều sự khác nữa, ta có thể tới giếng nhiệm lạ rửa sạch tất cả và uống nước từ giếng ấy nữa. Với nhiều người, thì đó là nguồn xuối thiêng chữa lành, nhưng nhiều người khác, sẽ là nguồn sức mạnh giúp mang lấy thánh giá Đức Kitô.

Sưu Tầm

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015

Đức Giáo Hoàng Benedict XVI đã nói tiên tri đúng về Hồi Giáo

Cách đây tám năm, Bài Thuyết Trình của Đức Giáo Hoàng Benedict 16 tại đại học Regenburg (Đức Quốc), Ngày thứ Bẩy 16/9/2006 đã đúng, khi đặt vần đề. Vấn đề đó, là: Người Ki Tô Giáo có bổn phận phải nói lên sự sai lầm của các tín đồ Hồi Giáo khi những tín đồ này nhân danh Allah để gieo rắc bạo lực.

Đức Giáo Hoàng Benedict 16 đã nói lên ba điểm then chốt . Những điểm then chốt này đang có cơ nguy bị chìm đi, do những cuộc tranh luận nhằm xuyên tạc thiện ý của Ngài đối với Hồi Giáo.

Điểm một:

Tất cả những vấn đề trọng đại liên quan đến đời sống con ngưòi, kể cả lãnh vực chính trị và xã hội, đều bắt nguồn từ thần học. (theology). Chúng ta biết hay không biết: Thượng Đế rất quan tâm đến sự phán đoán của chúng ta về cái thiện cái ác, và về phương cách thích nghi để tôn vinh chân lý, trong một thế giới đầy rẫy những dị kiến liên quan đến sự phân biệt cái chính cái tà
Nếu chúng ta tưởng tượng (imagine) rằng Thượng Đế chỉ là một ý lực thuần tuý (a pure will), một đấng uy nghi xa vời, mà chúng ta chỉ có thể liên lạc bằng một sư phuc tùng tuyệt đối! Nghĩ như vậy, mặc nhiên chúng ta đã nghĩ rằng Thượng Đế là hiện thân của sự phi lý. Nghĩ như vậy, mặc nhiên chúng ta đã chấp nhận một sự phục tùng tuyệt đối của những nô lệ đối với vị chủ toàn năng, ngay cả khi chúng ta tàn sát người vô tội.

Giáo Hoàng Benedict 16 nhắc nhở chúng ta: quan niệm đó hoàn toàn sai đối với quan niệm chính thống về Thượng Đế đuợc phản ảnh trong Do Thái Giáo,,tôn giáo cùng nguồn gốc với Kitô Giáo. Thượng Đế của Abraham, của Moise là thuợng đế của lý trí (God of reason), của từ bi (of compassion) và cuả tình yêu ( of love). Thuơng Đế ây mời gọi nhân loại hãy đối thoại để tìm sự cứu rỗi (salvation).
Thượng Đế ấy không thể đòi hòi sự phi lý..Thượng Đế trong thánh kinh (Bible) của đạo Do Thái (Judaisme, chú thích cuả tôi, Nguyễn Văn Chức) , cũng như Thuợng Đế trong Tân Ước (New Testament) không mù quáng, không bất chấp lý luận, không bất chấp lẽ phải. Đó cũng là tinh thần của Kitô giáo: xây dựng và ca ngợi sự xây dựng những xã hội hợp tình ngưòi và tôn trọng lẽ phải.

Điểm hai

Điểm hai này chỉ là hệ luận của điểm một.
Với điểm hai này, Giáo Hoàng Benedict 16 lên án tất cả những cuôäc tàn sát nguời vô tội nhân danh tôn giáo, là bạo lực, là phi lý, là trái với bản chất của Thượng Đế , là trái với tâm linh con người . Nếu có những tín đồ Islam hôm nay đã nhân danh Islam để giết ngưòi vô tội bằng những cuộc tự sát bằng bom đạn , chúng ta phải nói cho họ biết họ đã sai lầm. Sai lầm về Thượng Đế. Sai lầm về những dự định (purposes) của Thượng Đế. Và sai lầm về bản chất của đạo lý .

Trách nhiệm nói lên những sai lầm đó, thuộc về ai? Phải chăng Giáo Hoàng Benedict muốn khẳng định: trách nhiệm đó trươc tiên thuộc về những nhà lãnh đạo Islam. Và phải chằng Giáo Hoàng Benedict muốn nói lên môt sự thật: hiện nay quá ít nhà lãnh đao Islam muốn dấn thân vào công cuộc tẩy sạch lương tâm Islam, như cố Giáo Hoàng Gioan Phaolo II đã dấn thân khi đòi Giáo Hội Công Giáo phải tẩy sạch lương tâm cuả chính Giáo Hội Công Giáo.

