Hiển thị các bài đăng có nhãn Đức Cha Bùi Tuần. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đức Cha Bùi Tuần. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2015

Đc Bùi Tuần: Đại Họa

Đức Cha Gioan Baotixita Bùi Tuần ( Long Xuyên, ngày 4.8.2015 )

1. Đang khi đạo tưng bừng chào mừng nhiều đại lễ, và đang khi đời hoan hô mừng nhiều đại hội, thì đó đây xảy ra nhiều đại hoạ. Nước mắt và tiếng khóc. Tàn phá và tan hoang. Mất của và trôi người. Đại hoạ bất ngờ. Đại hoạ lan rộng. Đó là những trận mưa lũ đánh chìm nhiều nơi tại miền Bắc nước ta.

2. Đại hoạ đó đánh thức lương tâm tôi. Tôi đau cái đau của biết bao đồng bào nạn nhân lũ lụt. Tôi lo cái lo của biết bao người có trách nhiệm đời đạo tại những nơi đó.
3. Đại hoạ đó là dịp để tôi nghĩ tới một đại hoạ khác đang đánh chìm nhiều nơi trong Hội Thánh tại Việt Nam hôm nay. Đại hoạ mà tôi muốn nói tới ở đây, đó là tinh thần thế tục, cũng gọi là tinh thần tục hóa.

4. Ngay từ thời các thánh tông đồ, tinh thần thế tục vốn đã là một nguy cơ lớn cho đạo. Nên thánh tông đồ Phaolô đã viết: “Anh em đừng rập theo thói đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em, bằng cách đổi mới tâm hồn, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa. Cái gì là tốt, cái gì là đẹp lòng Chúa, cái gì là hoàn hảo” (Rm 12,2).

5. Theo lời dạy trên đây, tinh thần thế tục là sống theo ý riêng mình, chứ không theo ý Chúa. Tinh thần thế tục là không nhận ra đâu là cái tốt thật, đâu là cái đẹp lòng Chúa thật, đâu là cái hoàn hảo thật, mà chỉ đánh giá theo ý riêng mình, chứ không theo ý Chúa, rồi cho là đánh giá đúng.
Xét mình sơ qua, tôi cũng đã thấy tinh thần thế tục đúng là một đại hoạ cho chính bản thân tôi. Thí dụ:

6. Khi cầu nguyện, ăn chay, bố thí hay làm các việc đạo đức khác, nếu tôi để cho mục đích phô trương lẻn vào lòng tôi, thì Chúa sẽ phán với tôi: “Con đã được thưởng công rồi” (Mt 6,18). Phô trương là một hình thức của tinh thần thế tục. Chúa kết án hình thức đó.

7. Khi coi thường các điều kiện cuộc sống, như thời giờ, sức khoẻ, của cải, địa vị, hoặc lợi dụng chúng vào mục đích hưởng thụ, chớ không dùng chúng vào mục đích đổi mới bản thân mình để trở về với Chúa, thì Chúa sẽ phán về tôi, như xưa Người đã phán về thành Giêrusalem: “Sẽ có ngày thành này sẽ bị phá huỷ, không còn hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận ra thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm” (Lc 19,44). Dửng dưng với ơn Chúa và sống hưởng thụ, đó là một hình thức khá phổ biến của tinh thần thế tục. Chúa kết án hình thức đó.

8. Khi đề cập đến những người hiện nay gây nên tội ác, như mất tính người, tôi thường đổ lỗi cho hoàn cảnh này nọ, mà không dám coi đó là dấu chỉ của quyền lực quỷ dữ hoành hành. Nhưng có lúc tôi được Chúa cho nhớ lại trường hợp một người bị quỷ ám đã trả lời với Chúa là “tôi là đạo binh”, nghĩa là trong người đó có rất đông quỷ dữ nhập vào (x. Lc 8,28-37). Không tin có quỷ, đó là một hình thức rất nguy hiểm của tinh thần thế tục, tạo môi trường tốt cho quỷ hoạt động.

9. Tinh thần thế tục gồm nhận thức sai trái và hành động sai trái, theo thói thế gian.
Nhận thức sai trái đó thường mang tính lừa dối. Hành động sai trái đó thường mang tính cách phá hoại đạo đức. Nhận thức sai trái đó và hành động sai trái đó là những hình thức tai hại của tinh thần thế tục, đang và sẽ bị Chúa kết án nặng nề.

10. Hiện nay, tinh thần thế tục là cả một hệ thống xấu gồm những lừa dối, những độc ác nối kết với nhau. Cái xấu này tạo nên môi trường để phát sinh ra cái xấu kia. Hệ thống xấu đó đang hình thành trong đạo cũng như ngoài đời.

11. Để đối phó với đại hoạ trên đây, Chúa dạy chúng ta phải tỉnh thức thức cầu nguyện, và sống tiết độ (1Pr 5,8).
Hiện nay, chúng ta đang chứng kiến nhiều cảnh đối phó với tinh thần thế tục. Rất buồn là chính cảnh đối phó lại rất nặng tinh thần thế tục. Quỷ dữ do vậy mà thêm thắng thế.

12. Tôi tin, cách đối phó đúng nhất và cũng hữu hiệu nhất là tìm về chính nguồn. Nguồn đó là Chúa Giêsu. Tôi phải đến với Nguồn, phải uống nước từ Nguồn, phải để nước nguồn thấm sâu vào tôi, phải để nước nguồn nuôi dưỡng và đổi mới tôi.

13. Tôi làm những việc đó theo gương Đức Mẹ và những chứng nhân sống động trong lịch sử Hội Thánh.
Một trong những chứng nhân có ảnh hưởng lớn với tôi, là thánh Gioan Maria Vianney, cha sở xứ Ars.
Ngài là con người cầu nguyện gắn kết mật thiết với Chúa Giêsu Thánh Thể.
Ngài là con người sống tiết độ trong mọi sự.
Ngài là con người gắn bó với bổn phận mục vụ một cách trung tín.
Ngài là con người tha thiết cứu các linh hồn.
Ngài là con người, mà quỷ tìm cách tấn công bằng đủ mưu mô, nhưng ngài vẫn thoát khỏi tinh thần thế tục, mà quỷ muốn lôi ngài vào.
Ngài là con người luôn khiêm tốn vâng phục Chúa Thánh Thần, để biết phân định, để biết chọn lựa, để biết sống tự do thực sự của người con Chúa.

14. Đại hoạ hiện nay là tinh thần thế tục, tinh thần tục hóa. Đại hoạ này đang có vẻ phát triển về chiều rộng và chiều sâu. Nhận thức được sự thực trên đây là một khởi đầu tốt, để có những bắt đầu lại, theo Phúc Âm, trong niềm tin vào Thiên Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót.
Rất mừng là tại Việt Nam hôm nay, nhiều người đã nhận thức được sự thực đó. Xin hết lòng cảm tạ Chúa.
Long Xuyên, ngày 4.8.2015

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2015

Đc Bùi Tuần: Hãy tiết độ và tỉnh thức

HÃY TIẾT ĐỘ VÀ TỈNH THỨC

1. Nhiều người vốn ngại nói và nghe về ma quỷ. Nhưng nay, khi thấy tội ác gia tăng về mặt dã man và lan rộng trong nhiều lĩnh vực, nên đã quả quyết tình hình này đang bị quỷ dữ lộng hành.

2. Tôi nghĩ quả quyết như vậy là lành mạnh. Riêng đối với tôi, quả quyết đó giúp tôi suy nghĩ một cách nghiêm túc hơn một lời cảnh báo của Thánh Tông Đồ Phêrô. Ngài khuyên chúng ta hãy hết sức giữ mình cho khỏi ma quỷ làm hại. Thánh Tông Đồ viết thế này: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ là thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1Pr 5,8).

3. Thánh Tông Đồ Phêrô ví ma quỷ như sư tử đói, luôn chạy đó đây tìm mồi để cắn xé. Cái mà ma quỷ tìm cắn xé là những giá trị đạo đức nơi con người, và thay vào đó là những tội lỗi, những tính lừa dối, những thói kiêu ngạo, những mưu đồ độc ác, để sau cùng chúng kéo được những con người theo nó xuống hỏa ngục.

4. Thời nào, ma quỷ cũng vẫn là sư tử hoạt động như thế. Nhưng nay, có những dấu chỉ cho phép quả quyết là quỷ đang lộng hành dữ tợn một cách khác thường. Đạo đức xuống dốc. Nhiều giá trị đạo đức đang bị chối bỏ. Nhiều người tự phụ đi theo tội lỗi, bênh vực tội lỗi, truyền bá tội lỗi.

