Hiển thị các bài đăng có nhãn 5-2015. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 5-2015. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2015

Người đã ly dị tái hôn được rước lễ theo quyền ''tòa trong'' không?

Người đã ly dị tái hôn được rước lễ theo quyền ''tòa trong'' không?

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Trong cuộc thảo luận gần đây tại một cuộc họp của giáo hạt, một linh mục tiết lộ rằng ngài đã cho rước lễ các người ly dị tái hôn theo luật đời, mà không có sắc lệnh tiêu hôn, dựa theo quyền của "tòa trong", bất kể hoạt động vợ chồng của họ là như thế nào. Trong ánh sáng số 1650 của Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo (CCC), linh mục này đang nói về điều gì vậy? Có điều gì tôi chưa hiểu chăng? Xin cha nói rõ về vấn đề này. - G. S., Florida, Mỹ.

Đáp: Số 1650 của Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo nói như sau :

"Nhiều người Công Giáo, ở một số quốc gia, đã ly dị và tái hôn theo luật đời. Giáo Hội trung thành với lời của Ðức Kitô: "Ai bỏ vợ và cưới người khác, là phạm tội ngoại tình; ai bỏ chồng để lấy người khác thì cũng phạm tội ngoại tình" (x. Mc 10, 11-12). Nếu hôn nhân lần đầu đã thành sự, Giáo Hội không thể công nhận liên kết mới là thành sự. Nếu những người đã ly dị, tái hôn theo luật đời, họ rơi vào tình trạng khách quan đi ngược lại luật Thiên Chúa. Vì thế, bao lâu còn sống trong tình trạng này, họ không được rước lễ. Cũng vậy, họ không thể đảm nhận một số trách nhiệm trong Giáo Hội. Chỉ những người hối hận vì mình đã vi phạm đến dấu chỉ giao ước và sự trung thành với Ðức Kitô, và cam kết sống tiết dục trọn vẹn, mới được giao hòa nhờ bí tích Thống Hối" (Bản dịch tiếng Việt của Ban Giáo lý Tổng giáo phận Sài Gòn)

Số này phải được bổ túc bởi số sau đây:

"1651. Ðối với những tín hữu đang sống trong hoàn cảnh như vậy, vẫn giữ đức tin và ao ước giáo dục con cái theo tinh thần Công Giáo, linh mục và cộng đoàn phải có thái độ ân cần đặc biệt, để họ đừng coi như bị tách lìa khỏi Giáo Hội và nếp sống tín hữu mà họ có thể và phải giữ vì đã được rửa tội:

"Họ được mời gọi nghe Lời Chúa, tham dự hy tế thánh lễ, kiên trì cầu nguyện, góp phần vào các công cuộc bác ái và các sáng kiến của cộng đoàn để phục vụ công lý, giáo dục con cái trong đức tin Công Giáo, vun trồng tinh thần sám hối và làm các việc đền tội, để ngày qua ngày thành khẩn nài xin ân sủng Thiên Chúa (x. Tông Huấn Gia Ðình 84)" (bản dịch như trên).

Sách Giáo Lý tóm tắt giáo lý lâu đời của Giáo Hội, nhưng cũng quan tâm đến nhiều cuộc tranh luận trong vài thập kỷ qua.

Trong thực tế, mỗi mục tử phải xử lý vấn đề của một số người, vì họ đi vào quan hệ hôn nhân ổn định mới trong khi cuộc hôn nhân phép đạo trước đó vẫn còn tồn tại. Thường hôn nhân thứ hai kéo dài lâu hơn hôn nhân thứ nhất và có con cái. Đối với nhiều tín hữu, việc không được rước lễ là nỗi đau của họ.

Các tình huống khó khăn như vậy khiến một số Giám mục và thần học gia đề nghị giải pháp "tòa trong" hoặc "lương tâm tốt" cho một số trường hợp đặc biệt của các các cặp vợ chồng ly dị tái hôn.

Các tác giả của lý thuyết này khác xa nhau về định nghĩa và sự áp dụng giải pháp đề xuất. Nói tóm lại, đây là một sự đáp trả mục vụ của một người, với sự giúp đỡ của một linh mục, mà trong đó con người xác tín vào việc nhận thức về sự vô hiệu của một cuộc hôn nhân trước, mặc dù một quyết định pháp lý bề ngoài liên quan đến sự hợp lệ này không thể được giải quyết. Vì thế, xác tín ấy sẽ cho phép quay trở lại với các bí tích.

Tuy nhiên, các ý kiến là khá đa dạng về cách thức áp dụng giải pháp đề xuất này. Một số tác giả nhấn mạnh rằng giải pháp này không được ban bởi một linh mục, nhưng chỉ hành động theo sự hướng dẫn của ngài. Các tác giả khác nói một cách rõ ràng rằng đó là quyền quyết định của một linh mục, mà không cần nại đến tòa án.

Tương tự như vậy, một số vị khác lại cho rằng trước khi sử dụng quyền “tòa trong”, đương sự phải cố gắng chạy đến với tòa ngoài (tòa án hôn phối), nhưng không có vấn đề gì đang xảy ra do thủ tục hoặc khó khăn khác. Một vài vị khác lại cho rằng có những trường hợp mà đương sự có thể quyết định ngay, mà không cần liên hệ với tòa án, nếu có lý do chính đáng để không làm như vậy.

Các tác giả ủng hộ "giải pháp tòa trong", cũng nhìn nhận rằng giải pháp chỉ nên được giới hạn cho một số cặp vợ chồng đã ly dị và tái hôn mà thôi, và không phải là một sự kiểm tra trắng để cho phép nhận lãnh trở lại các bí tích.

Trong số các điều kiện được các tác giả này nêu ra, có: họ có thể nhận các bí tích mà không gây vấp phạm trong cộng đồng; họ hứa hợp thức hóa hôn nhân sau khi người phối ngẫu cũ qua đời; họ chứng tỏ sự ổn định lầu bền trong hôn nhân thứ hai; và họ hiểu rằng việc họ được trở lại với các bí tích không hàm ý có sự thay đổi trong giáo lý Công Giáo, về sự bất khả phân ly của hôn nhân, và cũng không cấu thành một quyết định chính thức liên quan đến việc vô hiệu hoá của cuộc hôn nhân trước.

Chúng tôi đã phải đơn giản hóa lập luận của các tác giả này, nhưng hy vọng rằng chúng tôi đã không diễn dịch chúng một cách sai lạc.

Đồng thời, chúng tôi phải nhấn mạnh rằng đây chỉ là các ý kiến, và không đại diện cho giáo lý Công Giáo về tòa trong.

Giáo huấn chính thức của Giáo Hội về chủ đề này được chứa trong một số văn bản. Chúng tôi nói đến văn bản quan trọng nhất cho lập luận của mình.

Ngày 11-4-1973: Đức Hồng Y Franjo Seper, Tổng trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin (CDF), đã viết thư cho Chủ tịch Hội đồng Giám mục Công Giáo Mỹ, nói về "các ý kiến mới, vốn phủ nhận hoặc cố gắng ngờ vực giáo lý của Huấn Quyền Giáo Hội về sự bất khả phân ly của hôn nhân". Ngài kết luận với các chỉ dẫn thiết thực sau đây:

"Về việc lãnh nhận các Bí tích, các Đấng Bản Quyền được yêu cầu, một đàng nhấn mạnh việc chấp hành kỷ luật hiện hành và, đàng khác chăm lo cho các mục tử để các ngài quan tâm đặc biệt đến sự tìm kiếm các người đang sống trong một hôn nhân bất thường, bằng cách áp dụng cho các trường hợp này, ngoài các phương cách chính đáng khác, sự thực hành đã được Giáo Hội chấp thuận ở tòa trong (probatam Ecclesiae praxim in foro interno)".

Một số Giám mục đã yêu cầu giải thích rõ ràng thế nào là sự thực hành đã được Giáo Hội chấp thuận ở tòa trong. Ngày 21-3-1975, Đức Tổng Giám Mục Jean Hamer, thư ký Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, đã trả lời:

"Tôi muốn nói rằng cụm từ này [probata praxis Ecclesiae] phải được hiểu trong bối cảnh của thần học luân lý truyền thống. Các cặp vợ chồng [người Công Giáo sống trong hôn nhân bất thường] có thể được phép nhận lãnh các bí tích với hai điều kiện: họ cố gắng sống theo các đòi hỏi của nguyên tắc luân lý Kitô giáo, và họ nhận lãnh các bí tích trong các nhà thờ, mà ở đó không ai biết họ để họ không gây ra cớ vấp phạm nào”.

Các văn bản này, cộng với Tông huấn "Familiaris Consortio" của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, tạo nên cơ sở của giáo lý được tìm thấy trong Sách Giáo Lý.

Năm 1994, hai năm sau khi ban hành Sách Giáo Lý, để đáp ứng với một vài gợi ý rằng có thể có một số trường hợp ngoại lệ mục vụ cho giáo lý này, và các điều khoản của Giáo luật trong các trường hợp đặc biệt, Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin đã viết thư cho các Giám mục trên thế giới "Về việc Rước lễ của các tín hữu Công Giáo đã ly dị và tái hôn”.

Tài liệu này khẳng định lại lập trường của tông huấn "Familiaris Consortio" và Sách Giáo lý (bao gồm cả hai lý do được nêu ra ở trên), khi nói thêm: "Cấu trúc của tông huấn và cung giọng của các từ ngữ trong đó giúp hiểu rõ ràng sự thực hành ấy, vốn được trình bày như là ràng buộc, không thể được sửa đổi do các tình huống khác nhau".

Giáo lý cơ bản này đã được khẳng định một lần nữa trong Tông huấn năm 2007 "Sacramentum Caritatis ": "Thượng Hội Đồng Giám Mục căn cứ vào Thánh Kinh (x. Mc 10,2-12) xác định thực hành của Giáo Hội, không thể cho những người đã ly dị tái hôn được lãnh nhận các bí tích, chỉ vì tình trạng và điều kiện của họ nghịch lại cách khách quan sự liên hệ tình yêu giữa Đức Kitô và Giáo Hội, điều được biểu lộ và hiện thực trong Bí tích Thánh Thể” (Bản dịch tiếng Việt của Ủy ban Giáo lý Đức tin thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam).

Như vậy, rõ ràng là Tòa Thánh đã loại trừ khả năng của "giải pháp tòa trong" như là một cách hợp lệ để giải quyết các vấn đề về tính hợp lệ của hôn nhân. Việc kết hôn là một hành động công khai, trước mặt Thiên Chúa và trước mặt xã hội, và do đó các câu hỏi về tính hợp lệ của nó chỉ có thể được giải quyết ở tòa ngoài. Việc cho phép lãnh nhận các Bí tích chỉ có thể xảy ra trong các trường hợp được nêu ra trong Sách Giáo Lý.

Tuy nhiên, tất cả các vị Giáo hoàng gần đây đã cảm nhận sâu sắc nỗi đau đớn của các cặp vợ chồng đang ở trong tình trạng này. Trong các tháng đầu tiên của triều đại Giáo hoàng của mình, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã kêu gọi nghiên cứu thêm điều khó khăn này. Đức Thánh Cha Phanxicô cũng đã đề cập đến chủ đề, và đã kêu gọi các Giám mục đề xuất các sáng kiến có thể sẽ giúp Giáo Hội cho phép các thành viên ấy dự phần vào Thân mình Chúa Kitô một cách tốt hơn.

Tuy nhiên, như một Hồng Y nổi tiếng đã ghi nhận về chủ đề này: "Đen không thể trở thành trắng được”. Không giải pháp mục vụ nào có thể thay đổi Tin Mừng hoặc giáo huấn đã được thiết lập của Giáo Hội về sự bất khả phân ly của hôn nhân.

Hoạt động mục vụ quan trọng nhất mà Giáo Hội có thể và nên làm, là cổ vũ việc huấn luyện Kitô giáo cho các bạn trẻ Công Giáo, để họ đi vào hôn nhân với ý định hợp tác với ân sủng của Thiên Chúa, trong việc đưa ra một cam kết suốt đời cho chính họ. Nói cách khác, giải pháp lâu dài tốt nhất cho việc ly dị và tái hôn là phải tránh ly dị trước tiên.

Đồng thời, thật là ngây thơ khi nghĩ rằng một số cuộc hôn nhân sẽ không thất bại, hoặc sẽ không có việc kết hôn không hợp lệ. Đây là một hệ quả tất yếu của sự yếu đuối con người và sự tự do của con người. Tương tự như vậy, hiện nay có một số lượng lớn người Công Giáo ở trong các giải pháp bất thường, họ có nhu cầu mục vụ cụ thể, và Giáo Hội được thúc đẩy tìm cách giúp đỡ họ, trong khi vẫn tôn trọng giáo huấn của Chúa Kitô về sự thánh thiện của hôn nhân .