Như chúng ta đã biết : trong quá khứ, Người Ki Tô Giáo (Christians) đã dùng bạo lực để phục vụ Ki Tô Giáo. Và Giáo Hội Công Giáo (Catholic Church) đã công khai hối lỗi về hành động này, Giáo Hội Công Giáo đã lên án những hành động này là trái với Thánh Kinh (the Gospel). Chẳng những vậy, Giáo Hội Công Giáo còn phê phán nặng nề -về mặt thần họïc--những hiểu lầm đã đưa đến những thảm kịch ấy.

Đến đây, câu hỏi được đặt ra: Giáo Hội Công Giáo có thể giúp đuợc gì cho một số nhà cải cách Hồi Giáo, những vị --bất chấp nhận nguy hiểm đến bản thân-- đang tìm cách nói lên những sai lầm nguy hại của một số đồng đạo ï? 
Khi trích dẫn lời của hoàng đế Manuel II Paleologos (thời trung cổ ) trong cuộc đối thoại của vị hoàng đế này với một học giả Istlam người Ba Tư (**), Giáo Hoàng Benedict 16 đã không chỉ đưa ra một vấn đề thần học ; Ngài còn đưa ra lên một viễn kiến, một cơ may. Viễn kiến và cơ may cuả một cuộc đối thoại nghiêm túc giữa ngưòi Kitô Giáo (Christians) và ngưòi Hồi Giáo (Muslims). Dĩ nhiên, cuộc đối thoại ấy chỉ có thể hình thành trên căn bản của lý trí và sư đồng tình giữa hai bênï: gạt bỏ bạo lực cuồng tín nhân danh Thuợng Đế.

Điểm Ba

Điểm ba này, báo chí Tây Phuơng đã cố tình hoặc vô tình không nhắc đến.
Điểm ba này nhắm vào Tây Phương. Giáo Hoàng Benedict 16 muốn nói :phải chăng nền văn Minh Tây Phương-một nền văn minh đã tiến tới cao độ, và đang tiếp tục tiến tới-vẫn còn nằm trong cái bao cát cuả mình (sandbox) để đối thoại với Islam bằng luận điệu " không ai làm mất lòng ai". Luận điệu đó, là : " bạn đúng, tôi cũng đúng; bạn phụng thờ sự thật của quý bạn, (your truth) ,tôi phụng thờ sự thật của tôi" (my truth). Hiển nhiên, trong cuộc đối thoại ấy, Tây Phương đã tránh né SỰ THẬT viết hoa. Theo Đức Giáo Hoàng , bao lâu Tây Phương còn nằm trong cái bao cát ấy, bấy lâu Tây Phương không thể biện hộ cho chính nền văn minh của mình, một nền văn minh của lễ nghị trong giao tế (civility), cuả tinh thần tha thứ (tolerance), của nhân quyền, (human rights) và của pháp trị (rule of law).

Vẫn theo Giáo Hoàng Benedict 16, một khi đã rời bỏ lễ giáo, rời bỏ tinh thần tha thứ, rời bỏ nhân quyền, rời bỏ pháp trị, thì Tây Phương còn gì để đóng góp hữu hiệu cho một cuộc đối thoại đích thực giữa những nền văn minh? Bởi lẽ: một cuộc đối thoại như vậy-tức cuộc đối thoại đích thực giữa những nền văn minh-- đòi hỏi một hiểu biết căn bản. Hiểu biết căn bản đó, là: con người, với tất cả những thiếu sót của nó, vẫn có thể hiểu biết được sự thật, mặc dù hiểu biết không trọn vẹn, không hoàn toàn..
Islam có dám và có đủ khả năng để tự phê tự kiểm hay không?. Những vị lãnh đạo của Islam có dám lên án và gạt ra khỏi Islamï những phần tử quá khích hay không? Hay là: chính những tín đồ Muslims đã "mang cái nghiệp bị bắt làm con tin" (condemned to be held hostage) bởi những kẻ cuồng tín, những kẻ tin rằng giết ngưòi vô tội là làm đep lòng Thương Đế?
Còn Tây Phương ?

Tây Phương có dám lên tiếng hay không? Tây Phương có dám phục hồi sự dấn thân của mình với lý trí hay không? Tây phương có dám ủng hộ sự dấn thân của những nhà lãnh đạo Islam chân chính hay không?

Trên đây là những câu hỏi lớn mà Giáo Hoàng Benedict đã đặt ra cho chương trình nghị sư (agenda) của thế giới . Nói cách khác : những điều mà thế giới có bổn phận phải làm.
Hởi những ai còn chút thiện chí và còn tôn trọng lẽ phải, hãy vui mừng. (***).