Đúng là từng đoàn lũ ma quỷ đang như sư tử cắn xé nhiều người, dần dần lôi họ xuống hỏa ngục. Ta không thấy chúng, nhưng chúng có thực.

5. Trước tình hình này, tôi phải hết sức thận trọng. Cách để thắng ma quỷ, là vâng lời Thánh Tông Đồ Phêrô: Hãy tỉnh thức và sống tiết độ.

Tỉnh thức và sống tiết độ là những thái độ đạo đức bao gồm nhiều việc, phải thực hiện thường xuyên. Ở đây, tôi chỉ xin nêu lên vài trường hợp, mà ma quỷ quen lợi dụng để cắn xé những người đạo đức.

6. Trường hợp thứ nhất là tự phụ tự mãn về những thành công đạo đức của mình. Chúa Giêsu phán: “Trong những ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Thầy mà nói tiên tri, mà trừ quỷ, mà làm nhiều phép lạ đó sao? Và bấy giờ, Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi. Hãy xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác” (Mt 7, 22-23).

Lỗi của họ là tự phụ về những thành công trong các hoạt động đạo đức của mình, lỗi của họ cũng còn là họ làm những việc đó theo ý riêng mình, chứ không theo ý Chúa (x. Mt 7, 21).

7. Qua những lời Chúa phán trên đây, cộng thêm một số kinh nghiệm, tôi thấy ma quỷ thường hay xúi các người hoạt động tôn giáo thích thu gom những thành công, các việc lành, để rồi tự phụ tìm tư lợi theo ý riêng mình. Nếu không tỉnh thức và sống tiết độ, chiến đấu từ bỏ mình và siêng năng cầu nguyện, thì người hoạt động tôn giáo, cho dù có vẻ thành công lẫy lừng, cũng sẽ là mồi ngon cho ma quỷ. Trong các việc đạo đức nặng về phô trương, tôi vẫn nghe Chúa nói: “Chúng đã được thưởng công rồi” (Mt 6, 2, 5, 16).

8. Trường hợp thứ hai là tự phụ tự mãn về mình được Chúa chọn làm môn đệ Chúa.

Đó là trường hợp Tông Đồ Giuđa. Ông được chính Chúa Giêsu chọn vào số mười hai Tông Đồ. Ông được chính Chúa chọn để lo công việc quản lý vật chất cho nhóm mười hai và cho chính Người. Ông được chính Chúa trao ban chức thánh và được chính Chúa rửa chân cho. Giuđa tự phụ tự mãn về những đặc ân đó. Nên tưởng rằng việc bán Thầy mình sẽ có lợi lớn, rồi cũng sẽ được thu xếp ổn thỏa với cộng đoàn và với chính Chúa Giêsu, vì Người là vị Thầy có dư sức tự cứu lấy mình. Ma quỷ ra sức làm cho Giuđa tự dối mình như vậy, để nhất định thực hiện ý riêng xấu xa đó. Thế là Giuđa đã trở thành mồi ngon cho quỷ cắn xé.

9. Suy nghĩ về trường hợp Tông Đồ Giuđa đã trở thành mồi cho quỷ cắn xé, tôi thấy mình phải biết tỉnh thức và sống tiết độ một cách khiêm nhường và hết sức chân thành.

Tạ ơn Chúa vì ơn gọi làm Tông Đồ của Chúa, đó là việc đạo đức cần trong sáng và khiêm nhường. Nếu không tỉnh thức và sống tiết độ, tôi sẽ dễ bị ma quỉ xúi giục, lợi dụng chức thánh để tìm tư lợi và làm theo ý riêng, hoặc lại cả dám coi ý mình là ý Chúa. Dần dần, từng bước nhỏ, tôi có thể trở thành kẻ phản Chúa.

10. Thánh Gioan Tông Đồ cảnh báo: “Nhiều tên phản Kitô đã xuất hiện… Chúng xuất hiện từ hàng ngũ chúng ta” (1Ga 2,18). Cảnh báo trên đây cho thấy nguy cơ phản Chúa là trong chính nội bộ những người thuộc về Chúa. Nghe vậy, chúng ta thường nghĩ về người khác. Nhưng biết đâu kẻ phản Chúa lại chính là chúng ta?

11. Trường hợp thứ ba là tự hào tự phụ về những hình thức đạo đức bề ngoài để che giấu những tội lỗi và sự trống rỗng bên trong. Chúa Giêsu xưa đã không ngại nói những lời nghiêm khắc sau đây: “Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong chỉ đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các ngươi cũng vậy. Bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác” (Mt 23, 27-28).

12. Lời Chúa phán trên đây khuyên tôi hãy biết đơn giản về những hình thức đạo đức bề ngoài, đừng sáng tạo, tự đặt, tự sướng, tự hào về các thứ hoành tráng, náo động, ồn ào. Những thứ đó nhiều khi chỉ là một thứ mồ mả tô vôi tốt đẹp, che giấu một nội tâm trống rỗng hoặc hôi thối. Lời Chúa cảnh báo rất rõ. Thế nhưng, ma quỷ vẫn dụ dỗ được nhiều người không chịu nghe lời cảnh báo đó. Họ vẫn ham những gì thuộc cách sống đạo đức giả hình. Sau cùng, họ trở thành mồi ngon cho quỷ cắn xé. Biết đâu, trong số họ cũng có tôi, nếu tôi không luôn tỉnh thức và sống tiết độ. Tôi rất sợ, có thể Chúa đang nói với chúng ta: “Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và Pharisiêu giả hình”.

13. Thời nay, cuộc chiến giữa sự thiện và sự ác đang trở thành gay gắt. Nói một cách cụ thể, cuộc chiến giữa Thiên Chúa và ma quỷ đang diễn tiến một cách rất phức tạp, rất quyết liệt, rất tinh vi. Hãy biết tỉnh thức và biết sống tiết độ trong đức tin bền đỗ đến cùng, ta sẽ nhờ Chúa thắng được quỷ dữ, để được Chúa dẫn vào thiên đàng.

Lạy Chúa xin thương xót chúng con.

Long Xuyên, ngày 1.8.2015
+ Gm. Gioan B Bùi Tuần

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2015

Đc Bùi Tuần: Nhờ Đức Mẹ mới thành Gioan Baotixita

Nhờ Đức Mẹ mới thành Gioan Baotixita
Như xưa, nhờ Đức Mẹ mà Gioan Baotixita mới được là như thế, thì nay, nhờ Đức Mẹ, con mới có thể trở thành kẻ được sai đi theo gương thánh Gioan Baotixita như Chúa muốn.

1. Từ nhiều ngày nay, tôi cầu nguyện với Đức Mẹ Maria một cách tha thiết khác thường. Tôi nói với Đức Mẹ đại ý thế này:
Thánh Gioan Baotixita là món quà quý Chúa tặng cho loài người. Nên Chúa đã nhờ Mẹ chăm sóc Gioan Baotixita cách riêng. Chưa sinh ra, thì Gioan Baotixita đã được Mẹ đến thăm. Khi sinh ra, thì Gioan Baotixita đã được Mẹ ẵm vào lòng. Vậy, khi con cảm tạ Chúa vì thánh Gioan Baotixita, thì con nên để ý điều gì cách riêng nơi Ngài?

2. Đức Mẹ đã chia sẻ cho tôi nhiều điều. Nhưng có một điều Mẹ muốn tôi để ý cách riêng nơi thánh Gioan Baotixita, điều đó là sự Gioan Baotixita có một cảm quan thiêng liêng rất bén nhạy. Nghĩa là Gioan Baotixita nhận ra một cách chính xác và mau lẹ những gì Chúa muốn cho ngài góp phần vào chương trình cứu độ của Chúa.

3. Thực vậy, khi còn là bào thai trong lòng mẹ, Gioan Baotixita đã nhảy mừng, nhận ra Chúa Cứu Thế đến qua Đức Mẹ viếng thăm (x. Lc 1,41).

4. Khi đang giảng, thấy một người giữa đám đông tiến lại, Gioan Baotixita nhận ra ngay người đó là Chúa Giêsu. Ngài nói: “Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian” (Ga 1,29).

5. Khi thấy mấy người Pharisêu đến bên ngài, Gioan Baotixita liền nhận ra ngay họ là loại người nguy hiểm. Ngài nói thẳng:“Các ông là loài rắn độc” (Mt 3,7).