Đây có lẽ sẽ là tinh thần, mà với nó Đức Thánh Cha Phanxicô và các Giám mục sẽ tìm hiểu bất cứ con đường nào và sáng kiến nào thích hợp, để mang lại ánh sáng của Chúa Kitô cho tất cả các thành viên của Giáo Hội Công Giáo.

(Nguyễn Trọng Đa chuyển ngữ/ Zenit.org 11-2-2014)

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2015

Ts Hèn Mọn: Chiến tranh qua rồi nhưng hòa bình thật sự thì sao?

Anh chị em thân mến!
Chúa Thánh Thần là Đấng ban bình an cho tâm hồn mỗi người chúng ta và là Đấng ban hòa bình cho thế giới. Mẹ Maria là Nữ Vương hòa bình.
Thế nhưng xã hội chúng ta đang sống có thực sự bình an và hòa bình?

Ngày nay chiến tranh đã qua đi rồi nhưng rất nhiều gia đình đang sống trong chiến tranh, và gia đình đang giống như một bãi chiến trường giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái.
Chiến tranh đã qua đi rồi nhưng nhiều khi trong xã hội của ngày hôm nay nhiều khi chúng ta đấu đá với nhau còn hơn trong cuộc chiến.
Chiến tranh đã qua đi rồi nhưng nhiều khi con người đối xử với nhau nhiều khi còn tàn ác hơn cả trong cuộc chiến.
Chúng ta cần ơn bình an.
Bình cho tâm hồn mình, bình an cho gia đình, bình an cho giáo xứ, bình an cho đất nước, cho Giáo Hội và thế giới...

Chúa Giêsu đã chẳng dạy: "Anh em muốn gì cứ xin thì sẽ được".
Vậy chúng ta hãy xin ơn bình an và hòa bình cho chính chúng ta và thế giới này.
Xin bằng cách nào?
Hãy cầu nguyện với Chúa Thánh Thần, hãy sùng kính Ngài và xin Ngài ban cho tâm hồn chúng ta bình an. Hãy dâng hòa bình trên thế giới và đất Việt chúng ta lên Chúa Thánh Thần, để Ngài thương xót ban cho xã hội chúng ta hòa bình trong thời cuối này.

Hãy chạy đến với Mẹ Maria, vì Mẹ là Nữ Vương Hòa Bình.
Nhà Thờ Đức Bà Sài Gòn và Nhà Thờ Lớn Hà Nội có tượng Đức Bà Hòa Bình nói lên khát vọng của con cái Mẹ tại Việt Nam mong muốn có hòa bình.
Vì thế chúng ta hãy siêng năng Lần Hạt Mân Côi để cầu nguyện cho thế giới và đất nước được hòa bình. 
Mời anh chị em đọc tiếp về truyện tích Mân Côi để thấy sức mạnh của Kinh Mân Côi: 

Chuỗi Mân Côi cứu cả thành phố Milan nước Ý

TRUYỆN TÍCH 38: Trích 100 Truyện Tích Mân Côi

Chuỗi Mân Côi cứu cả thành phố Milan nước Ý

Nước Ý có nhiều thành phố rất lớn và có nhiều di tích lịch sử. Ngoại trừ Roma là thủ đô, và là trung tâm công giáo thế giới, thì Milan là thành phố lớn thứ nhì. Ở đây dân giàu, của cải vật chất dư thừa, nhiều học giả trí thức nổi tiếng. Cho nên có câu tục ngữ: “Vật chất vào, thì tinh thần đạo đức đi ra”. Đúng vậy, giáo dân và hàng giáo sĩ ở Tổng Giáo Phận Milan càng ngày càng xuống giốc thê thảm. Giáo sĩ thì lười biếng trễ nải chỉ lo tích trữ tiền của làm giàu. Giáo dân thì khô khan nguội lạnh, bỏ cả ngày lễ trọng và Chủ nhật. Đứng trước tình trạng đen tối như vậy. Đức Giáo Hòang đã phải lo đến việc chỉnh đốn Tổng Giáo Phận Milan này. Do đó Ngài đã cử 1 vị Giám Mục còn trẻ, nhưng rất có lòng kính mến Đức Mẹ, và năng lần chuỗi Mân Côi, làm Giám Mục cai quản Tổng giáo Phận này. Đó là Đức Cha Carolô Bôromeô . Khi được bổ nhiệm về làm Giám Mục Milan, Ngài chỉ mới có 22 tuổi. Nhưng sau 4 năm, được cử làm Tổng Giám Mục, cai quản cả Tổng Giáo phận.

Đức tân Tổng Giám Mục cầu xin Đức Mẹ cho Ngài được can đảm cải tổ mọi hệ thống từ trên xuống dưới. Để làm gương cho mọi người, Đức Tổng Giám Mục đã sống bằng gương sáng: bác ái, khổ hạnh và yêu mến Đức Mẹ. Ngài siêng năng lần hạt, và đọc kinh Officium kính Đức Mẹ hằng ngày, ăn chay các ngày thứ bảy, và các ngày lễ kính Đức Mẹ. Ngài giao phó mọi sự cải tổ Tổng Giáo Phận cho Đức Mẹ. Đối với hàng giáo sĩ, Ngài tổ chức các giáo xứ rất chu đáo. Các cha sở nào ở 1 chỗ quá lâu, thì được đổi đi nơi khác. Chương trình huấn luyện các tiểu chủng viện và đại chủng viên, cũng được thay thế cho phù hợp với tình thế hiện tại. Các dòng tu phải được sống khắc khổ cho phù hợp với luật dòng. Ngài đã tổ chức nhiều hội Mân Côi cho giáo dân hưởng nhờ, và khuyến khích mọi người siêng năng lần chuỗi Mân Côi, tổ chức rước kiệu trong các ngày lễ trọng kính Đức Mẹ. Đặt Đức Mẹ làm bổn Mạng cho Tổng Giáo phận, và các dòng tu. Đặt tượng Đức Mẹ trong các cửa ra vào nhà thờ , tại các công viên để giáo dân chào kính khi đi qua . Tập cho toàn thể Giáo phận có thói quen khi nghe chuông 12 giờ trưa, thì tất cả đọc kinh Truyền tin. Bất kỳ ai ở đâu, ngoài đường , trong nhà, ngoài cánh đồng, đang lao động, đều qùy xuống đọc kinh truyền tin kính Đức Mẹ. Củng như bây giờ ở Vatican, ngày nào ĐGH cũng đọc kinh truyền tin cùng với giáo dân . Với lòng trông cậy và phó thác vào Mẹ như con thảo, Ngài đã cải tổ được hàng giáo sĩ, chinh phục được nhiều kẻ tội lỗi trở về với Chúa với Đức Mẹ .

Ngày nay Tổng Giáo Phận Milan là 1 giáo phận lớn thứ nhì nước Ý, đã và đang sản xuất ra rất nhiều anh tài cho Giáo Hội công giáo Âu Châu, và toàn thế giới. Tổng Giám Mục Boromeo đả được giáo hội phong hiển thánh , và ngày lễ kính Ngài vào ngày 4/11 hằng năm.

Lời bàn : 
Xem qua câu truyện trên đây, ta thấy bất cứ chỗ nào có tình trạng bê bối, ngưòi ta sống bê tha tội lỗi, mà biết cậy trông Đức Mẹ, năng lần chuỗi Mân Côi, thì Đức Mẹ sẽ cứu. Ở trong nhà tù cộng sản, các anh em hết sức chán nản ngã lòng. Có nhiều người đã nghĩ đến tự tử, để kết thúc cuộc đời cho yên 1 bề, cho vợ con đưọc an phận lo tương lai cho mình và con cái. Ngay trong lúc này, thì chúng tôi kịp thời phát động chiến dịch lần chuỗi Mân Côi kính Đức Mẹ, xin Mẹ giải quyết mọi vấn đề cho tất cả các anh em quân cán chính chế độ cũ. Quả nhiên Đức Mẹ đã cứu thật. Cứu thế nào thì các anh em đã biết rồi ! 
Trong các nhà tù, tự nhiên khởi sắc vui hẳn lên. Anh em sống tin tưởng và có tinh thần đạo đức, năng lần chuỗi Mân Côi kính Đức Mẹ. Kết qủa là hằng năm, có 2,3 đợt gọi trả tự do cho nhiếu anh em quân cán chính. Rồi cuối cùng là tha hết. Chính phủ VN và HoaKỳ còn tạo điều kiện để anh em được di tản sang Hoa Kỳ sinh sống. Dân chúng thì vưọt biên bằng đường biển, đường bộ, rất nguy hiểm. Còn anh em thì đuợc hàng không Hoa kỳ chở đi an toàn đến nơi đến chốn. Vậy có phải là Đức Mẹ đã cứu chúng ta không ?
Tu Sĩ Hèn Mọn

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

+ĐGM Bùi Tuần: Đem Tình Yêu Thánh Tâm Chúa Giêsu đến cho những người đau khổ

Đem Tình Yêu Thánh Tâm Chúa Giêsu đến cho những người đau khổ
Tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu có một dấu chỉ sống động và hùng hồn, đó là vết thương do bị lưỡi đòng đâm thâu qua.

1. Hằng ngày tôi đọc báo, xem truyền hình và có nhiều tiếp xúc. Nhờ vậy tôi được biết là hiện nay những người đau khổ chiếm một số đáng kể. Trên thế giới họ đang là một vấn đề lớn. Tại Việt Nam họ đang là một tiếng gọi khẩn thiết.

2. Rất may là vấn đề lớn đó cũng như tiếng gọi khẩn thiết đó đã và đang đánh thức được nhiều lương tâm. Bác ái từ thiện được khơi dậy và thực hiện đều khắp dưới nhiều hình thức. Nhà nước làm, tôn giáo làm, đoàn thể làm, cá nhân làm.

3. Nhưng những đau khổ cũ chưa tan, thì những đau khổ mới lại bùng lên. Cảnh đó làm tôi rất buồn. Nhờ đức tin, lòng tôi càng buồn, thì càng gần lại bên Chúa Giêsu.

4. Trong thinh lặng âu yếm, Chúa Giêsu dạy tôi hãy nhìn vào trái tim Người, một trái tim đã bị lưỡi đòng đâm thâu qua. Người nhắc lại cho tôi nhớ lời xưa Người đã nói:“Cha chính là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11). Trong giây lát, Người cho tôi hiểu: Dù làm việc thiện nào cho người đau khổ, tôi cũng hãy mang tình yêu của trái tim Chúa đến cho họ.
Tôi xin vâng. Nhưng, làm thế nào để mang tình yêu của Trái Tim Chúa đến cho người đau khổ trong mọi việc tôi làm cho họ?

5. Thú thực là để thực hiện điều đó, tôi luôn phải nhờ đến ơn Chúa.
Chúa ban ơn đó cho tôi, nhưng Người bảo tôi phải cầu nguyện, chiêm niệm. Như thể ơn Chúa ban là rất cao quý, tôi phải có chút phần nào cộng tác vào đó, bằng sự mở lòng tôi ra một cách khiêm nhường, nghèo khó. Tôi nhận mình hèn yếu, nhưng vững tin vào tình yêu của Trái Tim Chúa đã hy sinh vì tôi và vì mọi người.

6. Dần dần, khi cầu nguyện như thế, tình yêu Trái Tim Chúa đã đi vào lòng tôi. Tình yêu ấy như làm cho lòng tôi, dù đang nặng nỗi đau buồn, lại nở ra hoa, một thứ hoa có yêu thương và vui mừng. Đúng như lời Kinh Thánh nói: “Hoa trái của Thánh Thần là bác ái và niềm vui” (Gl 5,22).

7. Từ kinh nghiệm nội tâm trên đây, tôi có một cái nhìn riêng về tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu dành cho những người đau khổ. Tôi thấy tình yêu cao quý ấy có ba đặc điểm này: Yêu thương, hy sinh và vui vẻ phục vụ.

Với cái nhìn đó, tôi dễ nhận ra những ai đến với tôi mà thực sự mang tình yêu của Trái Tim Chúa đến cho tôi.

Với cái nhìn đó, tôi cũng dễ nhận ra khi tôi phục vụ, nhất là những người đau khổ, tôi có mang tình yêu của Thánh Tâm Chúa đến cho họ thực không?

8. Tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu có một dấu chỉ sống động và hùng hồn, đó là vết thương do bị lưỡi đòng đâm thâu qua.Với dấu chỉ đó, tôi hiểu thấm thía tình yêu luôn cần được minh chứng bằng hy sinh. Tình yêu không hy sinh là tình yêu giả. Hy sinh không yêu thương là yêu thương thừa. Yêu thương thực bao giờ cũng đẹp nhờ biết hy sinh.

9. Nếu tôi yêu thương đoàn chiên của tôi, nhất là những người đau khổ, thì yêu thương của tôi cần phải được minh chứng bằng một dấu chỉ chắc chắn, đó là hy sinh. “Tôi chính là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên” (Ga 10,11). Hy sinh, mà các mục tử đã và đang làm gương cho tôi, gồm rất nhiều thứ xảy ra thường ngày. Hy sinh về thân xác thì dễ thấy. Hy sinh trong tâm hồn thì khó thấy, nhưng lại rất nhiều.