Houston, 1 tháng 10.2006

Chú thích của người dịch.

(*) Tôi đã đọc nhiều bài báo liên quan đến bài diễn văn đức Giáo Hoàng Beneđict 16 đọc tại đại học Regenburg ngày 16/9/2006. Tôi chọn và phỏng dịch bài này của George Weigle, một bài có trình độ hàn lâm khá cao, và không hèn. Bài "POPE ASKED THE RIGHT QUESTIONS"c uả George Weigle đã đuơc đăng trên nhiều báo Mỹ.
Tôi xin nói cho rõ: tôi phỏng dịch, nghiã là tôn trọng ý, của bài viết, không tôn trọng văn của nguời viết. . Mội ngôn ngữ, có tinh tuý riêng của nó. Những chữ tiếng Anh trong ngoặc đơn, là của George Weigle.
(**) Nguyên văn câu mà Hoàng đế Manuel Paleologos hỏi vị học giả Islam người Ba Tư: "Show me just what Mohammad brought that was new, and there you will find things only evil and inhuman, such as his command to spread by the sword the faith he preached.
(***) Như chúng ta đã biết: Giáo Hoàng đã lên tiếng xin lỗi người Hồi Giáo ( Muslims).
David Brooks (nhà bình luận của tờ Newyork Times) đã viết " Hàng triệu người Mỹ nghĩ rằng Giáo Hoàng Benedict đã đúng khi đăt vần đề với người Hồi Giáo[...]. Họ tin rằng Giáo Hoàng không có gì phải xin lỗi ( Millions of Americans  think the Pope asked exactly the right questions. [.....] These millions of Americans believe the Pope has nothing to apologize for).
Tôi không đồng ý. Theo tôi, đức Giáo Hoàng đã hành động đúng. Cử chỉ vô cùng cao cả của Ngài có thể mở đuờng cho một cuộc đối thoại giữa Ki tô giáo và Hồi giáo.
Anh bạn tôi , người Ba tư, là một tín đồ Muslim, và hiện ở Pháp. Anh ta nói với tôi: Giáo Hoàng Benedict 16 đã có cử chỉ tuyệt đẹp, khi lên tiếng xin lỗi Hồi Giáo. Theo anh ta, đó không phải là một vấn đề thần học, cũng không phải là một hành vi chính trị. Mà là một cử chỉ tình thuơng giữa nguời với người, trong vòng tay bao la của Thuợng Đế.

POPE ASKED THE RIGHT QUESTIONS của George Weigle - Nguyễn văn Chức phỏng dịch

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

Năm lời tiên tri đã ứng nghiệm

Đọc tham khảo!

Không có nhiều người tin vào tiên đoán của những nhà tiên tri. Tuy nhiên, người ta không thể làm ngơ khi những tiên đoán đó thành hiện thực tới 70%. Trong đó, có 4 tiên đoán nổi tiếng gắn liền với tên tuổi của bà.
Kinh hoàng bởi lời phán khủng khiếp của nhà tiên tri Vanga

Nhà tiên tri tiên đoán rằng trong năm 2014 cả thế giới phải đối mặt với căn bệnh mới khó chữa, nhân loại dần đối mặt với thảm họa tuyệt chủng.

Nhà tiên tri lừng danh Vanga sinh ngày 31/1/1911, mất ngày 11/8/1996. Bà sống ẩn dật cả đời mình ở vùng làng quê hẻo lánh Kozhuth thuộc Petrich, Bungary. Năm lên 12 tuổi, bà Vanga mất đi thị lực sau khi bị cuốn bởi một cơn lốc lớn. Người ta tìm thấy cô gái nhỏ vẫn còn thoi thóp hơi thở nằm vùi lấp giữa bụi và đá, hai hốc mắt chứa đầy cát.

Nhà tiên tri Vanga thời trẻ

Vanga làm bạn với bóng tối từ đó và đưa ra lời tiên tri đầu tiên vào năm bà 16 tuổi để tìm lại bầy cừu bị mất trộm bằng cách mô tả chính xác về cái sân nơi bọn trộm cất giấu đàn gia súc.

Tuy nhiên, khả năng tiên tri của Vanga chỉ thực sự đạt đến độ chín năm 30 tuổi. Nhiều người tìm đến bà để xin những lời tiên tri. Trong đó có cả trùm phát xítAdolf Hitler. Hắn từng ghé thăm nhà Vanga và rời đi với gương mặt nặng trĩu. 

Ngôi mộ của Vanga

Không có nhiều người tin vào tiên đoán của những nhà tiên tri. Tuy nhiên, người ta không thể làm ngơ khi những tiên đoán đó thành hiện thực tới 70%. Trong đó, có 4 tiên đoán nổi tiếng gắn liền với tên tuổi của bà.