6. Khi thấy tình hình phức tạp, Gioan Baotixita nhận ra ngay mình phải vắn gọn và tập trung. Ngài khuyên chỉ 2 điều: Sám hối và tin vào Chúa Giêsu.

7. Khi bị bắt, Gioan Baotixita nhận ra ngay sứ vụ của mình sẽ mau chấm dứt. Ngài vâng phục ý Chúa mà ra đi, mặc dầu công việc còn dang dở.
Như vậy, Gioan Baotixita phân định một cách chính xác và mau lẹ về con người, về việc làm và về tình hình. Nhờ ơn thông hiểu Chúa ban, mà tôi tạm gọi là một cảm quan thiêng liêng.
Vâng lời Đức Mẹ, tôi xin cảm tạ và chúc tụng Chúa, vì cảm quan thiêng liêng đã ban cho Gioan Baotixita.

8. Tiếp đó, Đức Mẹ dạy tôi là cũng hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa cũng đã ban cho Hội Thánh được cảm quan thiêng liêng, qua một số người Chúa chọn.
Điều Đức Mẹ dạy tôi cách riêng, là đừng để ý nhiều quá đến những nhân vật lớn và những việc lớn, để tìm ra ơn đó, mà hãy tìm ra ơn đó nơi những người bé mọn, bình thường, trong đời thường của họ.

9.  Và đúng là như vậy. Tôi thấy nhiều người bé mọn lại có khả năng phân biệt được thiện ác, đúng sai một cách chính xác và mau lẹ.
Người này thì có một trực giác đạo đức bén nhạy. Vừa thấy một sự kiện xảy ra, thì họ liền nhận ra ngay ý nghĩa đạo đức trong đó.
Người nọ thì có một lương tri đạo đức dễ xúc động. Vừa gặp một tình huống, thì họ liền biết ngay mình phải có lựa chọn nào mới là đạo đức.
Người kia thì có một cảm quan thiêng liêng sâu sắc, vừa gặp một người, thì họ có thể nhận ra ngay người đó có Chúa ngự trị, hay bị ma quỷ khống chế.

10. Một thoáng nhìn trên đây về những người có trực giác đạo đức tốt, có lương tri đạo đức tốt, có cảm quan thiêng liêng tốt đã cho tôi niềm vui và hy vọng. Tôi thấy tất cả họ đều là những người quen sống kỷ luật, trung thực, biết sống phấn đấu, từ bỏ, nhất là biết sống trong bầu khí cầu nguyện. Họ phần nào giống thánh Gioan Baotixita trong phục vụ đời thường.

Riêng tôi, tôi nhận ra Đức Mẹ là bầu khí đạo đức của tôi. Tôi nói với Mẹ rằng: Như xưa, nhờ Đức Mẹ mà Gioan Baotixita mới được là như thế, thì nay, nhờ Đức Mẹ, con mới có thể trở thành kẻ được sai đi theo gương thánh Gioan Baotixita như Chúa muốn.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ đến thăm con. Xin Mẹ ở lại với con. Mẹ là bầu khí đạo đức của con.

Gm GB. Bùi Tuần

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

+ĐGM Bùi Tuần: Đem Tình Yêu Thánh Tâm Chúa Giêsu đến cho những người đau khổ

Đem Tình Yêu Thánh Tâm Chúa Giêsu đến cho những người đau khổ
Tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu có một dấu chỉ sống động và hùng hồn, đó là vết thương do bị lưỡi đòng đâm thâu qua.

1. Hằng ngày tôi đọc báo, xem truyền hình và có nhiều tiếp xúc. Nhờ vậy tôi được biết là hiện nay những người đau khổ chiếm một số đáng kể. Trên thế giới họ đang là một vấn đề lớn. Tại Việt Nam họ đang là một tiếng gọi khẩn thiết.

2. Rất may là vấn đề lớn đó cũng như tiếng gọi khẩn thiết đó đã và đang đánh thức được nhiều lương tâm. Bác ái từ thiện được khơi dậy và thực hiện đều khắp dưới nhiều hình thức. Nhà nước làm, tôn giáo làm, đoàn thể làm, cá nhân làm.

3. Nhưng những đau khổ cũ chưa tan, thì những đau khổ mới lại bùng lên. Cảnh đó làm tôi rất buồn. Nhờ đức tin, lòng tôi càng buồn, thì càng gần lại bên Chúa Giêsu.

4. Trong thinh lặng âu yếm, Chúa Giêsu dạy tôi hãy nhìn vào trái tim Người, một trái tim đã bị lưỡi đòng đâm thâu qua. Người nhắc lại cho tôi nhớ lời xưa Người đã nói:“Cha chính là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11). Trong giây lát, Người cho tôi hiểu: Dù làm việc thiện nào cho người đau khổ, tôi cũng hãy mang tình yêu của trái tim Chúa đến cho họ.
Tôi xin vâng. Nhưng, làm thế nào để mang tình yêu của Trái Tim Chúa đến cho người đau khổ trong mọi việc tôi làm cho họ?

5. Thú thực là để thực hiện điều đó, tôi luôn phải nhờ đến ơn Chúa.
Chúa ban ơn đó cho tôi, nhưng Người bảo tôi phải cầu nguyện, chiêm niệm. Như thể ơn Chúa ban là rất cao quý, tôi phải có chút phần nào cộng tác vào đó, bằng sự mở lòng tôi ra một cách khiêm nhường, nghèo khó. Tôi nhận mình hèn yếu, nhưng vững tin vào tình yêu của Trái Tim Chúa đã hy sinh vì tôi và vì mọi người.

6. Dần dần, khi cầu nguyện như thế, tình yêu Trái Tim Chúa đã đi vào lòng tôi. Tình yêu ấy như làm cho lòng tôi, dù đang nặng nỗi đau buồn, lại nở ra hoa, một thứ hoa có yêu thương và vui mừng. Đúng như lời Kinh Thánh nói: “Hoa trái của Thánh Thần là bác ái và niềm vui” (Gl 5,22).

7. Từ kinh nghiệm nội tâm trên đây, tôi có một cái nhìn riêng về tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu dành cho những người đau khổ. Tôi thấy tình yêu cao quý ấy có ba đặc điểm này: Yêu thương, hy sinh và vui vẻ phục vụ.

Với cái nhìn đó, tôi dễ nhận ra những ai đến với tôi mà thực sự mang tình yêu của Trái Tim Chúa đến cho tôi.

Với cái nhìn đó, tôi cũng dễ nhận ra khi tôi phục vụ, nhất là những người đau khổ, tôi có mang tình yêu của Thánh Tâm Chúa đến cho họ thực không?

8. Tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu có một dấu chỉ sống động và hùng hồn, đó là vết thương do bị lưỡi đòng đâm thâu qua.Với dấu chỉ đó, tôi hiểu thấm thía tình yêu luôn cần được minh chứng bằng hy sinh. Tình yêu không hy sinh là tình yêu giả. Hy sinh không yêu thương là yêu thương thừa. Yêu thương thực bao giờ cũng đẹp nhờ biết hy sinh.

9. Nếu tôi yêu thương đoàn chiên của tôi, nhất là những người đau khổ, thì yêu thương của tôi cần phải được minh chứng bằng một dấu chỉ chắc chắn, đó là hy sinh. “Tôi chính là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên” (Ga 10,11). Hy sinh, mà các mục tử đã và đang làm gương cho tôi, gồm rất nhiều thứ xảy ra thường ngày. Hy sinh về thân xác thì dễ thấy. Hy sinh trong tâm hồn thì khó thấy, nhưng lại rất nhiều.

10. Một trong những hy sinh trong tâm hồn, mà tôi học được nơi các ngài là sự tỉnh thức, khi làm từ thiện bác ái, phục vụ người đau khổ.

Tỉnh thức tránh sự phô trương.Các ngài nhớ lời Chúa phán: “Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chưng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng. Vậy, khi bố thí, đừng cho khua chiêng đáng trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thật, Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi” (Mt 6,1-2).

Tỉnh thức tránh sự lừa dối. Các ngài luôn rất minh bạch về tiền của dâng cúng. Thái độ minh bạch của các ngài làm tôi nhớ lại chuyện ông Khanania và vợ là Xaphira xưa đã gian lận, lừa dối các tông đồ trong việc dâng cúng của cải, và họ đã bị Chúa phạt chết tươi (x. Cv 5,1-11).
Tỉnh thức tránh cho việc từ thiện khỏi bị lợi dụng để kết thành những nhóm lợi ích riêng (x. Ga 2,18-19).
Tỉnh thức tránh thiếu tế nhị trong việc làm từ thiện và phục vụ. Làm cho người đau khổ là làm cho chính Chúa Giêsu.