10. Một trong những hy sinh trong tâm hồn, mà tôi học được nơi các ngài là sự tỉnh thức, khi làm từ thiện bác ái, phục vụ người đau khổ.

Tỉnh thức tránh sự phô trương.Các ngài nhớ lời Chúa phán: “Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chưng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng. Vậy, khi bố thí, đừng cho khua chiêng đáng trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thật, Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi” (Mt 6,1-2).

Tỉnh thức tránh sự lừa dối. Các ngài luôn rất minh bạch về tiền của dâng cúng. Thái độ minh bạch của các ngài làm tôi nhớ lại chuyện ông Khanania và vợ là Xaphira xưa đã gian lận, lừa dối các tông đồ trong việc dâng cúng của cải, và họ đã bị Chúa phạt chết tươi (x. Cv 5,1-11).
Tỉnh thức tránh cho việc từ thiện khỏi bị lợi dụng để kết thành những nhóm lợi ích riêng (x. Ga 2,18-19).
Tỉnh thức tránh thiếu tế nhị trong việc làm từ thiện và phục vụ. Làm cho người đau khổ là làm cho chính Chúa Giêsu.

11. Dù tỉnh thức đến đâu, tôi vẫn thấy mình còn rất xa tình yêu của Trái Tim Chúa Giêsu, nên hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, tôi chỉ biết kêu cầu Chúa một lời vắn tắt này: Lạy Chúa, xin thương xót con. Tôi kêu cầu với lòng tin tuyệt đối.

12. Rồi, dù như bị đóng đinh vào thánh giá là bệnh tật, già yếu, tôi vẫn ra đi, đến những người đau khổ bằng nhiều cách có thể.

13. Cho dù thân phận mong manh, tôi vẫn mang đến cho họ chút tình yêu của Trái Tim Chúa. Tôi yêu thương họ, tôi hy sinh cho họ, tôi vui lòng được phục vụ họ. Và như vậy, tôi sẽ là của lễ, hiệp cùng của lễ Chúa Giêsu dâng chính mình trên thánh giá xưa. Kết quả là sẽ góp phần vào công việc cứu độ những người đau khổ, mà Chúa Giêsu thực hiện.

14. Trên đây là một chia sẻ rất chân thành. Nếu đó là một chứng từ nói lên kinh nghiệm về tình yêu của Trái Tim Chúa nơi một con người hèn yếu như tôi, thì thiết nghĩ đây là một đóng góp vào Tin Mừng cho tình hình phức tạp tại Quê Hương Việt Nam yêu dấu hôm nay.

Nói lên kinh nghiệm về tình yêu Thánh Tâm Chúa, chứ không nói về lý thuyết, đó là điều tôi mạo muội làm. Xin Chúa thương nhận và ban phép lành cho những ai quan tâm đến kinh nghiệm nhỏ bé của tôi, và cầu nguyện cho tôi. Hy vọng như thế đang là một niềm vui giúp tôi càng tin vào tình yêu thương xót Chúa. Xin hết lòng tạ ơn Chúa.

Long Xuyên 4.6.2015
+ GB. Bùi Tuần

SĐ 517: Chẳng bao lâu nữa nhiều ngôn sứ, thị nhân và tiên tri sẽ không còn nhận Thông Điệp nữa

Mẹ của Ơn Cứu Rỗi: Chẳng bao lâu nữa nhiều ngôn sứ, thị nhân và tiên tri trên thế giới sẽ không còn nhận những Thông Điệp nữa

Thứ hai ngày 13 tháng 8 năm 2012, lúc 19:45

Hỡi con của Mẹ, chẳng bao lâu nữa nhiều ngôn sứ, thị nhân và tiên tri trên thế giới sẽ không còn nhận những Thông Điệp nữa để nhường chỗ cho những Thông Điệp hết sức quan trọng này.

Phần lớn sứ vụ của Mẹ thông qua các thị nhân sẽ sớm ngừng lại để dành chỗ cho Tiếng Nói của Chúa Thánh Thần được ban cho con, vị ngôn sứ của thời cuối.

Nhiều tiên tri giả, những kẻ đã xuất hiện, sẽ vẫn kêu gào to tiếng nhất và đó sẽ là những tiếng nói duy nhất tranh giành sự chú ý với những Thông Điệp chân thật cuối cùng này từ Thiên Đàng.

Hỡi con của Mẹ, đừng sợ hãi vì con và Sứ Vụ này đã được bảo vệ.

Không chỉ mình con là người hoạt động cho Sứ Vụ này. Toàn thể Thiên Đàng, các thiên thần và các thánh đang làm việc với con. Chính vì thế mà con không bao giờ được phép cảm thấy cô đơn ngay cả khi con phải chịu đau khổ.

Con đang bị những kẻ thù của Thiên Chúa ngăn chặn mỗi ngày.

Chúng đã thực hiện các kế hoạch nhằm ngăn chặn việc xuất bản Sách Sự Thật nhưng sự bách hại này hầu như đã chấm dứt.

Hãy luôn ở bên Mẹ, Mẹ của con, để Mẹ có thể che chở con bằng Áo Choàng Thánh Thiêng của Mẹ nhằm bảo vệ con khỏi sự dữ.

Con đang trở nên ngày một mạnh mẽ hơn và can đảm hơn tuy đã thấm mệt. Điều này sẽ qua đi và nhân loại sẽ chào đón Sách Sự Thật đã được hứa ban cho họ từ rất lâu rồi.

Giờ đây con hãy dấn thân và hãy tạ ơn Thiên Chúa vì Sứ Vụ trọng đại này.

Toàn thể Thiên Đàng đều chúc phúc cho con.

Toàn thể Thiên Đàng đang dắt tay con từng ngày và tất cả các thánh đang bảo vệ con.

Cuộc chiến bắt đầu khi Cuốn Sách đầu tiên được bán ra. Sách Sự Thật sẽ loan truyền trên toàn thế giới, vì thế con phải chuẩn bị đầy đủ.

Hãy xin ơn trợ giúp và con sẽ được lãnh nhận.

Hãy dấn thân trong bình an và yêu thương.

Mẹ yêu dấu của các con

Mẹ của Ơn Cứu Rỗi

Chuyển dịch từ nguồn: The Book of Truth

Qủy nói về việc: "Nhàn cư vi bất thiện!"

"Nhàn cư vi bất thiện!"
Một linh mục kể rằng:
"Trong Nhật Ký của Thánh Faustina có kể một trường hợp là ma quỷ đi lang thang nơi các hành lang của nhà Dòng để tìm kiếm ai đó mà cám dỗ. Thánh Faustina bắt hắn phải ngừng lại. Chị Thánh bảo hắn vì sự vâng lời Chúa Giêsu mà hắn phải nói cho chị Thánh biết những điều gì là nguy hiểm lớn nhất đối với các nữ tu?
Ma quỷ miễn cưỡng phải trả lời chị Thánh rằng:
"Đó là sự lười biếng và các linh hồn làm biếng."
Tất cả chúng ta thường nghe câu tục ngữ:
"Sự rảnh rang là nơi làm việc của ma quỷ.”
Điều này có nghĩa là nếu chúng ta không có việc gì làm thì ma quỷ sẽ cho chúng ta nhiều thứ để làm. Thánh John Bosco rất sợ khi mùa hè đến vì đó là thời kỳ mà các người trẻ của ngài có quá nhiều giờ tự do để dễ trở nên trò chơi cho ma quỷ. Chúng ta thường phạm tội nếu có những ngày giờ rảnh rang và lười biếng.
"Nhàn cư vi bất thiện!"
Kim Hà
Nguồn:Spiritdaily.com

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

Sứ Điệp Ứng Nghiệm: Ái Nhĩ Lan trưng cầu dân ý về "hôn nhân đồng tính"

Các Hồng Y lên tiếng chỉ trích cuộc trưng cầu dân ý về cái gọi là "hôn nhân đồng tính" tại Ái Nhĩ Lan
84.7% trong tổng số 4,832,800 người Ái Nhĩ Lan là người Công Giáo nhưng trong cuộc trưng cầu dân ý hôm 22 tháng Năm vừa qua 1,201,607 phiếu trong tổng số 1,949,725 phiếu bầu, tức là 62.07% đã đồng ý sửa đổi hiến pháp công nhận “hôn nhân đồng tính”.

Ái Nhĩ Lan không phải là nước đầu tiên định nghĩa lại hôn nhân để công nhận “hôn nhân đồng tính”. Ở một số nước khác, nhà cầm quyền công nhận “hôn nhân đồng tính” thông qua các cơ chế lập pháp. Nhưng tại Ái Nhĩ Lan, việc sửa đổi hiến pháp cần phải thông qua một cuộc trưng cầu dân ý. Do đó, Ái Nhĩ Lan là nước đầu tiên công nhận “hôn nhân đồng tính” thông qua phổ thông đầu phiếu.

Trước diễn biến bi đát này, Đức Hồng Y Raymond Burke, nguyên chánh tòa ân giải tối cao, nhận định rằng:

“Đây là một thách thức chống lại Thiên Chúa”.

Trong bài nói chuyện tại Đại Học Oxford thuộc Hiệp Hội Newman về di sản trí tuệ của Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16, Đức Hồng Y Raymond Burke bày tỏ sự đau buồn tột độ của ngài: 

“Thật không thể tin nổi. Những người ngoại đạo có thể dung nạp những hành vi tình dục đồng giới, nhưng họ không bao giờ dám nói đây là một cuộc hôn nhân.”

Trong khi đó, nói chuyện trong hội nghị về kinh tế tại Vatican hôm thứ Hai 25 tháng 5, Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh đã mô tả cuộc trưng cầu dân ý tại Ái Nhĩ Lan “không chỉ là một thất bại đối với nguyên tắc Kitô giáo, nhưng là một thất bại đối với nhân loại”

“Tôi đã rất buồn vì kết quả này”, ngài nói.

Trong cuộc trưng cầu dân ý tại Ái Nhĩ Lan đã nổi lên một số linh mục trong đó khét tiếng nhất là các linh mục Pádraig Standún, Iggy O’Donovan và Martin Dolan, những người tự nhận mình là “gay” và hô hào giáo dân bỏ phiếu công nhận “hôn nhân đồng tính”.

Hành vi đáng kinh ngạc của các linh mục này lại được kèm theo một diễn biến đáng kinh ngạc khác là không ai trong số các ngài này cho tới nay bị một hình thức kỷ luật nào của đấng bản quyền địa phương.
Theo Conggiao.info

Sứ Điệp Ứng Nghiệm

Chúng sẽ thuyết phục các tín hữu của Cha chấp nhận những Lề Luật trong Giáo Hội của Cha bằng cách tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý

Thứ Tư, ngày 31 tháng 7 năm 2013, lúc 6:56 tối.

Hỡi con gái yêu dấu của Cha, con hãy luôn nhớ cách thức tên ác thần hành động. Hắn rất cẩn thận để không lộ chân tướng. Vì vậy hắn pha trộn sự thật và sự dối trá để gây ra nhầm lẫn. Đây là cách thức yêu thích của hắn để lừa dối các linh hồn. Hắn sẽ không bao giờ nói sự thật, để người khác thấy được hắn thật sự là kẻ như thế nào, nhưng bởi vì hắn kiêu ngạo, lòng kiêu căng và hận thù của hắn đối với Cha sẽ luôn trào ra. Những ai chú ý sẽ ngay lập tức nhận ra những sự xúc phạm trước Mặt Cha và trước các bàn thờ của Cha.

Hãy nhớ rằng Satan thì kiêu căng, ngạo mạn, khoe khoang và vô cùng xảo quyệt. Khi hắn hiện diện trong các linh hồn, hắn sẽ có một sự tự tin trơ tráo, vốn được sinh ra bởi lòng kiêu căng, ngạo mạn và niềm tin rằng hắn vượt trên Thiên Chúa. Hắn luôn luôn để lại những dấu chỉ xúc phạm đến Thiên Chúa, nhưng chỉ những ai biết quan sát mới có thể nhận ra những dấu chỉ ấy. Những ai tôn vinh Satan và dành nhiều thời gian trong các nhóm để tổ chức các nghi lễ tỏ lòng tôn kính hắn, sẽ vui mừng khi nhận thấy những dấu chỉ này. Tất cả những ai bán linh hồn cho Satan sẽ liên lạc với hắn qua những dấu chỉ ấy như là một hành động ngạo mạn thách thức Cha, Chúa Giêsu Kitô.

Những ai lừa dối các con nhân danh Cha, sẽ thuyết phục các tín hữu của Cha chấp nhận những Lề Luật trong Giáo Hội của Cha bằng cách tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý.