1. Tàu ngầm Krusk

Đúng 20 năm trước khi thảm kịch xảy ra, vào năm 1980, Vanga đã tiên tri rằng: "Cuối thế kỷ này, vào tháng 8/1999 hoặc 2000, Kursk sẽ chìm dưới nước, và cả thế giới sẽ than khóc vì nó." Ngày đó, không một ai quan tâm đến lời tiên tri buồn cười này. Nhưng rồi người ta mới biết rằng Kursk bà nói không phải là về thành phố mang tên Kursk. Con tàu ngầm nguyên tử của Nga được đặt tên theo thành phố này đã gặp sự cố khủng khiếp và mãi mãi chìm dưới đáy đại dương. Cả thế giới đều luyến tiếc và rơi lệ cho những nạn nhân mắc kẹt trong tai nạn này.

2. Sự bùng nổ của chiến tranh

Nhà tiên tri dự đoán trong năm 2008, sẽ diễn ra nhiều cuộc xung đột trong tiểu lục địa Ấn Độ (gồm Ấn Độ, Afghanistan, Pakistan, Trung Quốc, Tây Tạng), trong thế giới của những người Hindu. Sau đó cuộc mưu sát 4 nhà lãnh đạo chính phủ cố gắng vào bốn người đứng đầu chính phủ sẽ trở thành một trong những nguyên nhân bùng nổ Thế chiến III vào năm 2010.

3. Tiên đoán về vụ khủng bố tháp đôi ngày 11/9/2001

Lời tiên đoán năm 1989: “Đáng sợ! Đáng sợ! Những anh em sinh đôi của Mỹ sẽ ngã xuống sau khi bị những con chim sắt tấn công. Những con sói sẽ gầm rú trong lùm cây và máu của những người vô tội sẽ chảy” dường như đã được ứng nghiệm với sự kiện tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới (New York) đổ sập bởi vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001.

Tháp đôi cũng có nghĩa khác là “sinh đôi” (Twins) hay còn gọi là anh em. Những kẻ khủng bố đã khống chế toàn bộ hành khách trên máy bay - “những con chim sắt” - và lao vào tòa tháp. Lùm cây trong tiếng Anh có nghĩa là “bush” nên ở đây có thể cũng ám chỉ đến tên của vị Tổng thống đương nhiệm của G. Bush.

4. Sự hồi sinh của nước Nga

Năm 1988 khi tiên tri về nước Nga, bà Vanga vẽ một vòng tròn lớn trong lòng bàn tay và nói: "Nga sẽ một lần nữa trở thành đế chế vĩ đại, chỗ dựa tinh thần cho toàn thế giới. Tuy nhiên phải đợi rất lâu khi con số 8 xuất hiện và có những ký kết về Trái Đất." Và trên thực tế, nếu nước Nga trở thàn cường quốc lớn mạnh và tham gia nhóm G7 để biến nó thành G8 thì họ sẽ có tác động tới tiến trình chiến tranh và hòa bình thế giới.

Năm 2014 - Phần lớn loài người sẽ bị mắc chứng bệnh mưng mủ, ung thư da và các loại bệnh khác về da.

Thứ Ba, 16 tháng 12, 2014

Sứ Mệnh này là Ơn tiên tri cuối cùng, được Chúa Cha ban cho để cứu vớt nhiều linh hồn

Sứ Mệnh này là Ơn tiên tri cuối cùng, được Chúa Cha ban cho để cứu vớt nhiều linh hồn
Thứ Bảy, ngày 1 tháng 9 năm 2012, lúc 10:25 sáng.

Hỡi con gái yêu dấu của Ta, mức độ nhanh chóng mà những Thông Điệp của Ta đang được ban cho nhân loại cho thấy tính cấp bách của Sứ Vụ này.

Biết bao nhiêu người trên thế giới đang bị lầm lạc.

Biết bao nhiêu linh hồn đáng thương không biết đến Thiên Chúa, Chúa Cha là ai.

Biết bao nhiêu người không đón nhận Ta, Con yêu dấu của Thiên Chúa, như là Đấng Mêssia Đích Thực.

Sứ Mệnh này là Ơn tiên tri cuối cùng, được Chúa Cha ban cho để cứu vớt nhiều linh hồn.

Những Thông Điệp này dành cho những Kitô Hữu, những người Do Thái, những người Hồi Giáo, những người vô thần, những người không hề biết có Thiên Chúa và tất cả những ai tìm kiếm sự an ủi trong những tôn giáo do con người tạo ra.

Tất cả mọi người, tất cả mọi linh hồn đều có cùng một mong muốn là tìm được ý nghĩa trong cuộc sống của họ.