11. Dù tỉnh thức đến đâu, tôi vẫn thấy mình còn rất xa tình yêu của Trái Tim Chúa Giêsu, nên hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, tôi chỉ biết kêu cầu Chúa một lời vắn tắt này: Lạy Chúa, xin thương xót con. Tôi kêu cầu với lòng tin tuyệt đối.

12. Rồi, dù như bị đóng đinh vào thánh giá là bệnh tật, già yếu, tôi vẫn ra đi, đến những người đau khổ bằng nhiều cách có thể.

13. Cho dù thân phận mong manh, tôi vẫn mang đến cho họ chút tình yêu của Trái Tim Chúa. Tôi yêu thương họ, tôi hy sinh cho họ, tôi vui lòng được phục vụ họ. Và như vậy, tôi sẽ là của lễ, hiệp cùng của lễ Chúa Giêsu dâng chính mình trên thánh giá xưa. Kết quả là sẽ góp phần vào công việc cứu độ những người đau khổ, mà Chúa Giêsu thực hiện.

14. Trên đây là một chia sẻ rất chân thành. Nếu đó là một chứng từ nói lên kinh nghiệm về tình yêu của Trái Tim Chúa nơi một con người hèn yếu như tôi, thì thiết nghĩ đây là một đóng góp vào Tin Mừng cho tình hình phức tạp tại Quê Hương Việt Nam yêu dấu hôm nay.

Nói lên kinh nghiệm về tình yêu Thánh Tâm Chúa, chứ không nói về lý thuyết, đó là điều tôi mạo muội làm. Xin Chúa thương nhận và ban phép lành cho những ai quan tâm đến kinh nghiệm nhỏ bé của tôi, và cầu nguyện cho tôi. Hy vọng như thế đang là một niềm vui giúp tôi càng tin vào tình yêu thương xót Chúa. Xin hết lòng tạ ơn Chúa.

Long Xuyên 4.6.2015
+ GB. Bùi Tuần

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2015

ĐC Bùi Tuần: Nhờ Mẹ dâng hoa lên Chúa

Nhờ Mẹ dâng hoa lên Chúa
“Tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian, để nhờ Con Một của Người, mà chúng ta được sống.

1. Trong 12 tháng, thì tháng Năm được Hội Thánh Việt Nam gọi là tháng dâng hoa kính Đức Mẹ. Hoa dâng kính Đức Mẹ thường được hiểu là hoa tự nhiên trồng ở vườn, mua từ chợ. Bên canh hoa tự nhiên mang nhiều màu sắc và hương thơm, chúng ta còn dâng lên Mẹ những hoa thiêng liêng trồng ở tấm lòng riêng tư của mỗi người chúng ta.

Riêng đối với tôi, những hoa quan trọng nhất tôi dâng lên Mẹ, đều là những hoa thiêng liêng. Nói cho đúng, những hoa thiêng liêng này đều do chính Đức Mẹ đã giúp tôi trồng trong trái tim tôi, để rồi tôi lại hái dâng lên Mẹ, và nhờ Mẹ dâng lên Chúa.

2. Hôm nay, tôi ôm vào lòng một bông hoa tôi cho là rất quý, mà chính Mẹ giúp tôi trồng trong sâu thẳm hồn tôi. Mẹ bảo tôi hãy dâng hoa đó lên Chúa nhân lành. Chúa đã thương nhận. Người dạy tôi hãy kể ra cho cộng đoàn biết chút ít về bông hoa đó, vì nó là công trình của Mẹ. Tên bông hoa đó là niềm tin vào tình yêu đầy xót thương của Thiên Chúa.

3. Tôi xin vắn tắt.

Ngay từ rất nhỏ, tôi đã được cha mẹ dâng tôi cho Đức Mẹ. Đọc kinh Mân Côi đã sớm trở thành thói quen tôi dùng để gặp gỡ Đức Mẹ. Mỗi ngày nhiều lần, sự gặp gỡ Đức Mẹ bằng kinh Mân Côi đã gieo vào lòng tôi những tâm tình về đức tin. Tôi tin Chúa theo kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng và kinh Sáng Danh. Dần dần, tôi nhận ra Chúa là tình yêu. Rồi, đến một lúc, tôi nhận ra tình yêu Chúa là tình yêu đầy lòng thương xót.

Phải nói là, Đức Mẹ cho tôi nhận ra trước, rồi sau đó là tin tất cả những gì về tình yêu Chúa giàu lòng xót thương.

4. Tôi nhận ra Chúa thương yêu tôi, qua những gì đã xảy ra trong đời tôi. Đời tôi là một hành trình. Chuyến đi đời tôi gặp nhiều trắc trở. Có những trường hợp tưởng là chắc chắn tôi sẽ rơi xuống hố diệt vong. Nhưng đến phút chót, tôi đã được Chúa cứu. Tôi nhận ra tôi được cứu hoàn toàn nhờ Chúa và do Chúa. Do vậy, tôi nhận ra Chúa là tình yêu cứu độ.

Tình yêu ấy Chúa dành cho tôi một cách nhưng không, một cách bất ngờ, một cách quá sức tưởng tượng. Tôi chỉ biết gọi Chúa là tình yêu, đúng như thánh Gioan tông đồ đã viết: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,16).

5. Chúa yêu tôi, trước khi tôi yêu Chúa. Không những thế, Chúa còn yêu tôi, khi tôi còn trong tội lỗi, hư hỏng, đê hèn, đáng phải trừng phạt. Qua đó, tôi nhận ra Chúa giàu lòng thương xót. Nhận ra qua những bằng chứng sống động. Cảm thấy bằng những xúc cảm không thể nào quên. Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót, là điều bản thân tôi đã nhận ra, đã cảm nghiệm, là điều đã đóng ấn sâu trên đời tôi. Tôi đã nhận ra và đã tin. Như thánh Gioan đã viết:

“Tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian, để nhờ Con Một của Người, mà chúng ta được sống.

“Tình yêu cốt ở điều này: Không phải chúng ta đã yemé Thiên Chúa trước, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,9-10).

“Chúng ta đã nhận biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta, và chúng ta đã tin vào tình yêu đó. Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,16).

6. Tôi đã nhận ra và đã tin Thiên Chúa là tình yêu thương xót. Sự nhận ra và sự tin như thế đã nâng đỡ tôi rất nhiều trong chức vụ linh mục và Giám mục. Nhất là khi mọi lãnh nhận các chức vụ trong Hội Thánh đều hoàn toàn do được sai đi, chứ không do tự mình tôi chọn lấy cho mình.

Được Chúa sai đi, và nhận lãnh sự sai đi chỉ vì vâng phục ý Chúa, nhất là trong những tình hình phức tạp khó khăn, đó là tâm trạng đòi nhiều phó thác. Sự phó thác đó nơi tôi đã được đỡ nâng bằng sự nhận ra và tin mình được Chúa yêu thương đầy thương xót.

7. Khi được nhận ra và được tin vào tình yêu đầy xót thương của Chúa, tôi tự nhiên ham thích cầu nguyện. Tôi theo gương Mẹ.

Có thể nói: Sự ham thích cầu nguyện nơi tôi là do ơn Chúa. Chính Chúa làm cho linh hồn tôi ngoan ngoãn đặt mình dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, để cầu nguyện với Chúa một cách khiêm nhường và cậy trông.

Cầu nguyện nơi tôi là sự gặp gỡ với Chúa, là sự trao đổi giữa tình yêu Chúa và sự hèn hạ khốn khổ của tôi.

Cầu nguyện nơi tôi không hệ tại ở sự suy nghĩ nhiều, mà ở tại sự yêu mến nhiều.

Cầu nguyện nơi tôi là một việc đơn sơ, hồn nhiên. Bắt đầu cầu nguyện, tôi hay nhìn Chúa Giêsu và học ở Người điều mà chính Người đã phán: “Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29). Rồi tôi nhận được sự bình an, như Người đã hứa: “Tâm hồn các con sẽ được bình an” (Mt 11,29).