Mọi người sẽ được mời gọi để dung túng cho những thực hành mới, bao gồm hai điều này. Đầu tiên là xóa sạch Sự Hiện Diện của Cha trong Bí Tích Thánh Thể. Kế đến là dung túng cho tội lỗi, bằng cách khuyến khích người ta cảm thông cho quyền con người của những ai không tin vào Chúa Giêsu Kitô.

Cuộc trưng cầu này sẽ bị gian lận và sự dối trá sẽ được trình bày như là Sự Thật. Khi tôn giáo một thế giới mới được trình làng thì Giáo Hội của Cha trên Trái Đất sẽ phải trú ẩn để thờ phượng Cha.

Cha là mục tiêu của con thú. Cha là Đấng mà hắn muốn làm tổn thương. Hắn biết rằng hắn không thể tiêu diệt Cha, nên thay vào đó hắn sẽ cố gắng hủy diệt nhân loại mà hắn nguyền rủa từng giây phút. Những kẻ đi theo hắn sẽ không chỉ dừng lại ở việc xúc phạm Sự Hiện Diện của Cha trong các Nhà Tạm trên thế giới. Chúng sẽ không thỏa mãn khi chỉ phá hủy các Bí Tích để xúc phạm Cha. Chúng chỉ vui mừng khi cướp đi các linh hồn bằng cách tạo ra một sự xúc phạm kinh tởm nhất. Đó là khi hắn tái diễn lại Cuộc Ngự Đến Lần Thứ Nhất của Cha bằng cách tạo ra cảm giác rằng Thánh Gioan Tẩy Giả đã được gởi đến. Người nào tự xưng rằng ông ta là ngôn sứ của Thiên Chúa sẽ là nói dối và gây nên những thắc mắc khi ông ta tuyên bố rằng tên Phản Kitô là Cha, Chúa Giêsu Kitô.

Nhờ quyền lực của Satan, tên Phản Kitô sẽ tuyên bố hắn chính là Cha, Chúa Giêsu Kitô. Khốn thay cho những linh hồn nào chào đón hắn trong vòng tay họ, vì họ sẽ bất lực trong việc chống lại hắn. Nếu các con cho phép hai tên này lôi kéo các con vào sự dối trá rỗng tuếch của chúng thì các con sẽ rất xa cách Cha đến nỗi chỉ nhờ Sự Can Thiệp của Chúa Cha mới có thể đem các con trở lại vào trong Lòng Thương Xót Bao La của Cha.

Trong tương lai, bất cứ ai đến và tuyên bố rằng hắn chính là Cha, Chúa Giêsu Kitô, thì hãy biết rằng hắn là một tên lừa dối. Cha sẽ không đến trong xác phàm một lần nữa. Satan không thể thốt ra những lời này:

“Chúa Giêsu Kitô, Đấng đến trong xác phàm.”

Những gì hắn sẽ nói, thông qua miệng lưỡi của con thú, sẽ là:

“Ta là Chúa Giêsu, ta đến trong xác phàm để đem đến cho các con sự cứu rỗi. ”

Khi điều này xảy ra, Sự Can Thiệp Thánh Thiêng của Cha sẽ trở nên nhanh chóng, nhưng khi ấy thì tiên tri giả và tên Phản Kitô đã cướp đi được nhiều linh hồn.

Hãy cầu nguyện, cầu nguyện và cầu nguyện để tất cả những người nói rằng họ thuộc về Cha vẫn luôn thuộc về Cha.

Hãy cầu nguyện để tất cả các con có được sức mạnh và lòng can đảm để vác Thánh Giá của Cha trong suốt cuộc bách hại tồi tệ nhất đối với Thân Mình Cha – Nhiệm Thể của Cha – Giáo Hội của Cha trên Trái Đất trong thời gian này.

Chúa Giêsu của các con

Chuyển dịch từ nguồn: thewarningsecondcoming.com

Thượng hội đồng trong bóng tối (Shadow Synod)

Thượng hội đồng trong bóng tối
Tác giả: Vũ Văn An

Ngày 26 tháng Năm vừa qua, khoảng 50 tham dự viên gồm các giám mục, thần học gia và đại diện truyền thông đã dự một phiên họp tại Đại Học Gregorian ở Rôma, mà có người đặt tên là Thượng Hội Đồng trong bóng tối (Shadow Synod).

Phiên họp chỉ kéo dài 1 ngày và chỉ bao gồm một nhóm cá nhân có chọn lựa, mục đích là để thúc đẩy “các cải tiến mục vụ” tại Thượng Hội Đồng Giám Mục sắp tới về Gia Đình. Đây là sáng kiến của các vị chủ tịch các hội đồng giám mục Đức, Thụy Sĩ và Pháp, tức Đức HY Reinhard Marx, Đức Cha Markus Büchel và Đức TGM Georges Pontier.

Theo Edward Pentin, một trong các chủ đề chủ yếu được thảo luận trong cuộc họp kín cửa này là làm thế nào Giáo Hội có thể chào đón tốt hơn những người hiện sống trong các cuộc kết hợp đồng tính, và theo tường trình, “không một ai” chống đối việc Giáo Hội thừa nhận những vụ kết hợp này có giá trị cả.

Các tham dự viên cũng nói tới việc cần phải “phát triển” giáo huấn của Giáo Hội về tính dục con người và kêu gọi không phải một nền thần học thân xác, như đã được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II giảng dạy, mà là một “nền thần học tình yêu”.

Một linh mục Thụy Sĩ thảo luận “sự quan trọng của sinh lực tính dục (sex drive) con người” trong khi một tham dự viên khác, khi nói về việc cho người ly dị tái hôn được rước lễ, đã đặt câu hỏi: “Làm sao ta có thể bác bỏ việc này, như thể là một hình phạt đối với những người thất bại nhưng nay đã tìm được một người bạn đường mới để khởi sự một cuộc sống mới?”

Marco Ansaldo, một phóng viên của nhật báo Ý La Repubblica, cho rằng lời lẽ trong cuộc họp khá “cách mạng, từ cửa miệng các giáo sĩ”.

Nhà thánh kinh học người Pháp và là người lãnh giải Ratzinger, Anne-Marie Pelletier, cho rằng cuộc đối thoại giữa các nhà thần học và các giám mục là “dấu chỉ thời đại thực sự”. Theo nhật báo Ý La Stampa, Pelletier cho rằng Giáo Hội cần bước vào “cuộc lắng nghe năng động hỗ tương” trong đó, huấn quyền tiếp tục hướng dẫn lương tâm người ta, nhưng bà tin rằng Giáo Hội chỉ có thể làm thế nếu biết “dội lại ngôn từ của những người đã chịu phép rửa”.

Bà cho rằng cuộc họp này “liều mạng đi tìm cái mới, nhưng vẫn trung thành với Chúa Kitô”. Bài báo trên cũng trưng dẫn lời một tham dự viên cho rằng thượng hội đồng sắp tới sẽ thất bại nếu chỉ tiếp tục khẳng định điều Giáo Hội xưa nay vốn giảng dạy.

Cuộc họp trên diễn ra chỉ vài ngày sau khi dân chúng Ái Nhĩ Lan bỏ phiếu tán thành hôn nhân đồng tính và cùng ngày với cuộc họp của Hội Đồng Thường Lệ của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới tại Rôma. Một số quan sát viên cho rằng đây không hẳn là một trùng hợp ngẫu nhiên.

Hội đồng của Thượng Hội Đồng là cơ quan có nhiệm vụ soạn thảo instrumentum laboris (tài liệu làm việc) cho thượng hội đồng về gia đình vào tháng Mười này. Tổng nhập vào tài liệu này sẽ là các câu trả lời cho một bản câu hỏi đã được gửi tới giáo dân khắp thế giới. Những câu trả lời này, đặc biệt là các câu trả lời từ Thụy Sĩ và Đức, xem ra mạnh mẽ ủng hộ việc Giáo Hội thích ứng các giáo huấn của mình đối với thế giới thế tục.

Tại sao thiếu công khai?

Không biết tại sao cuộc họp trên đã diễn ra một cách kín đáo, kín đáo đến nỗi ngay các tu sĩ Dòng Tên nổi danh tại ĐH Gregorian cũng không hay biết gì. Người ta chỉ biết tới nó, nhờ nhà báo Jean-Marie Guénois “bật mí” trên tờ Le Figaro.

Nói với tờ Catholic Register của Mỹ lúc rời cuộc họp, Đức HY Marx cho rằng cuộc họp không có gì bí mật cả. Nhưng ngài tỏ ra khó chịu khi bị dồn hỏi tại sao nó không được quảng cáo; ngài chỉ cụt lủn cho rằng ngài tới Rôma với tư cách riêng và ngài có quyền làm như thế. Gần gũi với Đức Phanxicô và là thành phần của hội đồng 9 vị Hồng Y cố vấn tối cao cho Đức Giáo Hoàng, Đức HY Marx nổi tiếng là người hết sức tha thiết với việc cải tổ cách tiếp cận của Giáo Hội đối với người đồng tính. Trong bài giảng lễ Chúa Thánh Thần vừa qua, ngài kêu gọi Giáo Hội phải có một “nền văn hóa chào đón” đối với họ, nhấn mạnh rằng “các dị biệt không đáng kể, chỉ những gì kết hợp mới đáng kể mà thôi”.

Ngài không đơn độc: trong số các vị tham dự cuộc họp, nhiều vị cùng tham gia với ngài để đẩy mạnh các thay đổi căn để trong sinh hoạt Giáo Hội. Vị chủ tịch các giám mục Thụy Sĩ, Đức Cha Büchel của giáo phận St. Gallen, đã công khai nói tới việc ủng hộ phụ nữ làm linh mục. Đức TGM Pontier, chủ tịch các giám mục Pháp, cũng có cùng một khuynh hướng.

Các nhà tổ chức cuộc họp ngần ngại không muốn tiết lộ tên tuổi các tham dự viên. Nhưng tờ Catholic Register đã nắm được danh sách đầy đủ của họ. Danh sách này bao gồm linh mục Dòng Tên Hans Langendörfer, tổng thư ký hội đồng giám mục Đức, người chủ chốt đứng đàng sau cuộc cải tổ luật lao động của Giáo Hội Đức nhằm cho phép các người ly dị tái hôn và đồng tính được làm việc tại các định chế của Giáo Hội.

Cha Schockenhoff

Trong số các chuyên viên, người ta thấy Cha Eberhard Schockenhoff, một nhà thần học luân lý. Các người Công Giáo Đức trung thành hết sức ngỡ ngàng trước việc nổi tiếng của ngài; ai cũng hiểu ngài là người chủ trí đứng phía sau thách thức của các giám mục Đức đối với các giáo huấn của Giáo Hội, và do đó, đối với thượng hội đồng về gia đình.

Là một người nổi tiếng chỉ trích thông điệp Sự Sống Con Người (Humanae Vitae) cũng như là người hết lòng ủng hộ các giáo sĩ đồng tính và những ai đòi cải tổ đạo đức học tính dục, Cha Schockenhoff còn nổi tiếng làm cố vấn hàng đầu của các giám mục Đức trong những ngày dẫn tới thượng hội đồng.

Năm 2010, trong một cuộc phỏng vấn, ngài ca ngợi tính vĩnh viễn và tình liên đới trong các liên hệ đồng tính như là “có giá trị về đạo đức”. Ngài nhấn mạnh rằng bất cứ sự đánh giá nào đối với hành vi đồng tính “cũng phải ở ghế sau” vì lẽ: các tín hữu “ngày càng trở nên xa lạ đối với nền luân lý tính dục của Giáo Hội” một nền luân lý rõ ràng “không thực tế và thù nghịch đối với họ”. Ngài cho rằng: Đức Giáo Hoàng và các giám mục nên “coi trọng vấn đề này chứ không nên bác bỏ, coi nó như lỏng lẻo”.

Cha Schockenhoff cũng đã có lần tuyên bố rằng thần học luân lý phải “được giải thoát khỏi luật tự nhiên” và lương tâm nên đặt căn bản trên “kinh nghiệm sống của tín hữu”.

Ngài cũng khư khư cho rằng tính bất khả tiêu của hôn nhân “không bị đặt thành nghi vấn nghiêm trọng” khi cho phép người ly dị tái hôn rước lễ. Ngài còn viết một cuốn sách để đẩy mạnh luận đề của mình vào năm 2011 với tựa đề “Các cơ hội để hoà giải?: Giáo Hội và các người ly dị và tái hôn”. Ngài còn đề nghị xa hơn rằng nên bãi bỏ hạn từ “Giáo Hội chính thức” vì hiện có một hố sâu phân cách giữa Giáo Hội định chế và Giáo Hội của các tín hữu.