Đối với hầu hết mọi người, thì thật là đau lòng nếu như họ không tin vào Thiên Chúa, vì họ tin rằng tất cả sẽ kết thúc khi cuộc sống của họ trên trái đất chấm dứt.

Ôi, giá như họ có thể thấy được điều gì sẽ xảy ra khi linh hồn của họ đến trước nhan Ta. Họ trông thấy Ta và không thể thốt nên lời vì họ không thể tin rằng Ta thực sự hiện hữu. Niềm vui trong những linh hồn ấy được bù đắp chỉ khi họ chết trong Tình Trạng Ân Sủng.

Tuy nhiên, niềm vui của những linh hồn sống trong bóng tối khi nhìn thấy Ta sẽ bị rút ngắn lại và họ trôi mất khỏi Ta mà vào những hố thẳm của Hỏa Ngục, trong trạng thái kinh hoàng và tuyệt vọng.

Đối với linh hồn của những người nhận biết Giáo Huấn của Thiên Chúa, qua các ngôn sứ của Người và nhờ vào kết quả trong Sứ Vụ của Ta trên trái đất, và là những người khước từ Ta, hãy biết cho điều này.

Các con đã quyết định quay lưng lại với Sự Thật. Chính vì Tình Yêu của Ta dành cho các con mà Ta sẽ làm tất cả những gì có thể, để mở mắt các con.

Ta sẽ ban cho các con những Tặng Ân và vì Lòng Thương Xót Vô Biên của Ta mà Ta sẽ cứu các con. Ta mời gọi tất cả các con, bất kể tôn giáo nào mà các con đang theo, giờ đây hãy lắng nghe Lời Ta.

Tất cả các con đều biết là thành viên trong một gia đình thì như thế nào rồi.

Một số người trong các con may mắn được sinh ra trong một gia đình tràn đầy tình yêu thương.

Những người khác không được may mắn như vậy và họ có thể đã phải trải qua những khó khăn và sự tăm tối trong chính gia đình họ. Những người khác sống trong lầm lạc, bầm giập, tức giận và không thể có được tình yêu đích thực dành cho gia đình họ.

Một số người bị đẩy vào chỗ khốn cùng, phải tự lo cho mình mà không có ai để cậy nhờ.

Nhiều người chỉ cần một nơi nương tựa để có thể hy vọng. Chính vì thế nhiều linh hồn đáng thương cố tìm đến với các tôn giáo, ở đó họ tìm kiếm mối liên hệ còn thiếu trong cuộc đời họ.

Thật đáng buồn, điều này chỉ đưa họ vào sâu trong sự tuyệt vọng. Vì những tôn giáo này được xây dựng trên sự dối trá.

Những sự dối trá làm tổn thương các con. Chúng đem đến cho các con một cảm giác an toàn giả tạo. Các tôn giáo ấy không có thực chất vì chúng không đi theo Sự Thật, không đi theo đường lối của Thiên Chúa.

Các con chỉ cần biết rằng Thiên Chúa Ba Ngôi là gia đình của các con. Trời Mới và Đất Mới sẽ là ngôi nhà đích thực của các con.

Hãy đi theo Ta trên con đường Sự Thật để Ta có thể đưa các con về với ngôi nhà chính đáng của các con.

Một ngôi nhà đầy tình yêu thương và niềm vui mà các con cần phải phấn đấu để có được.

Ta xin các con hãy mở mắt ra vì đã đến lúc để cuối cùng nhân loại được ban cho Giao Ước của Sự Thật.

Cái chết của Ta trên Thập Giá là một Giao Ước để mang lại cho các con ơn cứu chuộc.

Cuộc Quang Lâm của Ta cũng là một Giao Ước, Giao Ước cuối cùng để đưa các con về nhà với Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa của muôn loài.

Chúa Cha, Thiên Chúa Tối Cao, giờ đây sẽ sớm sai Ta đến để ban ơn cứu rỗi cho tất cả con cái của Người.

Ta chỉ có thể thực hiện được điều này và hoàn tất Lời Hứa của Chúa Cha nếu như Ta có thể cứu được tất cả các linh hồn.

Đừng ngăn cản Đường Lối của Ta bằng những nghi ngờ.

Đừng khước từ những nỗ lực của Ta nhằm mang lại ơn cứu rỗi cho mọi linh hồn.

Đừng đánh mất cơ hội để sống một cuộc sống hoàn hảo trong tình yêu, niềm vui, và điều kỳ diệu, trong bình an và hòa hợp, trong Kỷ nguyên Mới của Hòa bình.

Chúa Giêsu của các con.