8. Khi cầu nguyện, tôi xác tín mình rất hèn mọn, khó nghèo, tội lỗi, xấu xa, rất cần đến lòng thương xót Chúa. Tôi tin Chúa xót thương tôi, chính vì tôi là như thế. Và vì tôi chính là kẻ khó nghèo, tội lỗi, nên tôi tự nhiên không dám mơ ước đến những sự lớn lao, như hãm mình khắc khổ lớn, trở thành ánh sáng lớn, làm những việc lành lớn.

9. Trở thành bé nhỏ, đó là một cách tôi thuộc về Chúa Giêsu. Đấng mà tôi tin luôn yêu tôi với tình xót thương vô bờ.

Trở thành bé nhỏ như thế luôn đi kèm với sự cậy trông. Chính ở đây tôi hiểu lời thphl đã nói: “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,10).

10. Những gì tôi vừa vắn tắt chia sẻ trên đây là rất chân thành. Đó là bông hoa thiêng tôi dâng lên Mẹ, và nhờ Mẹ, dâng lên Chúa.

Tôi tin rằng: Tại Việt Nam hôm nay đang có nhiều bông hoa thiêng liêng dâng lên Mẹ, và nhờ Mẹ dâng lên Chúa. Những bông hoa thiêng liêng đó có thể khác nhau. Nhưng tất cả đều muốn làm chứng về Thiên Chúa.

Tuy nhiên, hơn bao giờ hết, người thời nay cảm thấy mình được thu hút bởi dung mạo Thiên Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót, hơn là bởi bất cứ dung mạo nào. Do vậy, mà việc làm chứng cho Thiên Chúa giàu tình yêu thương xót rất cần được thực hiện do chính ơn Chúa, một cách khiêm nhường vâng phục, để có sức dấn thân phục vụ theo đúng ý Chúa.

+ GB. Bùi Tuần

Long Xuyên, ngày 3.5.2015.

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2015

Đc Bùi Tuần: Chuyện của hạt lúa gieo vào lòng đất

Chuyện của hạt lúa gieo vào lòng đất
... Hạt lúa được chôn vùi vào lòng đất, thối đi và sinh nhiều trái, là một ơn gọi. Ơn gọi đó là một hành trình. Một hành trình đẹp, đang thu hút nhiều con người Việt Nam hôm nay.

1. Ngày 30 tháng 4 năm nay là một kỷ niệm lớn. Để mừng kỷ niệm trọng đại đó, tôi nhìn Hội Thánh Việt Nam, cách riêng là tại miền Nam, và đặc biệt là tại giáo phận Long Xuyên của tôi.

Đúng là có nhiều nhà thờ mới, nhiều giáo điểm mới, nhiều cơ sở mới, nhiều nhân sự mới. Tôi hỏi Chúa xem tôi nên vui hơn cả về yếu tố nào, Chúa trả lời tôi là: Hãy vui vì đã và đang có nhiều hạt lúa được gieo vào lòng đất. Tôi nhớ lại lời Chúa phán xưa: “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không thối đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình. Còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24).

2. Lời Chúa trên đây giúp tôi nhận ra những ai đã và đang là loại hạt lúa được Chúa chôn vùi vào lòng Đất Quê Hương Việt Nam này, để hy sinh của họ nẩy sinh ra được nhiều người tốt.
Cảm tạ Chúa, tôi cũng phần nào được ơn là một hạt lúa như vậy. Nên tôi xin nói đôi chút về tôi, như một chứng nhân của ơn gọi là hạt lúa gieo vào lòng đất.

3. Điều thứ nhất Chúa thường căn dặn tôi là hãy khiêm tốn và phó thác để Chúa chôn vùi tôi.
Càng ngày tôi càng hiểu tôi được chôn vùi, chứ không phải bị chôn vùi. Nghĩa là tôi coi sự chôn vùi là một ơn Chúa ban. Chôn vùi không phải chỉ là sự không đi tìm nổi nang, mà còn là để cho những khổ đau, những nhục nhã, những nhọc nhằn chôn vùi mình. Tự nhiên phản ứng là rất khó chịu. Nhưng với ơn Chúa, tôi đón nhận sự chôn vùi như thế. Tôi đón nhận, vì như thế là bước theo Chúa Giêsu, là được cùng khổ với Người, là được cùng với Người cứu các linh hồn, đưa họ về với Cha trên trời.

4. Những cuộc đời được chôn vùi như thế, thực ra là được chôn vùi mình trong Chúa Kitô. Nhờ vậy, họ xác tín: “Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12,25).
Để sống chôn vùi như một ơn gọi, Chúa dạy tôi là phải luôn luôn cảnh giác. Ngay thời Chúa Giêsu, ma quỷ, thế gian, xác thịt đã xúi giục nhiều người coi phô trương các việc đạo là làm sáng danh Chúa. Chúng đã thành công. Vì thế, Chúa cảnh báo: Phô trương như vậy là đã được thưởng công rồi (x. Mt 6,1-6.16-17).

5. Trong hoang địa, Satan cũng đã cám dỗ Chúa Giêsu hãy làm những việc phô trương, để chứng minh mình là Con Thiên Chúa. Nhưng Chúa Giêsu đã khước từ (x. Mt 4,1-10).
Chứng tỏ rằng: Thời nào và đâu đâu, phô trương cũng vẫn là chước cám dỗ có sức phá đạo. Thời nay cũng vậy. Vì thế, ơn gọi sống như hạt lúa được chôn vùi đòi nhiều tỉnh thức. Tỉnh thức nói đây là tỉnh thức Phúc Âm, chứ không phải tỉnh thức theo sự khôn ngoan thế gian. Tỉnh thức Phúc Âm là một lựa chọn mang nhiều đau đớn.

6. Điều thứ hai Chúa thường nhắc nhủ tôi là hãy sáng suốt nhận ra thực tế của mảnh đất, mà Chúa muốn chôn vùi tôi.
Như một ví dụ, Chúa bảo tôi đọc lại những gì, thánh Gioan đã viết cho bảy giáo đoàn trong sách Khải Huyền (x. Kh 2-3). Giáo đoàn nào cũng có điều tốt, nhưng cũng có điều xấu. Gioan cảnh báo: “Ai có tai thì hãy nghe điều Thần Khí nói với các Hội Thánh” (Kh 2,7).
Chúa dạy tôi cũng hãy làm như vậy, với môi trường mình chôn vùi. Tôi sẽ phải vâng theo Chúa Thánh Thần soi sáng, mà tìm cách thích hợp nói lên ý Chúa, sau khi được Chúa cho thấy điều không tốt nơi họ, và điều đó là rất nguy hiểm cho họ.

7. Kinh nghiệm cho tôi thấy môi trường nào cũng mang vài thực tế xấu, mà Chúa có nói trong dụ ngôn “Người gieo giống” (Mt 13,3-9). Nơi thì đất bị gai góc phủ, nơi thì bị sỏi đá pha trộn, nơi thì bị côn trùng làm tổ, nơi thì bị khô cứng lâu năm.

8. Là hạt lúa được chôn vùi vào đâu, tôi phải có trách nhiệm với môi trường đó. Trách nhiệm nói lên ý Chúa gởi cho họ. Kinh nghiệm cho tôi thấy, nói lên ý Chúa gởi cho cộng đoàn không phải là việc dễ. Rất nhiều cộng đoàn, dù được tiếng đạo đức, vẫn thích an phận với nếp sống đã quen. Do vậy, họ trở thành vô cảm, xơ cứng. Và đó chính là một nỗi đau lớn của thân phận hạt lúa gieo vào lòng đất.

9. Điều thứ ba Chúa luôn dạy tôi là chính bản thân tôi hãy luôn là hạt lúa tốt.

Thế nào là hạt lúa tốt? Tôi nhớ tới lời Chúa dạy: “Thầy là cây nho thật, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái. Và không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).
Với lời Chúa phán trên đây, tôi hiểu, tôi sẽ là hạt lúa tốt, khi tôi kết hiệp mật thiết với Chúa, như cành với cây. Kết hợp mật thiết với Chúa là cả một sự cải hoá nội tâm sâu xa, lâu dài, thường xuyên, một cách kiên trì, trong khiêm tốn cầu nguyện và phấn đấu không ngừng.

10. Như vậy, hạt lúa được chôn vùi vào lòng đất, thối đi và sinh nhiều trái, là một ơn gọi. Ơn gọi đó là một hành trình. Một hành trình đẹp, đang thu hút nhiều con người Việt Nam hôm nay.