Làm chuyên viên còn có Marco Impagliazzo, chủ tịch phong trào giáo dân Sant’Egidio; linh mục Dòng Tên Andreas Batlogg, giáo sư triết học và thần học cũng như chủ bút tập san cấp tiến Stimmen der Zeit (Tiếng Nói Thời Đại), một tập san đã dành số tháng Sáu này cho các liên hệ đồng tính và thượng hội đồng…

Tham dự của truyền thông

Điều cũng đáng ghi nhận là con số đông đảo các đại diện của giới truyền thông. Các ký giả của các tờ Frankfurter Allgemeine Zeitung, các cơ sở truyền thanh truyền hình Đức như ZDF và ARD, nhật báo Ý La Repubblica và nhật báo Pháp La Croix và I-Media đều đã hiện diện. Sự hiện diện này quả là áp đảo, nhằm quảng bá sâu rộng nghị trình của chủ đề đang được thảo luận dẫn tới thượng hội đồng sắp tới.

Cuộc họp này là cố gắng cuối cùng nhằm khéo léo lèo lái thượng hội đồng sắp tới đi theo chiều hướng bị nhiều tín hữu Công Giáo trung thành phản đối. Một bản tuyên bố về cuộc họp trên do hội đồng giám mục Đức công bố ngày 26 tháng Năm nói rằng đây là một “suy tư về khoa chú giải thánh kinh”, một kiểu nói bóng bẩy để chỉ cách hiểu Thánh Kinh khác với Thánh Truyền, và “một suy tư về nền thần học tình yêu”.

Các nhà phê bình cho rằng cả điều sau cũng đang phá hoại giáo huấn của Giáo Hội. Khi thay thế nền thần học thân xác bằng nền thần học tình yêu, người ta đã tạo ra lối giải thích trừu tượng nhằm tách tính dục ra khỏi việc sinh sản, do đó, cho phép nhiều hình thức kết hợp ngoài hôn nhân và các lối cuốn đồng tính, chỉ dựa vào xúc cảm hơn là thực tại xác thân. Các nhà phê bình cho hay: quan điểm trên đã triệt hạ quan điểm của Công Giáo về hôn nhân, một quan điểm vốn coi mục đích của hôn nhân là sinh sản con cái.

Bản tuyên bố trên, trong khi không hề nhắc chi tới tội lỗi, đã kết thúc bằng cách cho rằng “các thảo luận xa hơn về tương lai hôn nhân và gia đình là điều cần thiết và khả hữu” và cuộc thảo luận này “sẽ được phong phú hóa nhờ một suy tư thần học xa hơn và có chiều sâu hơn”. Đây cũng là một kiểu nói bóng bẩy ngụ ý cần có sự thay đổi trong giáo huấn, khiến người ta nghĩ rằng tín lý trong phạm vi này có thể thay đổi được. Nhưng đối với Giáo Hội Công Giáo, tín lý là điều đã được xác định dứt khoát.

Tường thuật về cuộc họp trên, Andrea Gagliarducci, ký giả và là một chuyên gia thần học của Ý, nhận định rằng thượng hội đồng trong bóng tối này đã yêu cầu các ký giả tham dự không được trưng dẫn bất cứ diễn giả nào bằng tên; họ chỉ được tóm lược các cuộc thảo luận, chứ không được trích dẫn nó một cách đầy đủ. Các tham dự viên cũng không được phép nói với giới truyền thông, dù một số vị, sau đó, có cho giới truyền thông phỏng vấn, qua đó, các vị nhấn mạnh rằng cuộc họp này diễn ra theo lệ họp hàng năm giữa các giám mục 3 nước.

Garglarducci cho rằng một trong các chủ đích của cuộc họp này là cho công bố một tài liệu thần học sẽ được xuất bản trong tháng Chín, gần sát lễ khai mạc thượng hội đồng hồi tháng Mười, khiến phe đối nghịch không kịp trở tay phản công. Mục tiêu là để đẩy mạnh, đẩy xa các ý niệm cấp tiến nhất liên quan tới thượng hội đồng sắp tới.

Nhưng Gagliarducci cho rằng điều ấy chỉ chứng tỏ phe cấp tiến đang hoang mang hoảng sợ. Vì lúc khởi đầu, họ rất hy vọng được Đức Phanxicô cổ vũ các ý tưởng của họ. Nhưng nay, họ đang lo lắng sâu sắc khi thấy liên tiếp trong 6 tuần qua, Đức Phanxicô chỉ nói về gia đình truyền thống trong các bài giáo lý hàng tuần. Và ngày 28 tháng Năm vừa qua, khi tiếp các giám mục của Cộng Hòa Dominican tới viếng mộ các Thánh Phêrô và Phaolô, ngài yêu cầu các vị ủng hộ gia đình truyền thống.

Dù sao, thì với chiến thuật tinh tế của ba hội đồng giám mục Tây Âu đầy chất cấp tiến, nay đã tới lúc các hội đồng giám mục bảo thủ và ôn hòa khác cần lên tiếng để quân bình hóa điều mà ta vốn hiểu là cảm thức đức tin nơi cộng đồng tín hữu thế giới.
Theo Thanhlinh.net

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2015

Tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi

Tình yêu Ba Ngôi
Tác giả: Huệ Minh

LỄ CHÚA BA NGÔI

Dnl 4,32-34.39-40; Rm 8,14-17; Mt 28,16-20

TÌNH YÊU BA NGÔI

Nhắc đến ca sĩ Phan Đình Tùng, ắt hẳn khó ai quên được giọng ca của anh qua bài hát “Làm dấu”. Có thể nói rằng Phan Đình Tùng thể hiện bài hát này khá thành công bởi lẽ Anh đã đặt hết tâm tình vào bài hát đấy :

Con đặt tay lên trán tôn vinh Chúa Cha toàn năng

Con đưa tay xuống ngực chúc tụng Chúa Con tình yêu

Đưa tay sang trái phải, vinh danh Chúa Thánh Thần

Nguyện ơn Thánh thêm hồng phúc đời con

Mỗi lần làm dấu Thánh xin ngự đến trong tâm hồn con

Mỗi khi con cầu nguyện, xin hãy biến đổi tâm hồn con,

Xin cho con giống Ngài, trong lời nói việc làm,

Ước mong đời con nên dấu chỉ yêu thương của Ngài giữa đời.

Con làm dấu hằng ngày, con làm dấu một đời,

Khắc ghi tình yêu ba ngôi Thiên Chúa trong trái tim con

Ôi dấu Thánh nhiệm màu, dấu ấn tình yêu

Nhắc nhở con luôn hướng lòng lên Chúa

Con làm dấu hằng ngày, con làm dấu một đời,

Khắc ghi tình yêu ba ngôi Thiên Chúa trong trái tim con

Ôi dấu Thánh nhiệm mầu, dấu ấn tình yêu

Chúa mãi ở trong con, con ở trong Chúa.

Bài hát Làm dấu như gói ghém mầu nhiệm chính trong đạo Công Giáo đó chính là mầu nhiệm Ba Ngôi.

Xem ra thì khó hiểu, khó lý giải nhưng nhìn trong ánh mắt đức tin, con mắt đức tin cũng như qua giáo huấn của Giáo Hội hay nói chính xác hơn là do mạc khải từ nơi Chúa Giêsu ta tin nhận Thiên Chúa Ba Ngôi. Tin nhận Thiên Chúa có ba Ngôi và ba Ngôi đó như nhau, cùng được phụng thờ, cùng được tôn vinh như trong Kinh Tin Kính ta thường đọc :

Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất.

Tôi tin kính Đức Chúa GiêSu Kitô là con một Đức Chúa Cha cùng là Chúa chúng tôi; bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà người xuống thai, sinh bởi Bà Maria đồng trinh; chịu nạn đời quan Phong-xi-ô Phi-la-tô, chịu đóng đinh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết sống lại; lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng; ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.

Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần; tôi tin có hội Thánh hằng có ở khắp thế này, các Thánh thông công; tôi tin phép tha tội; tôi tin xác loài người ngày sau sống lại; tôi tin hằng sống vậy.

Qua Kinh Tin Kính mà chúng ta tuyên xưng, chúng ta đã nhận thấy rõ ràng vai trò, chức vị của ba Ngôi Thiên Chúa. Nhưng, nét rõ nhất và chính yếu nhất mà ta nhận thấy nơi ba Ngôi Thiên Chúa chính là tính hiệp nhất và yêu thương.

Hiệp nhất trong công trình sáng tạo, hiệp nhất trong công trình cứu độ để mưu cầu đưa con người về cùng hợp đoàn với gia đình ba Ngôi.

Thánh Thần đã đóng góp vai trò rất quan trọng trong công trình sáng tạo từ Thiên Chúa Cha. Và, sau khi sáng tạo, ta thấy con người sa ngã phạm tội, đánh mất đi tình yêu Thiên Chúa đã dành cho con người.

Đoạn Tin Mừng rất ngắn ta vừa nghe đã hé mở cho chúng ta thấy mối quan hệ cũng như vai trò của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần trong việc thực hiện tình thương cứu độ đối với con người. Tình thương ấy xuất phát từ Chúa Cha là nguồn gốc và là Đấng khởi xướng. Tình thương ấy được thực hiện cho con người qua Đức Kitô, Con Thiên Chúa xuống thế làm người và chịu chết trên thập giá. Tình thương ấy được thấm nhập vào trong tâm hồn mỗi người chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần. Đức Kitô đã trình bày và giới thiệu Chúa Thánh Thần như là Đấng sẽ tiếp nối sứ vụ của Ngài bằng cách giúp cho các môn đệ đi sâu vào ý nghĩa của những lời Ngài đã nói và những việc Ngài đã làm.

Để ý, ta thấy Chúa Giêsu trong cuộc đời loan báo Tin Mừng của Ngài, Ngài luôn kết hợp mật thiết với Cha và Thánh Thần : “ "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha. Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ Người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không biết rõ Chúa Cha, trừ Người Con và kẻ mà Người Con muốn mặc khải cho”. (Mt 11, 26-28).

Và, khi bẻ bánh với các môn đệ ta lại thấy : “Khi giờ đã đến, Đức Giê-su vào bàn, và các Tông Đồ cùng vào với Người… Rồi Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông ... (Lc 22, 14). Thế rồi Chúa Giêsu ngước mắt lên trời và cầu nguyện: Lạy Cha, xin hãy tôn vinh Con Cha để Con Cha tôn vinh Cha" (Ga 17, 1). Người đã được Chúa Cha ban cho vinh dự và vinh quang, khi có lời từ sự vinh quang cao cả xuống phán về Người rằng: "Này là Con Ta yêu dấu, Người đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người" (2 Pr 1, 17). Và từ đám mây có tiếng phán rằng: "Ðây là con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người" (Mc 9, 7).

Đấy là những điểm nhỏ chấm phá về tình yêu thương, hiệp nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa. Tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa tuôn đổ muôn ơn lành xuống trên con người và nhất là ơn cứu độ cho con người.

Ta vẫn thường tuyên xưng Ba Ngôi Thiên Chúa, giản đơn qua dấu Thánh Giá mà ta ghi dấu trên con người của ta nhưng nhìn lại đời ta về tình yêu thương và hiệp nhất mà ba Ngôi Thiên Chúa mời gọi, thể hiện trên đời ta như thế nào ?

Ngày nay, khủng hoảng đời sống nhân bản, nhân tính của con người đã đến mức báo động. Con người ngày hôm nay dường như đã đánh mất đi tình yêu thương và sự hiệp nhất ngay chính trong gia đình của mình dẫu rằng mình vẫn tuyên xưng, mình vẫn tin kính vào Thiên Chúa. Chủ nghĩa mackeno và cái tôi ngày hôm nay được người ta tôn vinh đến tột độ.

Điều thực tế vẫn xảy ra thường ngày mà ta vẫn thường thấy trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn là chuyện tiền, chuyện tình, chuyện hiệp nhất yêu thương của con người với con người. Có những trường hợp đắng lòng khi chỉ vì căn nhà, chỉ vì miếng đất mà con giết cha, em giết chị ... Gia đình ngày hôm nay thật sự mà nói hiếm có cơ hội ngồi lại với nhau, hiệp nhất với nhau.

Thi thoảng, có dịp cùng bè bạn vào quán cà phê ngồi hàn huyên tâm sự. Nhìn tới nhìn lui thật mắc cỡ khi cái bàn của mình ngồi khá ồn ào vì lẽ lâu ngày gặp nhau bạn bè cứ kể chuyện này chuyện kia cho nhau nghe. Gần bạn của chúng tôi có 2 bàn của 2 gia đình. 2 gia đình đó đi riêng với nhau. 2 vợ chồng và 2 đứa con. Hẳn nhiên là không phải tò mò nhưng ngồi ngay trước bàn chúng tôi và ngay trước mắt chúng tôi hình ảnh của cả gia đình tự kỷ. Gọi nước xong thì cha mở laptop, mẹ mở iphone, con mở ipad. Thế là chẳng ai nói gì với ai, chẳng ai trò chuyện với ai cả. Cũng đúng thôi vì lẽ mỗi người đều có trò chơi, đều có “người” nói chuyện qua cái iphone, ipad, laptop trước mặt mình rồi.