Chuyển dịch từ nguồn: thewarningsecondcoming.com

Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014

Nhà tiên tri Nostradamus và 10 cảnh báo thế giới

Nostradamus tiên đoán rằng một vị vua phía bắc đến từ Aquilon sẽ giúp thiết lập hoà bình và trật tự thế giới. Chúng ta có thể đoán vị vua đến từ phía bắc rất có thể là Phản Ki tô. Nếu lời tiên đoán này trở thành sự thật thì năm 2014- 2015 có thể sẽ chứng kiến nhiều sự kiện thú vị.

Nhà tiên tri Nostradamus và 10 cảnh báo thế giới 

Nostradamus (1503 - 1566) thường được coi là nhà tiên tri xuất chúng nhất mọi thời đại, với khả năng tiên đoán chính xác hầu hết các sự kiện quan trọng có ảnh hưởng đến lịch sử thế giới, dù nó xảy ra hàng trăm năm sau khi ông qua đời.

Nostradamus sinh ngày 14/9/1503 tại tỉnh St Remy, miền nam nước Pháp. Ông là con trai của một nhà buôn lúa mỳ gốc Do thái nhưng gia đình ông đã cải sang đạo Thiên chúa. Ngay từ khi còn nhỏ, Nostradamus đã bộc lộ năng khiếu toán học, thiên văn và chiêm tinh. Ông theo học y khoa tại Đại học Montpelier và tốt nghiệp tú tài năm 1525. Nạn dịch hạch bùng phát khiến ông phải tạm nghỉ học và đi cứu chữa bệnh nhân khắp nước Pháp. Thời gian này, ông được gặp và trò chuyện với nhiều bác sĩ, nhà giả kim, giáo sĩ đạo Kabbala và các nhân vật thần bí nổi tiếng thời Phục hưng.

Năm 1537, nạn dịch hạch cướp đi sinh mạng của vợ và hai người con ông. Nostradamus tiếp tục đi du lịch tới nhiều vùng của Pháp và Italy. Năm 1547, ông định cư ở Salon, kết hôn với một goá phụ giàu có là Anne Ponsarde Gemelle, người sinh cho ông 6 người con. Thời gian này, Nostradamus xao lãng y khoa để tập trung vào các ngành khoa học huyền bí và buôn mỹ phẩm. Năm 1550, ông viết một cuốn niên giám. Thành công bất ngờ, ông quyết định sẽ “xuất xưởng” mỗi năm một cuốn.

Nostradamus cũng bắt đầu kế hoạch viết hơn 1.000 bài thơ thứ tuyệt và trở thành những lời sấm truyền nổi tiếng. Tuy nhiên, để tránh bị soi xét và kiểm duyệt, ông thường dùng biện pháp chơi chữ, dùng các ngôn ngữ Hy Lạp, Latin, Italy, Do thái và Ảrập.

Bộ sách Lời tiên tri (còn gọi là cuốn Những thế kỷ) tổng hợp những bài thơ tứ tuyệt của ông nhận được những phản ứng trái ngược khi xuất bản. Nhiều người cho rằng, Nostradamus là sứ giả của quỷ dữ, một kẻ dối trá và ngông cuồng. Nhưng nhiều thành viên của giới quý tộc lại ủng hộ ông.

Catherine de Medici, hoàng hậu của vua Henry II của Pháp, là người lớn tiếng ủng hộ nhà tiên tri này. Bà mời ông đến Paris, nhờ ông giải thích ý nghĩa bài thơ thứ 35 liên quan đến số phận của chồng và các con bà. Khi Nostradamus qua đời ngày 1/7/1566, Catherine phong cho ông tước Nhà cố vấn và bác sĩ của hoàng gia. Nostradamus còn biết trước rằng, ông sẽ không sống hết ngày 1/7, như ông nói với viên thư ký: “Tôi sẽ chết trước lúc bình minh”.

Nostradamus thậm chí còn biết trước, mộ của ông sẽ bị đào bới. Khi cuốn sách ghi những lời tiên tri của ông bị xếp vào loại sách cấm, những kẻ cuồng tín đã phá mộ ông vào tháng 5/1791. Nhưng bật nắp mộ lên, bọn chúng thất kinh khi thấy trong bàn tay xác chết có một tấm kim loại khắc dòng chữ Tháng 5/1791.

Nostradamus có một lời tiên tri rất rõ ràng rằng “một thế lực vĩ đại và đáng sợ sẽ xuất hiện trên bầu trời” vào tháng thứ bảy của năm 1999. Tuy nhiên, đây chỉ là dự báo về một hiện tượng tự nhiên hoàn toàn có thể biết trước được vào thời đại của ông: nhật thực diễn ra vào ngày 11/8/1999, ngày cuối cùng của tháng 7, tính theo lịch thời đó.