11. Riêng tôi, khi cầu nguyện xin ơn thánh hoá các linh mục, tôi hay thầm nói với Chúa rằng: Mừng cho những ai sẽ là ánh sáng soi khắp trần gian. Còn con, xin Chúa cho con chỉ là một hạt lúa được chôn vùi vào lòng đất, nó sẽ thối đi, để nếu nhờ đó nó chỉ sinh ra được vài hạt lúa tốt cho Chúa, thì con vẫn coi đó là một hồng ân Chúa ban, mà con sẽ cảm tạ Chúa đến muôn đời.

12. Giờ đây, thời gian cuối đời, tôi đi gần về với Cha. Tôi không đi một mình, mà đang đi với muôn người, họ cũng là những hạt lúa âm thầm, họ còn được chôn vùi hơn tôi. Chúng tôi tin tưởng những hạt lúa âm thầm này được chôn vào lòng dân tộc, sẽ làm nên một mùa lúa mới đẹp thơm báo hiệu Nước Thiên Chúa là tình yêu vĩnh cửu đang gần đến.

Long Xuyên 8-4-2015

+ GB. Bùi Tuần

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

GM Bùi Tuần: Mẹ Thưa Xin Vâng

Lễ Truyền Tin 25/3 
MẸ THƯA XIN VÂNG, XIN VÂNG TRỌN THÁNH Ý CHÚA CHA

+ GM JB. Bùi Tuần
Khi nói xin vâng được coi như một bài ca mới, tôi nhớ lại tâm tình Ðức Mẹ trong kinh Tạ Ơn "Linh hồn tôi tung hô Chúa" ( Lc 1, 46 - 55 ).
Trong ngày lễ Truyền Tin, Hội Thánh kính nhớ một biến cố quan trọng. Thiên thần báo tin cho Ðức Mẹ rằng: Thiên Chúa muốn chọn Ðức Mẹ làm Mẹ Ðấng Cứu Thế. Tin đó quá bất ngờ, vượt mọi suy nghĩ, mọi tưởng tượng, mọi đợi chờ. Phản ứng của Ðức Mẹ bắt đầu là bỡ ngỡ bàng hoàng lo sợ, nhưng tiếp đó là xin vâng ( Lc 1, 38 ).

Xin vâng là xin tuân phục ý Chúa. Xin vâng là xin cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa, với sự từ bỏ mình, với sự tuyệt đối phó thác đời mình trong tay Chúa.

Lập tức sau lời "xin vâng" của Ðức Mẹ, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế nhập thể trong lòng Ðức Mẹ. Tất cả đều diễn tiến một cách âm thầm, khiêm tốn. Từ đó "xin vâng" đã được coi như một giao ước mới, một bài ca mới, một con đường mới, của con người mới.

Khi nói xin vâng được coi như một giao ước mới, tôi nhớ lại việc Ðức Mẹ vội vã lên đường đi thăm viếng bà Ê-li-da-bét ( Lc 1, 39 - 45 ). Ði thăm để chia sẻ, để phục vụ, để nâng đỡ khích lệ bà Ê-li-da-bét. Theo Ðức Mẹ, thì mình được Chúa thương, là để mình biết thương người khác. Mình được Chúa chọn cộng tác với Chúa trong việc cứu độ, thì mình phải quyết tâm dấn thân góp phần cứu độ người khác. Mình nhận ơn Chúa ban, thì mình sẽ cố gắng chia sẻ ơn đó cho người khác.

Thiết tưởng đó là một giao ước mới về bác ái liên đới phát sinh từ lời xin vâng.

Khi nói xin vâng được coi như một bài ca mới, tôi nhớ lại tâm tình Ðức Mẹ trong kinh Tạ Ơn "Linh hồn tôi tung hô Chúa" ( Lc 1, 46 - 55 ). Tâm tình Ðức Mẹ là lời nói chân thành của người con bé nhỏ, đầy khiêm tốn, ngỡ ngàng biết ơn và phó thác đối với Chúa. Tâm tình Ðức Mẹ là khát vọng cứu độ tỏa ra sức nóng của tình yêu thương xót, nhưng lại khiêm nhường tế nhị đối với đồng bào, nhân loại. Tâm tình Ðức Mẹ là cái nhìn tiên tri sâu sắc của trái tim khiêm nhường về tương lai dành cho những kẻ khiêm tốn.

Thiết tưởng đó là một bài ca mới về khiêm tốn khởi đi từ lời xin vâng.

Khi nói xin vâng được coi là một con đường mới, tôi nhớ lại biến cố Ðức Mẹ sinh Chúa Giê-su tại hang đá Bê-lem ( Lc 2, 1 - 7 ). Ðang khi hầu hết mọi người đều coi giàu sang chức quyền danh vọng là những bậc thang giới thiệu gía trị con người, thì Ðức Mẹ đã không nghĩ như vậy, đã không vận động chút nào để được như vậy. Trái lại, Ðức Mẹ đã lặng lẽ đi vào con đường khó nghèo. Con đường đó đã khởi đi từ hang đá Bê-lem và kéo dài từng ngày, từng tháng, từng năm, suốt cả cuộc đời Ðức Mẹ. Trên con đường đó, Ðức Mẹ đã cầu nguyện, đã suy gẫm trong lòng, đã lắng nghe Chúa, đã thông hiệp với sự sống Chúa.

Thiết tưởng đó là một con đường mới về sự nghèo khó được vạch ra từ lời xin vâng.

Con đường mới đó, bài ca mới đó, giao ước mới đó đều nói lên Ðức Mẹ là con người mới. Mới về nhiều phương diện, nhưng nhất là về phương diện Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Ðức Mẹ, để đổi mới con người của Mẹ ( Lc 1, 35 ).

Qua việc Ngôi Hai xuống thai trong lòng Ðức Mẹ, Chúa Thánh Thần đã đưa tình yêu thương xót của Thiên Chúa vào nhân loại, đã mạc khải Thiên Chúa là tình yêu, đã khai mở một nguồn mạch ơn thánh cứu độ vô cùng phong phú cho mọi người thiện chí.

Do đó, Ðức Mẹ là con người mới, là tác phẩm tuyệt vời của Chúa Thánh Linh. Với đặc điểm là Ðức Mẹ có một trái tim giống trái tim Chúa Giêsu, trong sạch, hiền lành, khiêm nhường, cháy rực lửa tình yêu thương xót.

Những chia sẻ vắn tắt trên đây có thể giúp chúng ta phần nào, để chuẩn bị mừng Lễ Truyền Tin một cách sống động sát với thời sự.

Thời sự hiện nay, nếu nhìn về góc độ xin vâng ý Chúa, thì đó là cả một vấn đề đáng phải lo ngại. Bởi vì có những người coi trọng ý Chúa và xin vâng ý Chúa. Cũng có những người coi thường ý Chúa và chống lại ý Chúa. Có những người hiểu sai ý Chúa, vô tình hoặc cố tình. Có những người gán cho ý Chúa những ý riêng của mình. Có những người muốn ý Chúa hợp theo ý riêng mình, cho dù ý riêng mình là quái gở.

Thời sự hôm nay là Ít-ra-en, quê hương của Ðức Mẹ, đang là mảnh đất diễn ra vòng xoáy hận thù và đổ máu. Vòng xoáy kinh hoàng này càng ngày càng mở rộng trên đất, đồng thời càng xoáy sâu vào lòng dân. Từ mảnh đất này hằng ngày truyền đi khắp năm châu những tin đau đớn, gây nên băn khoăn nặng nề cho hoà bình thế giới. Thời sự này làm cho rất nhiều người phải khóc, phương chi Ðức Mẹ.

Nhưng theo tôi, thời sự hiện nay quan trọng nhất chính là chuyện của bản thân ta. Ta có lắng nghe ý Chúa không ? Và ta có xin vâng ý Chúa thực không ? Ðoạn Phúc Âm sau đây sẽ gợi ý cho ta thấy rõ ý Chúa về ta trong thời sự hôm nay:

"Cùng lúc ấy, có mấy người đến kể lại cho Ðức Giê-su nghe chuyện những người Ga-li-lê bị tổng trấn Phi-la-tô giết, khiến máu đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng. Ðức Giê-su đáp lại rằng: "Các ông tưởng mấy người Ga-li-lê đó tội lỗi hơn mọi người Ga-li-lê khác, bởi lẽ họ đã chịu đau khổ như vậy sao ? Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu. Nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy". "Cũng như mười tám người kia bị tháp Si-lô-e đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giê-ru-sa-lem sao ? Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu. Nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết như vậy" ( Lc 13, 1 - 5 ).