Hiện tượng tự kỷ như thế này ngày nay đáng tiếc không còn là chuyện hiếm nữa mà nó lan rộng khắp xã hội vì lẽ chẳng ai còn tha thiết với ai nữa. Họ tìm đến những đồ chơi công nghệ cao để thỏa mãn những gì họ cho là thỏa mãn. Như thế, không có chuyện họp mặt gia đình một cách đúng nghĩa nữa. Có chăng chỉ là hình thức bên ngoài mà thôi.

Ngày hôm nay, chúng ta mừng mầu nhiệm một Chúa mà Ba Ngôi để nhìn lại niềm tin của ta vào Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhìn như thế để ta thấy lại lòng mình về thái độ sống yêu thương và hiệp nhất để rồi ta càng nguyện xin ba Ngôi Thiên Chúa đến và ở lại với ta, để hướng dẫn, để thêm ơn, để bổ sức cho ta sống tâm tình hiệp nhất và yêu thương trong cuộc đời, nhất là trong gia đình nhỏ bé, trong xóm đạo, trong giáo xứ cũng như trong cộng đoàn chúng ta đang sống.

Tòa Thánh tái khẳng định việc cấm người ly dị tái hôn rước lễ

Tòa Thánh tái khẳng định việc cấm người ly dị tái hôn rước lễ

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

Vatican (SD 6/07/2000; APIC 7/07/2000) - Ngày 6/07/2000, Hội Ðồng Tòa Thánh giải thích các Văn Bản Luật đã ra tuyên ngôn giải thích chính thức khoản giáo luật số 915 và tái khẳng định việc cấm các tín hữu ly dị tái hôn và các tín hữu Công giáo chỉ kết hôn theo nghi thức dân sự, không được rước lễ.

Khoản giáo luât số 915 qui định: "Không được nhận cho rước lễ những người bị vạ tuyệt thông và cấm chế sau khi hình phạt đã tuyên kết hay tuyên bố, và những người cố chấp trong một tội nặng công khai."

Trong những năm gần đây, một số tác giả đưa ra nhiều lý lẽ để quả quyết rằng khoản giáo luật này không được áp dụng cho các tín hữu ly dị tái hôn. Chẳng hạn họ nói rằng khoản giáo luật này nói về "tội trọng", và để có tội trọng thì phải có tất cả những điều kiện, kể cả những điều kiện chủ quan. Thế mà thừa tác viên cho rước lễ không thể đưa ra phán quyết từ bên ngoài để quả quyết có sự hiện diện của tội trọng nơi một tín hữu. Ngoài ra, để có thể nói là thái độ "cố chấp" ở lỳ trong tội trọng, thì cần phải nhận thấy nơi tín hữu ấy một thái độ thách thức, sau khi được vị Mục Tử cảnh giác hợp pháp.

Hội đồng Tòa Thánh giải thích các Văn Bản Luật bác bỏ các lý lẽ trên đây, và nhắc đến giáo huấn thống nhất từ trước đến nay về vấn đề những người ly dị tái hôn không được rước lễ. Giáo huấn đó dựa trên chính lời Thánh Phaolô: "Vì vậy, ai ăn bánh và uống chén của Chúa một cách bất xứng, thì trở thành tù nhân của Mình và Máu Chúa. Do đó, mỗi người hãy xét mình khi ăn bánh và uống chén này; vì ai ăn và uống mà không nhìn nhận Mình Chúa, tức là ăn và uống án phạt chính mình", 1 Corinto, đoạn 11, câu 27 đến 29. Câu Kinh Thánh này liên hệ trước tiên tới tín hữu và lương tâm của họ, và đó là điều được trình bày trong khoản giáo luật số 916 tiếp đó: "Ai ý thức mình phạm tội nặng và chưa xưng tội trước thì không được làm lễ và không được rước lễ..." Rước Mình Chúa Kitô mặc dù mọi người biết đương sự là bất xứng, thì gây thiệt hại khách quan cho tình hiệp thông của Giáo hội; đó là thái độ gây thiệt hại cho quyền của Giáo hội và tất cả các tín hữu được sống phù hợp với những đòi hỏi của tình hiệp thông ấy. Trong trường hợp cho tín hữu ly dị tái hôn được rước lễ, hành động gương mù ấy có liên hệ đồng thời tới phép Thánh Thể và sự bất khả phân ly của hôn phối.

Hội Ðồng Tòa Thánh giải thích các Văn Bản Luật cũng khẳng định rằng: "Xét về bản chất của qui luật nói trên phát xuất từ luật Chúa, nên không một quyền bính Giáo hội nào, trong bất kỳ trường hợp nào, có thể chuẩn chước cho thừa tác viên trao ban Mình Thánh Chúa khỏi nghĩa vụ không được trao Mình Thánh Chúa cho người bất xứng, và không được ban hành những chỉ thị trái ngược lại".

Trong cuộc phỏng vấn dành cho phái viên hãng tin Công giáo Apic của Thụy Sĩ, ngày 7/07/2000, Ðức Tổng Giám Mục Julian Herranz, Chủ tịch Hội Ðồng Tòa Thánh giải thích các Văn Bản Luật, nói rằng:

"Sở dĩ chúng tôi đã tái khẳng định về mặt pháp lý rằng những người ly dị tái hôn không thể rước lễ là vì có rất nhiều hỗn độn về vấn đề này. Vai trò Hội đồng chúng tôi là giải thích nội dung bộ giáo luật, biểu lộ luật chung của Giáo hội. Khoản số 915 của bộ giáo luật đã bị một số người giải thích sai. "Vì thế, công việc của chúng tôi là tái xác định ý nghĩa của điều khoản đó, và chúng tôi làm điều đó về phương diện pháp lý, theo thẩm quyền của chúng tôi".

Theo Ðức Tổng Giám Mục Julian Herranz, một trong những sai lầm về việc giải thích thường thấy nhất về khoản giáo luật số 915 là nghĩ rằng những người ly dị tái hôn không bị vạ tuyệt thông. "Trong vấn đề này có một sự hỗn độn rất lớn. Cần phải phân biệt những người ở ngoài Giáo hội, vì với tư cách là người bị vạ tuyệt thông, và những người như các cặp ly dị tái hôn, vẫn là những người con trọn vẹn của Giáo hội, và họ được mời gọi tham dự thánh lễ, cho dù không rước lễ, và tích cực tham gia vào các hoạt động của giáo xứ".

Theo Ðức Tổng Giám Mục Chủ Tịch Hội Ðồng Tòa Thánh giải thích các Văn Bản Luật, có hai lý do khiến cho những người ly dị tái hôn không thể rước lễ. "Lý do thứ nhất là mối quan tâm bảo tồn bí tích Thánh Thể. Rước lễ tức là rước chính Chúa Kitô. Vì thế, ta không thể rước lễ nếu ta ở trong tình trạng có tội trọng: tội trọng vì ly dị và tái hôn hay thứ tội trọng nào khác".

Lý do thứ hai là mong ước của Giáo hội bảo tồn "đặc tính bất khả phân ly của hôn nhân Kitô giáo... Có một sự khác biệt lớn lao giữa tình yêu như được quan niệm trong hôn nhân Kitô giáo, và tình yêu được quan niệm ở bên ngoài. Hôn nhân Kitô giáo là một bí tích và là điều rất trọng đại. Hôn nhân dựa trên đặc tính một vợ một chồng và chung thủy với nhau mãi mãi. Dĩ nhiên, điều này đòi phải chiến đấu, vì cần phải tha thứ cho người bạn đường của mình. Giáo hội phải nhắc lại rằng có cuộc chiến đấu đó, nếu không hôn nhân sẽ chỉ là một điều không tưởng. Thực vậy, quan niệm rằng mình phải rời bỏ người vợ hoặc chồng của mình vừa khi khám phá những khuyết điểm mới nơi họ, tức là có một não trạng hướng về ly dị".

Ðức Tổng Giám Mục Herranz nhấn mạnh rằng "không phải Giáo hội không ưa chuộng lòng từ bi. Giáo hội theo gương của Chúa Kitô tha thứ cho người đàn bà ngoại tình trong Phúc Âm, vì Chúa nói: "Hãy đi và đừng phạm tội nữa". Chúa Kitô không biện minh cho tội ngoại tình, mặc dù Ngài tha thứ cho người phụ nữ ấy. Ngày nay Giáo hội tái khẳng định cùng một điều như vậy. Ðiều này có vẻ khó hiểu vì ý tưởng ngày nay là một số đông người nghĩ rằng chân lý ấy không còn giá trị nữa, và cũng không còn hiện hữu. Nhưng một luật do Thiên Chúa truyền không thể thay đổi được.

(Trích dẫn từ Nguyệt San Trái Tim Ðức Mẹ số 272, tháng 8 năm 2000)

Việt Nam: Một người tử vong vì nắng nóng

Một phụ nữ lang thang khoảng hơn 60 tuổi đã bất ngờ được phát hiện khi đã tử vong tại vườn hoa Đường Thành, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Nguyên nhân ban đầu có thể do nạn nhân bị cảm nắng dẫn đến tử vong.

Sự việc xảy ra vào khoảng 17h30 ngày 29/5, khi một số người dân đi trên phố Đường Thành đã hoảng hồn khi phát hiện một người phụ nữ tử vong ngay tại vườn hoa.

Thấy vậy, nhiều người đã dừng xe lại để kiểm tra nhưng lúc này người phụ nữ đã tử vong.

Nạn nhân được xác định là nữ giới, khoảng ngoài 60 tuổi, mặc chiếc áo dài tay màu tím than, quần đen.

Theo người dân, người phụ nữ này đã lang thang đến khu vực này mấy ngày nay.

Một số người dân ở quanh khu vực này cho biết, vào trưa cùng ngày, nhiều người thấy người phụ nữ tựa vào ghế đá giữa nắng.

“Lúc này nhiều người nghĩ bà cụ ngủ nên không ai để ý, tới chiều thì người dân phát hiện bà đã tử vong. Nhiều khả năng, nắng nóng gần 40 độ, kèm theo việc phơi nắng lâu đã khiến bà cảm nắng và tử vong” – một người dân cho biết.

Còn chị L., cũng là một người chứng kiến cho biết: Trước đó người phụ nữ này còn khỏe khoắn, có biểu hiện thần kinh không bình thường.

"Tôi từng thấy bà ấy lang thang ở bến xe Trần Phú và chợ Đồng Xuân, hôm nay thấy dựa ghế đá ở đây, không để ý, ai ngờ..." - chị L. cho biết thêm.

Ngay sau khi nhận được tin báo, lực lượng chức năng đã có mặt, đồng thời tiến hành xác định danh tính nạn nhân.
Theo Vietnamnet

Lm Phạm Đức Hậu Bài 18: Kitô Hữu và Công Đồng Vatican II

Bài 18: KITÔ HỮU VÀ CÔNG ĐỒNG VATICAN II

Do tác động của những dấu chỉ của thời đại đang xảy ra và việc nhớ lại lời Chúa và lời Đức Mẹ, khi hiện ra tại La Salette và Fatima, đã cảnh báo về một sự phản bội đức tin – apostasy – lớn lao sẽ xảy ra trong Giáo Hội, mà loạt bài về Công Đồng Vatican II với tựa đề “Cuộc Cách Mạng Mang Tên Vatican II” đã được thực hiện. Loạt bài này nhằm giúp người đọc nhận ra nhưng thay đổi trong giáo huấn và thực hành của Vatican II khủng khiếp như thế nào. Những thay đổi đó khủng khiếp đến mức người ta có thể nói, Đạo Công Giáo trước Vatican II và Đạo Công Giáo sau Vatican II là hai tôn giáo khác nhau! Một trong những vấn nạn đã được đưa ra khi kết thúc loạt bài về cuộc cách mạng mang tên Vatican II là: Giáo Huấn và thực hành của Vatican II có phải thực sự là hoa trái của Chúa Thánh Thần hay không, hay đó là dấu hiệu của một apostasy mà Lời Chúa và Đức Mẹ đã cảnh báo? 

Đưa ra nghi vấn như vậy, hẳn có người sẽ cho rằng, thật ngông cuồng ngạo mạn! Tuy nhiên, ai nghĩ như vậy chắc sẽ phải thay đổi nếu họ trả lời được câu hỏi này: Người tín hữu có bị bó buộc phải đón nhận giáo huấn của Vatican II không?

Trước khi trả lời câu hỏi trên, người ta cần phải trả lời một câu hỏi khác là: Giáo Huấn của Vatican II có phải là Bất Khả Ngộ không?Nếu giáo huấn của Vatican II là Bất Khả Ngộ, nghĩa là không sai lầm, thì người tín hữu bị bó buộc bởi đức tin và luân lý phải vâng theo. Miễn bàn cãi!