Phần lớn lời tiên tri của Nostradamus ứng vào các thảm hoạ như nạn dịch hạch, động đất, chiến tranh, lụt lội, ám sát, hạn hán… Nhưng nhiều câu của ông bị hiểu sai, thậm chí là suy diễn sai có chủ đích chỉ để chứng minh rằng, nhà thông thái này có thể dự đoán nhiều loại sự kiện khác nhau. Bước vào kỷ nguyên Internet, những lời sấm của Nostradamus bất ngờ được tuyên truyền rộng rãi khiến ông ngày càng nổi danh. Ví dụ như khi xảy ra sự kiện tấn công khủng bố vào toà tháp đôi WTC ngày 11/9/2001 tại New York, Mỹ, trên Internet nhan nhản bài thơ (và nhiều biến thể) được gán là của Nostradamus:

“Tại thành phố York sẽ có sự sụp đổ lớn
Hai anh em sinh đôi bị xé nát do hỗn loạn
Khi thành trì đổ vỡ người lãnh đạo tối cao sẽ thất bại
Cuộc chiến lớn thứ ba sẽ bắt đầu khi thành phố bùng cháy”.

Hoá ra đây là bài thơ được một sinh viên Canada tên là Neil Marshall viết trước khi xảy ra sự kiện 11/9, trong một nghiên cứu của anh năm 1997. Các học giả khẳng định, Nostradamus chưa bao giờ đề cập tới “Cuộc đại chiến thứ ba” cả.

Những lời tiên tri của Nostradamus thường rất tối nghĩa và khó hiểu, hoặc có thể diễn giải theo nhiều nghĩa. Ngoài việc ông thường kết hợp nhiều ngôn ngữ, chơi chữ và nói bóng gió, còn có một lý do khác nữa: ông nhìn thấu suốt sự phát triển của nhân loại đến năm 7.000. Ông khó có thể nói về các sự kiện khoa học kỹ thuật của thế kỷ 20 và 21 khi dùng tiếng Pháp của thế kỷ 16 vì… túng từ.

Một số lời tiên tri được diễn giải chính xác và dễ hiểu:

Cái chết của vua Henry II:

Sư tử con sẽ vượt qua sư tử già
Trong cuộc chiến chỉ có một trận đánh
Nó sẽ đâm thủng mắt từ trong lồng vàng
Hai vết thương và một cái chết thảm thương. (Quyển Thế kỷ 1, câu 35)

Tháng 6/1559, Henry II phớt lờ những cảnh báo Nostradamus đưa cho ông, quyết định tham gia cuộc đấu thương với Bá tước Montgomery. Hai đối thủ cùng đeo chiếc khiên khắc nổi hình sư tử và Montgomery trẻ hơn Henry 6 tuổi. Theo đúng quy định, cuộc đấu đó chỉ diễn ra một trận duy nhất. Montgomery lỡ đà, chậm hạ chiếc thương xuống, khiến nó đâm vào miếng che mắt mạ vàng của nhà vua. Ngoài vết thương nhỏ ở mặt và cổ, Henry bị hai vết thương rất nặng: ông bị mù một mắt và bị chiếc khiên xiên vào thái dương. Henry II từ trần sau 10 ngày nằm trên giường bệnh.

Hoả hoạn ở London năm 1666:

Nostradamus viết:

Máu của thần công lý sẽ bao phủ London
Thành phố sẽ cháy vào năm 66
Vị phu nhân mất địa vị tối cao
Và nhiều nơi bị hủy hoại. (Quyển Thế kỷ 2, câu 51)

Một vụ hoả hoạn lớn đã xảy ra tại thủ đô London của Anh năm 1666. Đây là một trong những lời tiên tri hiếm hoi của Nostradamus có ghi rõ năm. Ngay cả những người hoài nghi nhất cũng phải thừa nhận tính chính xác của lời tiên đoán này. Vụ hoả hoạn đã thiêu rụi 3/4 London.

Dự báo về thất bại của Napoleon ở nước Nga:

Một đội quân lớn sẽ tràn vào nước Nga
Những người bị xâm lược sẽ phá hủy một thành phố
Quân chủ lực sẽ phản công
Những kẻ chiến bại sẽ chết trên miền đất trắng.

Những câu thơ này được hiện thực hoá trong trận chiến lịch sử: quân dân Nga thực hiện chính sách “tiêu thổ kháng chiến”, sau đó đạo quân của tướng Kutuzov phản công. Quân đội của Napoleon bị truy sát trên đường rút chạy và chết gần hết trên tuyết trắng của nước Nga.

Nostradamus còn đưa ra dự báo về số phận của Napoleon:

Hoàng đế vĩ đại sẽ khởi đầu với một vị trí thấp kém
Và nhanh chóng trở nên lớn mạnh
Nơi nhỏ hẹp sẽ trở thành trung tâm
Khi ông giành được quyền lực tối cao.