Suy gẫm đoạn Phúc Âm trên, tôi có cảm tưởng là Chúa muốn báo tin cho từng người chúng ta biết rõ ý Chúa. Ðó là đừng quá bận tâm xét đoán người khác, nhưng hãy ưu tiên lo phần rỗi của mình. Lo bằng cách sám hối ăn năn, đổi mới chính mình. Cách đó là cách tốt nhất để góp phần vào việc cứu độ người khác.

Chúa báo tin cho chúng ta ý Chúa là như thế đó. Rất rõ ràng. Ở Fatima Ðức Mẹ cũng báo cho chúng ta tin đó. Cũng rất rõ ràng. Chúng ta hãy đáp lại bằng lời xin vâng.

Xin vâng của chúng ta là một hành trình dài đi về với Chúa. Hãy bước đi với những bước nhỏ. Như hằng ngày cầu nguyện bằng kinh Kính Mừng và chuỗi Mai Khôi. Như hằng ngày đến bên trái tim Ðức Mẹ, để xin trái tim Ðức Mẹ chia sẻ cho ta bầu khí thinh lặng, chiêm niệm, lửa bác ái nồng nàn và sức mạnh lạ lùng của khiêm nhường nghèo khó. Như hằng ngày thực hiện đôi ba việc bác ái, thương cảm liên đới với những người nghèo, bệnh tật, xa Tin Mừng, bị xã hội loại trừ. Như hằng ngày tập nói và làm những gì mang tính cách phục vụ hoà bình hiệp nhất trong yêu thương và tế nhị. Như hằng ngày dùng lòng tin mến biến những mệt mỏi khổ đau của mình thành của lễ đền tội tạ ơn, và xin ơn an bình cho gia đình quê hương và thế giới.

Nếu lời xin vâng của chúng ta được hiệp thông sâu sắc với lời xin vâng của Ðức Mẹ, thì đây sẽ là một hy vọng mới cho tương lai bản thân ta, cho Hội Thánh ta, cho quê hương Việt Nam chúng ta, và cho tất cả nhân loại.

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2015

Gm Bùi Tuần: Từ vực sâu con kêu lên: “Lạy Chúa, xin thương xót con”

Từ vực sâu con kêu lên: “Lạy Chúa, xin thương xót con”.

1. Trong vườn Cây Dầu, tối thứ Năm Tuần thánh, Chúa Giêsu đã trải qua một cơn buồn sầu xao xuyến rất kinh hoàng. “Người sấp mặt xuống đất, cầu nguyện rằng: Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39).

2. Chén, mà Chúa Giêsu xin Chúa Cha đừng bắt Ngài uống, chính là cuộc khổ nạn sắp tới. Chúa Giêsu sợ cuộc khổ nạn mà Ngài biết trước là rất đớn đau. Ngài muốn thoát khỏi. Chứng tỏ rằng cuộc khổ nạn là một thực tế gây những đau đớn khôn lường. Ngài kêu xin Chúa Cha, đó là nguồn an ủi và sức mạnh.

3. Những gì đã xảy ra cho Chúa Giêsu xưa, cũng đã và đang xảy ra cho tôi. Khổ nạn của tôi là rất nhỏ. Nhưng đối với sức của tôi, nó thực là lớn. Tôi sợ hãi. Tôi kêu lên với Chúa. Tôi kêu than, tôi kêu cầu, tôi kêu rên, tất cả đều có nghĩa là tôi hy vọng vào Chúa. Tôi như con người ở dưới đáy vực sâu kêu lên Chúa. Sau cùng, tôi đã gặp được Chúa. Đó là điều tôi xin được chia sẻ, như một nhân chứng hèn mọn.

4.Từ vực sâu của những người tội lỗi, tôi kêu lên Chúa.

Chỗ ở của những người tội lỗi là vực thẳm tối tăm. Tôi ở chung với họ, tận đáy vực thẳm. Từ đó, tôi kêu Chúa: “Lạy Chúa, xin thương xót con”.

Tôi kêu thảm thiết. Và Chúa đã trả lời tôi. Người đã bước xuống. Ngài đã cứu tôi. Tôi nghe Người nói: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc. Người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mc 2,17). Tôi cũng nhớ lại lời thánh Phêrô: “Anh em đã được cứu chuộc nhờ máu châu báu của Con Chúa vẹn toàn, vô tì tích là Đức Kitô” (1Pr 1,19).

Trong đáy vực sâu, Chúa đã gọi tên tôi, Chúa đã lấy máu của Người, mà xoá tội cho tôi. Tôi xin làm chứng điều đó.

5. Là kẻ tội lỗi, tôi cũng còn là kẻ nghèo túng

Từ vực sâu của những người nghèo túng, tôi kêu lên Chúa.

Nghèo túng trong tôi gồm đủ mọi thứ thiếu thốn như nghèo sức khoẻ, nghèo tài đức, nghèo uy tín. Những người nghèo cũng ở trong một vực thẳm. Tôi ở chung với họ. Từ đáy vực thẳm đầy thê thảm ấy, tôi kêu lên Chúa những lời van xin thống thiết. Chúa đã nhậm lời tôi. Người đã bước xuống. Người đã ôm lấy tôi. Tôi được nghe lại những lời Người đã nói xưa: “Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11,5-6).

Tôi là người tội lỗi, tôi là người bần cùng. Với những tư cách đó, tôi đã gặp được Chúa từ những vực thẳm. Thêm vào đó, tôi còn là kẻ bé mọn.

6. Từ vực sâu của những kẻ bé mọn, tôi kêu lên Chúa.

Kẻ bé mọn được hiểu là những kẻ bị đẩy ra lề xã hội. Tôi đứng chung giữa họ. Chúng tôi như rơi vào vực thẳm. Từ vực sâu ấy, tôi kêu lên Chúa. Chúa đã bước xuống. Người đã ôm lấy tôi. Tôi được nghe lại lời Người đã phán xưa: “Mỗi lần các ngươi làm điều tốt cho một trong những anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Tôi cảm thấy tôi được thuộc về Chúa, chính vì tôi hèn mọn đã kêu cầu Chúa.

Kinh nghiệm về sự kêu cầu từ ba vực sâu kể trên đã giúp tôi kêu cầu từ một vực sâu khác, đó là vực sâu của những người cầu nguyện và ăn chay đích thực trong âm thầm khiêm tốn.

7. Từ vực sâu của những người cầu nguyện và ăn chay, tôi kêu lên Chúa.

Họ là những người cầu nguyện và ăn chay một cách âm thầm theo như Chúa dạy (x. Mt 6,5-6. 16-18).

Khi cùng với họ cầu nguyện và ăn chay, như xưa Chúa Cứu Thế đã làm trong hoang địa, tôi cảm thấy mình như đứng dưới đáy vực thẳm vô hình. Từ đó tôi nhìn lên Chúa. Và Chúa cho tôi thấy Satan là ác thần rất dữ tợn. Tôi kêu cầu Chúa. Chúa bước xuống. Người bảo vệ tôi. Tôi nghe Người quả quyết: “Giống quỷ này không chịu rút lui, nếu người ta không ăn chay và cầu nguyện” (Mt 17,21).

8 Tất cả những gì tôi vừa diễn tả trên đây cho phép tôi nhận rar ơn Chúa đã và đang ban cho tôi là rất lớn lao. Chúa dẫn đưa tôi về Nước Trời qua hướng phục vụ cộng đoàn.

Tôi phục vụ cộng đoàn bằng cách tôi đồng hành với những người tội lỗi, bần cùng, bên lề xã hội, và cùng với những người cầu nguyện và ăn chay.

Tôi phục vụ họ không phải chỉ là đồng hành, mà còn là đi vào sâu những vực thẳm cuộc đời của họ.

Tôi phục vụ họ còn là cầu nguyện và ăn chay¸ để cùng với họ phó thác mình theo bước Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Chỉ có Người là Đấng cứu chúng ta khỏi ác thần. Chỉ có Người là Đấng cứu chúng ta khỏi tội lỗi. Chỉ có Người là Đấng cứu chúng ta khỏi mọi cản trở, để đưa chúng ta vào được Nước Trời.

9. Hướng đi của cuộc đời tôi đã được rõ nét. Hướng đó không dễ dàng chút nào. Tôi phải tỉnh thức và phấn đấu không ngừng, theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Điều này chứng tỏ việc tăng cường đời sống nội tâm là một nhu cầu quan trọng và cấp bách.