Còn nếu giáo huấn của Vatican II không phải là Bất Khả Ngộ, nghĩa là có thể sai lầm, thì người tín hữu không bị bó buộc phải vâng theo. Đáng tiếc là giả thiết này lại đúng với giáo huấn của Vatican II. Giáo huấn của Vatican II đã thực sự không được đóng dấu bảo vệ bởi “con dấu” Bất Khả Ngộ, ngoại trừ những trích dẫn từ giáo huấn Bất Khả Ngộ của các Công Đồng trước đó. Hậu quả là giáo huấn của Vatican II, về nguyên tắc, là có thể sai lầm và vì thế người tín hữu không bị bó buộc bởi đức tin và luân lý phải vâng theo. Tại sao có thể nói như vậy về giáo huấn của Vatican II?

Theo định nghĩa về ơn Bất Khả Ngộ của Công Đồng Vatican I, một giáo huấn để được nhìn nhận là Bất Khả Ngộ, cần phải hội đủ 2 điều kiện căn bản sau:[1]

1. Phải là một xác quyết của một Giáo Hoàng khi ngài phán dạy từ từ toà – ex cathedra - hay của một Công Đồng liên quan đến đức tin hoặc luân lý. 

2. Phải được công bố cách long trọng (extraordinary). Kiểu công bố long trọng thường được diễn tả kiểu như: Chúng tôi/Hội Thánh Công Giáo vững vàng tin tưởng, tuyên xưng, và truyền dạy rằng (……một điều nào đó liên quan đến đức tin hoặc luân lý…..) và kết thúc bằng vạ tuyệt thông nếu làm trái ngược. 

Theo đó, giáo huấn của Vatican II, mặc dù là những tuyên bố chính thức của Quyền Giáo Huấn, không hề có một chỗ nào hội tụ đủ hai điều kiện nói trên. Nghĩa là, Vatican II đã không định nghĩa một tín điều nào liên quan đến đức tin hoặc luân lý cho mọi người phải tuân giữ, và Vatican II cũng đã không công bố Giáo Huấn cách long trọng. Vì thế, Giáo Huấn của Vatican II không phải là Bất Khả Ngộ, nó có thể sai lầm và hệ quả là người tín hữu không bị bó buộc phải vâng theo. 

Nếu ai đó vẫn không chấp nhận lập luận trên, những lời giải thích sau đây của Đức Phaolô VI sẽ là một bằng chứng xác đáng. Trong bài Giáo Huấn Thứ Tư hàng tuần –General Audience – ngày 12 tháng 1 năm 1966, Đức Phaolô VI đã giải thích như sau: “Những ai tự hỏi đâu là những thẩm quyền và tiêu chuẩn thần học mà Công Đồng muốn đưa ra cho những lời giảng dạy của nó, hãy biết rằng Công Đồng đã tránh không đưa ra những định nghĩa tín lý long trọng bảo đảm bằng ơn bất khả ngộ của Quyền Giáo Huấn….Do tính cách mục vụ mà Công Đồng đã tránh không tuyên bố theo cách thức long trọng những tín điều được ban với dấu của ơn bất khả ngộ; mặc dầu vậy Công Đồng thủ đắc quyền giảng dạy của quyền giáo huấn thông thường tối cao nên hiển nhiên là Quyền Giáo Huấn thông thường đó phải được tất cả các tín hữu thành tâm vàngoan ngoãn đón nhận chiếu theo ý của Công Đồng đối với bản chất và mục đích của từng văn kiện.”[2]

Thêm nữa, Đức Benedictô XVI, khi còn là Hồng Y Bộ Trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin cũng đã khẳng định rằng: “Công Đồng Vatican II không được coi là một phần của toàn thể Truyền Thống sống động của Giáo Hội, nhưng là một sự chấm dứt của Truyền Thống, một sự khởi đầu mới từ con số không. Sự thật là công đồng đặc biệt này đã không định nghĩa một tín điều nào cả, và tự xác định ở một mức độ khiêm tốn nhất, chỉ đơn thuần là một công đồng mục vụ.”[3]

Những lời của hai vị Giáo Hoàng trên đây là bằng chứng thuyết phục nhất để khẳng định rằng, những giáo huấn của Vatican II, do bản chất mục vụ của chúng, không phải là những giáo huấn bất khả ngộ. 

Kết Luận: 

Không phải tất cả những gì các Giáo Hoàng hay Công Đồng truyền dạy đều là Bất Khả Ngộ. Muốn ơn Bất Khả Ngộ phát sinh hiệu quả, các Giáo Hoàng hoặc Công Đồng phải hành động theo đúng những điều kiện quy định cho sự thành sự của ơn ấy như vừa nói trên. 

Qua những vừa trình bày trên ta thấy, Đức Phaolô VI và Công Đồng Vatican II đã tránh không sử dụng cách thức cần phải theo để làm phát sinh ơn Bất Khả Ngộ cho những giáo huấn của Vatican II. Do vậy, những lời dạy của Vatican II thực sự không được hưởng sự che chở của ơn Bất Khả Ngộ và vì thế chúng có thể sai lầm. Vì những giáo huấn của Vatican II có thể sai lầm, nên người tín hữu không bị bó buộc bởi đức tin và luân lý phải vâng theo. 

Những giáo huấn của Vatican II, cho dù được coi là những tuyên bố chính thức của Quyền Giáo Huấn của Giáo Hội, thực chất chỉ là những quan điểm mục vụ được trình bày cho Giáo Hội và thế giới mà thôi. Vì thế mà những lời dạy của Vatican II không đủ uy quyền để bó buộc lương tâm mọi tín hữu. Do đó, Đức Phaolô VI cũng chỉ ước mong rằng, những lời dạy của Vatican sẽ được các tín hữu “thành tâm và ngoan ngoãn” đón nhận. 

Từ đó dẫn đến hậu quả trong thực hành là, nếu có ai đó không “thành tâm và ngoan ngoãn” đón nhận, họ chỉ có thể bị kết tội nào là bất phục tùng, nào là làm tổn hại đến sự hiệp nhất mà thôi, chứ không thấy họ bị kết tội làm tổn hại đến ơn cứu độ. Bởi vì tự bản chất, giáo huấn của Vatican II, như vừa nói, không có uy quyền để bó buộc lương tâm mọi tín hữu, nên tín hữu có quyền chấp nhận hay không tuỳ ý. Có lẽ vì để giữ cái vẻ “hợp nhất” mà hầu hết mọi người đều vồ vập đón nhận giáo huấn của Vatican II. Cần biết rằng, tổn hại cho sự hiệp nhất phải xếp sau tổn hại cho ơn cứu độ! Chứ hiệp nhất để mà cùng nhau đi xa và đi ngược lại với đức tin truyền thống thì thật là nguy hiểm! 

Cần nhớ rằng, năm 1460, Đức Pio II đã ra Sắc Lệnh Exerabilis, kết án nghiêm khắc kết án những ai có tư tưởng nổi loạn dám mưu toan triệu tập công đồng để thay đổi bất cứ một điều gì liên quan đến tín lý của Giáo Hội[4]. Có lẽ vì trung thành với giáo lý truyền thống của Giáo Hội và nhớ lời răn dạy này của Đức Pio II mà Cha Gregory Hesse đã đưa ra nhận định rằng: xét tổng thể cuộc cách mạng Vatican II chỉ có một ý hướng là phá huỷ Đức Tin Truyền Thống của Giáo Hội mà thôi. Vatican II là một thảm hoạ cho toàn thể Kitô Giáo! 

Ngày hôm nay, với những ai tin vào lời cảnh báo của Lời Chúa và lời Đức Mẹ, khi hiện ra tại La Salette và Fatima, về một apostasy của thời kỳ cuối, thì những Giáo Huấn và thực hành đi ngược với Truyền Thống của Giáo Hội mà Vatican II đã khởi xướng, rất đáng cho người ta phải nghiêm túc cật vấn lương tâm rằng: những giáo huấn và thực hành trái ngược đó thực sự là hoa trái của Chúa Thánh Thần hay chính là những biểu hiện cụ thể của một apostasy của thời kỳ cuối như đã được cảnh báo??? Cật vấn lương tâm như vậy không có gì đáng gọi là ngông cuồng ngạo mạn nhưng là một bổn phận cần thiết với những ai còn thiết tha với chuyện chân thật và giả dối, đúng đắn và sai lầm…trong đời sống đức tin; là bổn phận của những ai muốn sống và hướng dẫn người khác trung thành với Đức Tin Truyền Thống của Giáo Hội.

Phải chăng cuộc cách mạng mang tên Vatican II là khởi đầu cho một cuộc bội giáo lớn lao – great apostasy - của thời kỳ cuối, và vẫn đang tiếp tục mạnh mẽ trong thời điểm hiện nay? 

Lạy Thánh Thần Chân Lý, xin soi sáng chúng con!
-------------------------------------------------------------

[1] Denzinger, 3073-3074. Có thể đọc lại bài 6 – phần các thuật ngữ thần học.
[2] Nguồn: http://w2.vatican.va/content/paul-vi/it/audiences/1966/documents/hf_p-vi_aud_19660112.html
[3] Theo Báo El Mercurio, Santiago, Chile, ngày 17/7/1988.
[4] Denzinger, 1375.
Lm: Phạm Đức Hậu

Đức Benedict XVI Được Gửi Một Cuốn Sách Tuyên Bố Rằng Đức Phanxicô Là Một "Linh Mục Của Kẻ Phản Kitô"

Rôma, 28/05/2015 (MAS/SLM) – Đức Benedict XVI vừa được trao một cuốn sách về những lời tiên tri được viết bởi một nhà tiên tri kỳ dị, người này nhìn Đức Phanxicô như là “một linh mục của Kẻ Phản Kitô” và tuyên bố thế giới đang bị thống trị bởi những thực thể xa lạ.
Ảnh minh họa
Đức Giáo Hoàng Danh Dự đã được đưa cuốn sách này trong một buổi gặp gỡ ngắn với hai người đàn ông trong Vườn Vatican.

Người yêu cầu buổi gặp gỡ đã tuyên nhận là một sếp của sở cảnh sát Ý, theo Đức TGM George Gänswein, thư ký riêng của Đức Benedict XVI.

Cuốn sách chứa đầy những thông điệp từ một người được cho là nhà tiên tri có tên là Franca Miscio, cũng còn được biết đến với tên gọi Conchiglia. Trong số những tuyên bố của bà là Đức Giáo Hoàng Phanxicô là một “kẻ mạo nhận”, Toà Thánh Vatican là một “mớ đầy rẫy bảy mối tội đầu”, rằng Mẹ Maria phải được thêm vào Ba Ngôi, và rằng một DNA xa lạ đã được pha trộn với DNA của con người với mục đích thống trị thế giới.

Đức TGM Gänswein nói với Vatican Insider: “Nếu Đức Benedict XVI biết rằng Ngài sẽ được trao một tập những thông điệp kiểu này, Ngài không bao giờ đồng ý gặp gỡ”.

Đức TGM nói rằng vào lúc gặp gỡ Ngài và Đức Benedict không có ý kiến gì về nội dung của cuốn sách.

“Khi tôi trở về nhà nhìn vào cuốn sách và Đức Benedict sau đó cũng thế”, Đức TGM Gänswein nói. “Chúng tôi ngạc nhiên và sốc bởi vì chúng tôi để ý thấy ngay rằng cuốn sách chứa đựng một vài ‘mạc khải tư’. Không cần phải mất thời gian quá lâu để biết rằng toàn bộ sự việc là xa lạ và không đáng tin cậy cho dù là một chút.

“Đức Giáo Hoàng Danh Dự đã đề nghị tôi gửi cuốn sách cho Bộ Giáo Lý Đức Tin”.

Joseph C. Pham (Theo Catholic Herald)
Theo http://muoianhsang.com/

Không có điều gì tốt đẹp đến từ lòng hận thù, vì lòng hận thù chỉ có thể đến từ Satan

Không có điều gì tốt đẹp đến từ lòng hận thù, vì lòng hận thù chỉ có thể đến từ Satan (16/02/2014)

Chúa nhật, ngày 16 tháng 02 năm 2014, lúc 15:47

Hỡi con gái yêu dấu của Ta, khi sự hận thù xâm nhập vào những linh hồn, họ buộc phải chiến đấu với tất cả sức mạnh để diệt trừ sự hận thù. Nếu không, lòng hận thù sẽ tàn phá linh hồn họ và tiếp tục gây đau khổ cho linh hồn cho đến khi lòng hận thù chiếm ngự được hoàn toàn linh hồn này.

Tên ác quỷ gây ra sự ngờ vực, bất an, hoang mang, sợ hãi và rồi hắn sẽ không nghỉ ngơi, cho tới khi linh hồn mà hắn nhắm tới, chất chứa đầy lòng hận thù đối với chính mình và đối với những người khác. Lòng hận thù trong một linh hồn tạo ra sự tàn phá nơi mỗi người mà linh hồn này tiếp xúc. Linh hồn bị tàn phá này sẽ sử dụng mọi chiến thuật và mưu kế để xúi giục những người khác cùng hành động với hắn, cho đến khi những linh hồn khác cũng bị tàn phá, và như vậy, kịch bản này lại tiếp diễn. Lòng hận thù lây lan giống như bệnh dịch truyền nhiễm và phát triển vì nó nhấm chìm và chiếm hữu linh hồn, cho tới khi linh hồn đó cảm thấy bị bắt buộc phải gây ra lòng hận thù nơi những người khác. Đây là cách mà người ta phạm tội sát nhân, vì con người cảm thấy hận thù người khác. Lòng hận thù bị kích động bởi những lời dối trá cùng những sự gian dối và lòng hận thù tiếp tục gia tăng cho tới khi nó chiếm được biết bao nhiêu linh hồn, đến nỗi chỉ có sự dữ phát ra từ linh hồn đó. Không có điều gì tốt đẹp đến từ lòng hận thù, vì lòng hận thù chỉ có thể đến từ Satan.