Ông hoàng chiến bại bị lưu đày ở Elba
Sẽ trở về Marseilles qua vịnh Genoa
Nhưng không vượt qua được các thế lực ngoại bang
Tuy thoát chết nhưng vẫn phải đổ máu.

Napoleon bị lưu đày tại đảo Elba nhưng trốn ra sau 100 ngày giam cầm. Sau khi thất bại trong trận Waterloo, ông bị tước mọi quyền lợi và lưu vong tại đảo St. Helena cho tới khi qua đời.

Dưới đây là 10 tiên đoán của Nostradamus trong năm 2014, mơi bạn tham khảo
10. Obama sẽ là vị tổng thống cuối cùng của Mỹ

Nostradamus đã tiên đoán chinh xác về chiến thắng của Barack Obama trong cuộc bầu cử năm 2013. Ông cũng nói thêm rằng Obama sẽ là tổng thống cuối cùng của Hoa Kỳ. Tiên đoán này ám chỉ rằng nước Mỹ sẽ sụp đổ hay sẽ phải nhường vị trí đệ nhất siêu cường cho một quốc gia khác?

Điều này trùng khớp với dự đoán của nhà chiêm tinh Ai Cập Joy Ayad rằng năm 2014 sẽ khởi đầu cho sự kết thúc của nước Mỹ.

9. Những biến đổi thời tiết bất thường

Nostradamus cũng tiên đoán rằng những biến đổi bất thường của thời tiết sẽ xảy ra thường xuyên hơn và thảm họa thiên nhiên với sức tàn phá khủng khiếp sẽ xuất hiện nhiều hơn. Lời tiên tri nói: “Nước sẽ dâng lên còn mặt đất sẽ dần sụt xuống bên dưới”.

8. Sự sắp xếp thẳng hàng bất thường của các hành tinh

Sự sắp xếp bất thường này cùng với sự thay đổi của hệ mặt trời sẽ tác động lớn đến trái đất.

7. Trung Đông sẽ xảy ra chiến tranh

Nguồn gốc của những cuộc chiến tại Trung Đông là do nguồn dầu mỏ của những quốc gia vùng Vịnh.

6. Những vụ nổ ở Trung Đông

Nostradamus nói rằng những chiếc máy bay sẽ rơi từ trên trời xuống. Thực tế, Trung Đông đang xảy ra tình trạng bất ổn mạnh mẽ ở hơn 10 quốc gia như: Libya, Syria, Ai Cập, Somalia… đặc biệt là Hồi giáo Is ...

5. Ngày tận thế của thế giới

Nostradamus cũng đưa ra một lời tiên đoán mơ hồ dẫn đến suy đoán rằng cuộc chiến tranh Iraq là dấu hiệu đầu tiên cảnh báo rằng thế giới sẽ bước vào ngày tận thế. Trước đó, người Maya cũng có lời tiên đoán tương tự, nhưng tất cả chúng ta đều biết rằng những lời tiên đoán chuẩn bị thành sự thật.

4. “Trò chơi chiến tranh” của Nhà Trắng

Nostradamus nói rằng Nhà Trắng sẽ dùng những trò chơi chiến tranh với các vương quốc Arab. Mối quan hệ căng thẳng của cả hai bên chưa bao giờ trở nên dễ dàng, nhất là trong cuộc chiến chống khủng bố. Cả Iraq và Afghanistan vẫn chưa thấy được một ngày bình yên kể từ khi có sự xuất hiện của Mỹ.

3. Các cực sẽ tan chảy

Nếu bạn nhìn vào nhiệt độ cao nhất ở Bắc Cực, bạn sẽ tin vào lời tiên đoán này đang dần trở thành sự thật. Các nhà khoa học toàn cầu cũng đang tiến hành nghiên cứu về hiện tượng nóng lên toàn cầu. Nhưng hiện tại nhiệt độ của Nam Cực không có dấu hiệu sẽ thay đổi.

2. Số phận của Israel

Trong đoạn thứ 34 của bức thư Epistle, Nostradamus đã viết rằng Jerusalem sẽ bị tấn công từ nhiều phía, và hải quân phương Tây sẽ giúp Israel trong cuộc chiến này.

1. Vị vua đến từ phía bắc mang lại hoà bình

Nostradamus tiên đoán rằng một vị vua phía bắc đến từ Aquilon sẽ giúp thiết lập hoà bình và trật tự thế giới. Chúng ta có thể đoán vị vua đến từ phía bắc rất có thể là Phản Ki tô. Nếu lời tiên đoán này trở thành sự thật thì năm 2014- 2015 có thể sẽ chứng kiến nhiều sự kiện thú vị.