Satan là một tên lừa dối và hắn gieo rắc những sự nghi ngờ vào trong những linh hồn không cảnh giác. Hắn luôn lợi dụng tội kiêu ngạo, để gây ra sự hận thù trong linh hồn hầu chống lại người khác. Hắn gây ra sự bất hòa giữa những con cái của Thiên Chúa, những người mà vì tội nguyên tổ đã trở nên yếu đuối và nếu họ không sống như những tín hữu chân thật của Ta và không tuân giữ Lời của Cha Ta, thì họ sẽ trở thành nạn nhân của sự lừa dối.

Đừng bao giờ một mặt cả gan tự mình tuyên bố rằng các con là con cái của Thiên Chúa nhưng mặt khác lại gây chia rẽ nơi người khác. Đừng bao giờ một mặt nói rằng các con được tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần nhưng mặt khác lại nói rằng một linh hồn nào đó là đồ đệ của tên ác quỷ. Đừng bao giờ xét đoán người khác về những gì mà các con cho là tội lỗi khi mà chính các con đã làm lu mờ đi Hình Ảnh của Ta. Các con đừng bao giờ đặt chính mình lên trên Ta và nói rằng các con hiểu biết hơn Ta, khi ấy các con đi theo đường lối của Satan. Những ai có được cái nhìn của Ta, là những người thấu suốt mọi sự và họ phải cầu nguyện cho những linh hồn hết sức đáng thương ấy, nhờ đó họ được ban cho những ân Sủng nhằm tự giải thoát chính mình khỏi móng vuốt của con thú.

Con Đường phía trước của Ta ngày càng khó khăn hơn. Chỉ có những ai được ban cho lòng can đảm bởi Quyền Năng của Chúa Thánh Thần, mới có thể dấn thân trên con đường này. Đáng buồn thay, nhiều người sẽ ngã bên vệ đường, trước sự thích thú của tên ác quỷ.

Những chiếc gai nhọn trong Sứ Vụ này có thể xé nát thân mình các con và sự tàn nhẫn kết hợp với lòng hận thù có thể làm tan nát tâm hồn các con, nhưng Ta Là Đấng đi trước các con vì thế Ta là Đấng phải chịu gánh nặng của lòng hận thù. Các con hãy luôn nhớ rằng, những cuộc tấn công vào Sứ Vụ này là những cuộc tấn công chống lại Ta. Lòng hận thù chống lại Sứ Vụ này, là lòng hận thù chống lại Ta, Chúa Giêsu Kitô. Các con không thể một mặt nói rằng các con yêu mến Ta nhưng mặt khác lại tuyên bố rằng các con hận thù Ta. Các con hoặc là theo Ta hoặc là chống lại Ta. Các con hoặc là tin vào Ta hoặc là không tin vào Ta. Nếu các con tin vào Ta, thì các con không bao giờ được phép bách hại linh hồn của tha nhân, vì nếu các con bách hại tha nhân là các con đã bị kẻ thù của Ta cắt đứt mối dây liên kết với Ta và các con không còn được phép tuyên bố rằng các con thuộc về Ta.

Chúa Giê su của các con

Chuyển dịch từ nguồn: thewarningsecondcoming.com

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2015

Ba trong số bốn người sẽ chối bỏ Ta

Ba trong số bốn người sẽ chối bỏ Ta (02/01/2014)

Thứ năm ngày 2 tháng 1 năm 2014, lúc 20:40

Hỡi con gái của Ta, thời điểm mà sự đón nhận của công chúng liên quan đến việc Ta là ai chỉ còn yếu ớt như tia sáng lập lòe của ngọn nến vốn đã cháy gần tàn, hầu như ở ngay trước mắt các con.

Những ai nói rằng họ thuộc về Ta hầu như sẽ không rao giảng về Ta. Những ai trung thành với Ta sẽ phải khiếp sợ khi họ chứng kiến biết bao nhiêu người chối bỏ Ta. Thời điểm khi mà các tín hữu bị tách rời khỏi những kẻ bị dẫn dắt vào sai lầm nghiêm trọng, hầu như đang ở ngay trước mắt các con. Trong những ngày ấy, những kẻ mù lòa, những kẻ điếc và những kẻ không chịu thức tỉnh trước Lời Đích Thực của Thiên Chúa, sẽ quy tụ với con số hàng tỉ người và chúng sẽ đón nhận một thứ giáo lý sai lạc - không thuộc về Ta.

Khi các con nghe nói về một lời tuyên hứa canh tân đức tin mới mẻ, vốn sẽ có hình thức của Bí Tích Thêm Sức, thì các con sẽ biết rằng điều này là do con người tạo ra. Việc làm này là vô nghĩa trong Mắt Ta. Việc làm này do tên ngôn sứ giả bày ra như là một phần trong kế hoạch toàn cầu của hắn để hiệp nhất tất cả các tôn giáo trên thế giới. Thiên Tính của Ta sẽ bị gạt sang một bên. Lời Ta sẽ bị lãng quên và bị vùi dập trong khi chúng bóp méo những Giáo Huấn của Ta để ép buộc các tín hữu đón nhận một hình thức mới mẻ của cái được gọi là phong trào Phúc âm Hóa.

Tuy nhiên Lời Ta vẫn sống động nhờ những người vẫn giữ lòng trung thành với Giáo Hội của Ta, một Giáo Hội như thuở ban đầu, và họ sẽ không chối bỏ Ta. Ba trong số bốn người sẽ chối bỏ Ta. Chỉ có những người Còn Sót Lại của Ta mới bám chặt vào Ta và gìn giữ Lời Ta, trong khi nhiều người sẽ hoang mang. Những con người đáng thương này, những người vẫn trung thành với Giáo Hội khi Giáo Hội bị bủa vây bởi thứ tín lý mới, không biết phải đi về đâu. Ta muốn nói với họ rằng : Hãy mạnh mẽ. Hãy kiên vững. Đừng chối bỏ Ta. Hãy cầu xin sự Hướng Dẫn của Ta và hãy tiếp tục phụng sự Ta như các con đã từng phụng sự. Khi các con bị buộc phải chối bỏ Ta bởi những kẻ tuyên bố là hành động vì điều thiện hảo của tất cả mọi người - tất cả mọi tôn giáo - thì hãy lánh xa chúng, vì các con sẽ buộc phải đón nhận tà giáo mà người ta bày ra như là Kitô Giáo.

Khi những kẻ mạo danh này, những kẻ thù của Thiên Chúa, xâm nhập vào Giáo Hội của Ta từ ngay trong hàng giáo phẩm của Giáo Hội, thì Cha Ta sẽ giáng xuống một Cuộc Trừng Phạt khủng khiếp. Người sẽ làm nghiêng cả thế giới và không một người đàn ông, phụ nữ hay con trẻ nào mà không nhận ra những sự đảo lộn này. Khi những kẻ thù của Ta tấn công Nhiệm Thể của Ta, chúng sẽ gây ra nhiều thiệt hại, nhiều hoang mang và dẫn dắt nhiều người đi lạc khỏi Sự Thật. Nhưng chúng không bao giờ có thể phá hủy được Giáo Hội của Ta vì Đạo Binh còn Sót Lại của Ta sẽ không bao giờ rời bỏ Sự Thật hoặc bị ép buộc tuyên hứa trung thành với Satan hoặc thuộc hạ của hắn.

Giờ đây nhiều cuộc chiến tranh sẽ gia tăng, bão tố và động đất sẽ gia tăng cho đến khi Tiếng Thét trong Cơn Thịnh Nộ của Cha Ta được con người cảm nhận ở khắp mọi nơi.

Hỡi những kẻ thù nghịch Ta, những kẻ đi lại giữa con cái của Ta và dẫn dắt sai lạc Giáo Hội của Ta phải biết rằng : Ta sẽ không bao giờ để cho các ngươi dành được những linh hồn mà Ta đã phải bỏ Mạng Sống của Ta vì họ. Sự ngạo mạn của các ngươi sẽ chóng qua, những hành động độc ác của các ngươi sẽ bị ngăn chặn và những nỗ lực của các ngươi nhằm gây tổn hại cho những linh hồn mà các ngươi cầm giữ, sẽ kết thúc một cách đột ngột. Các ngươi không bao giờ có thể chống lại Lời của Thiên Chúa mà không gặp phải sự Can Thiệp của Thiên Đàng giáng xuống trên các ngươi. Sự trung thành của các ngươi dành cho tên ác quỷ sẽ chấm dứt trong thảm họa dành cho các ngươi và cho mỗi một người mà các ngươi tìm cách lừa gạt. Khi các ngươi tìm cách tiến về Cổng Thiên Đàng để khoe khoang về lòng trung thành của các ngươi dành cho Satan, thì các ngươi sẽ bị triệt hạ, bị xiềng xích lại và bị ném vào vực thẳm mà không hề có chút Xót Thương nào được tỏ ra cho các ngươi.

Hỡi các con, giờ đây các con hãy dấn thân, hỡi tất cả những ai trong các con chứng kiến những sự việc sẽ xảy ra, các con hãy luôn tỉnh thức. Các con phải tiếp tục phụng sự Ta, vì chỉ có thể có một ông Chủ mà thôi.

Chúa Giêsu của các con

Chuyển dịch từ nguồn: thewarningsecondcoming.com

Đan Mạch đề xuất không dùng tiền mặt từ tháng 1/2016

Đan Mạch đề xuất không dùng tiền mặt từ tháng 1/2016
Mới đây, Chính phủ Đan Mạch đã đưa ra một số dự luật yêu cầu các cửa hàng bán lẻ chỉ chấp nhận các thanh toán thông qua di động hoặc thẻ.

Theo đó, nếu dự luật này được Quốc hội Đan Mạch thông qua, đồng nghĩa với việc các cửa hàng bán lẻ quần áo, các nhà hàng và trạm xăng tại nước này sẽ không nhận thanh toán bằng tiền mặt kể từ tháng 1/2016.

Hiện tại, việc thanh toán bằng thẻ chiếm phần lớn trong việc thanh toán ở Đan Mạch. Những người ủng hộ chính sách này cho biết, giảm thiểu sử dụng tiền mặt giúp tăng cường an ninh tại các cửa hàng cũng như cắt giảm chi phí liên quan tới đếm, cất giữ tiền và xu.

Tuy nhiên, theo thông báo của Bộ Tài chính, đối với những dịch vụ thiết yếu như dịch vụ bưu điện, tại các quán ăn tự phục vụ tại bệnh viện, tại các phòng khám nha, khách hàng vẫn có thể được sử dụng tiền mặt trong thanh toán, nhưng chỉ là đồng krone - đồng tiền của Đan Mạch.

Tăng cường các hoạt động thanh toán điện tử cũng đồng nghĩa với việc những quan ngại về an toàn của các giao dịch này được đưa ra, nhưng theo nhiều chuyên gia, đây sẽ là vấn đề nhỏ nếu đem so sánh với lợi ích nó mang lại cho ngân sách quốc gia.

Theo dõi được các khoản thanh toán sẽ giúp Chính phủ thu thuế một cách hiệu quả đồng thời "sẽ có ý nghĩa vô cùng lớn trong cuộc chiến chống tham nhũng". 

Trước đó, ở nhiều quốc gia cũng đã áp dụng việc thanh toán điện tử ở nhiều nơi. Trong một vài cửa hàng tại Thuỵ Điển từ lâu đã không còn sử dụng tiền mặt, hệ thống xe bus tại một số thành phố lớn như Stockholm, Thủ đô của Thuỵ Điển cũng không có chế độ trả lại tiền thừa.

Vào năm ngoái, thành phố London cũng đã có những động thái tương tự, theo đó yêu cầu hành khách tham gia những phương tiện giao thông công cộng mua thẻ trả trước hoặc sử dụng thẻ ghi nợ để thanh toán.

Hiện tại, thanh toán được thực hiện thông qua các loại thẻ đã rất phổ biến tại Đan Mạch. Theo một nghiên cứu của WorldPay, công ty cung cấp các dịch vụ thanh toán trực tuyến. Vào năm 2012, có tới 84,2% giao dịch tại Đan Mạch được thanh toán bằng thẻ, trong đó hình thức thanh toán thông qua ví điện tử cũng đang ngày càng được sử dụng nhiều hơn.

Theo: http://motthegioi.vn/