Tăng cường đời sống nội tâm đôi khi là phải xây dựng lại đời sống nội tâm. Xây dựng lại đời sống nội tâm cũng chính là xây dựng lại toàn thể con người của tôi về mọi mặt, để tôi trở thành một dụng cụ ngoan ngoãn của Chúa, và là một của lễ dâng lên Chúa.

10. Trong việc xây dựng lại con người của tôi, Chúa cho tôi thấy là tôi sẽ phải từ bỏ rất nhiều, để cùng đi với Chúa trên con đường, mà nhiều khi tôi chẳng muốn. Tôi nhớ lại lời Chúa Giêsu đã nói với thánh Phêrô: “Thực, Thầy bảo cho con biết: Lúc còn trẻ, con tự mình thắt lưng lấy và đi đâu tùy ý. Nhưng khi về già, con sẽ phải giang tay ra cho người khác thắt lưng cho, và dẫn con đến nơi con chẳng muốn” (Ga 21,14).

Lạy Chúa, từ vực sâu con kêu lên Chúa, và Chúa đã nhậm lời con.

Long Xuyên, ngày 13.3.2015.
+ GB. Bùi Tuần

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2015

+ ĐC Bùi Tuần: Những chứng Bệnh nguy hiểm của Giáo Hội

BỆNH NGUY HIỂM CỦA GIÁO HỘI
Bệnh nguy hiểm
Năm nay tôi 80 tuổi. Nhìn lại Hội Thánh Việt Nam trong cuộc đời đã qua của tôi, tôi thấy Hội Thánh của tôi thực vất vả. Có thể ví cuộc đời ấy như một chuyến đi đầy trắc trở.

Nhưng những gian nan trắc trở đó đã được vượt qua. Hơn thế nữa, đức tin được tôi luyện đã đào tạo nên nhiều con người biết sống công bình bác ái. Nhờ đâu? Tất nhiên là nhờ ơn Chúa. Nhưng chắc chắn cũng nhờ nhiều tín hữu, nhất là nhiều vị lãnh đạo trong Hội Thánh Việt Nam đã biết khiêm tốn cộng tác với ơn Chúa. Các vị đã cùng nhau tiến lên trong mọi chặng đường lịch sử khác nhau với tâm hồn sáng suốt.

Bây giờ, Ðạo đang bước vào một giai đoạn mới của lịch sử: Giai đoạn hội nhập và cạnh tranh. Tôi vui, nhưng cũng lo. Với kinh nghiệm của một người, vừa già về tuổi đời, vừa già về tuổi mục vụ, tôi xin phép chia sẻ một nỗi lo như một cảnh báo. Ðó là hãy coi chừng về một chứng bệnh nguy hiểm cho Ðạo. Chứng bệnh này thường xuất hiện trong thời cạnh tranh giữa các giá trị.

Chứng bệnh đó là bệnh mù quáng.

Mù quáng trong sống đạo được Kinh Thánh đề cập đến nhiều cách. Ở đây tôi chỉ nêu lên bốn dạng mù quáng dễ gặp thấy.

1/ Mù quáng, vì không nhận ra cái chính, cái phụ

Chúa Giêsu có lúc đã đau buồn phải nói sự thực với các kinh sư và Pharisêu: “Khốn cho các ngươi, những kẻ dẫn đường mù quáng... Các ngươi nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề luật là công bình, lòng thương xót và sự thành tín... Hỡi những kẻ dẫn đường mù quáng. Các ngươi lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà” (Mt 23,23-24).

Những lời Chúa Giêsu phiền trách trên đây xem ra đang ứng nghiệm ở nơi này nơi nọ. Tình hình đạo ở những chỗ đó được tiếng là thêm mở mang, thêm hoạt động, thêm luật lệ. Nhưng lòng đạo thực ra chỉ được xây dựng bằng những giá trị phụ.Người ta gọi đạo kiểu đó là đạo hình thức, đạo gánh nặng, đạo bề ngoài, đạo phong trào. Nhưng không thiếu người tự mãn với lối sống đạo như thế. Chúa thì dứt khoát không hài lòng. Người gọi những người giữ đạo kiểu đó là mù quáng. Cái làm cho sự mù quáng đó thành nguy hiểm, đó là sự nó tạo nên một ảo tưởng sai lầm, đưa con người vào ẩn trú trong đó. Hơn nữa, nó càng nguy hiểm, khi lôi kéo, thậm chí ép buộc nhiều người khác đi vào não trạng sai lạc về đạo, bám vào một nếp sống đạo dễ dàng biến chất. Hy vọng cảnh đó sẽ không nhiều tại Việt Nam.

2/ Mù quáng, vì không nhận ra đoàn lũ quỷ dữ rình rập mình thường xuyên

Trong thư thứ nhất của thánh Phêrô gởi các giáo đoàn, Ngài đã viết: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì quỷ dữ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5,8).

Danh từ quỷ dữ mà thánh Phêrô dùng ở đây không những chỉ đích danh các tướng quỷ và thuộc hạ ác ôn vô hình luôn rảo quanh chúng ta, mà cũng ám chỉ các lực lượng xấu hữu hình xung quanh ta. Ðó là những thứ văn hoá đồi truỵ, những phong trào gây hận thù chia rẽ, những nhóm đầu tư đủ loại mưu mô quỷ quyệt, những lối sống kích thích huỷ hoại luân lý, những định kiến hẹp hòi, kiêu căng.

Thánh tông đồ Phêrô nói rõ với tín hữu là chỉ với tiết độ và tỉnh thức, người ta mới nhận diện được mặt thực của quỷ dữ và mới đối phó được với chúng một cách có hiệu quả. Nhưng thực tế nhiều nơi cho thấy sự tiết độ và tỉnh thức có vẻ như đang bị lơ là. Do đó mà không ít người trở nên dần dần mù quáng. Họ không những không nhận ra đoàn lũ các loại quỷ dữ đang hoạt động ráo riết xung quanh mình, mà còn nhởn nhơ hoà nhập và tích cực cộng tác vào những cái xấu của chúng.

3/ Mù quáng, vì không biết nhận xét thời đại mình sống

Chúa Giêsu có lần đã cảnh báo nặng lời: “Những kẻ đạo đức giả kia, cảnh sắc trời đất, thì các ngươi biết nhận xét, còn thời đại này, sao các ngươi lại không biết nhận xét? Sao các ngươi không tự mình xét xem cái gì là phải” (Lc 12,56-57).

Lời Chúa phán trên đây, nếu áp dụng vào nhiều người có đạo thời nay, thì thiết tưởng không sai. Bởi vì theo các nơi hành hương và huấn giáo, thì thời nay có hai việc Chúa muốn ta làm:

Việc thứ nhất là sám hối, đền tội, đổi mới bản thân ta.

Việc thứ hai là tin vào Thiên Chúa giàu tình yêu thương xót và hãy đến với Người bằng những việc ta xót thương người khác, như Chúa thương xót ta.

Thế nhưng, cách sống của bao người tín hữu hôm nay tỏ ra mình chưa nhìn thấy rõ bao con đường Chúa đang đợi họ trong thời đại này.

4/ Mù quáng, vì không nhận ra Chúa đến và ở giữa lịch sử nhân loại

Phúc Âm thánh Gioan viết: “Ngôi Lời ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng thế gian lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón Người” (Ga 1,10-11).

Ðọc mấy dòng trên, chúng ta cảm thấy buồn. Người nhà của Chúa là chính những người công giáo chúng ta. Nhưng biết đâu biết bao lần Chúa đến với ta, mà ta không đón nhận Người. Người đến qua Kinh Thánh, qua các bí tích, qua Hội Thánh. Ngoài ra, Người cũng đến qua nhiều ngả khác, như qua các biến cố lịch sử, qua các thành công và thất bại của ta, qua các nền văn hoá chất lượng, qua các sách báo và gương sáng nhắc nhở của cá nhân và tập thể, trong và ngoài Ðạo ta.

Nhưng, chúng ta nhiều khi tự mãn, không nhìn và không muốn nhìn, cho nên kể như tự mình trở nên mù quáng. Mọi thứ mù quáng đều đáng tiếc. Nhưng mù quáng không nhìn nhận Chúa đến với ta, đó quả là một tai hoạ kinh khủng.

Kinh nghiệm tại nhiều nơi cho thấy: Ðạo Chúa thời khó thì chất lượng phát triển. Ðạo Chúa thời dễ thì chất lượng suy thoái.

Chúng ta cũng nên nhìn sự phát triển của các tôn giáo bạn hiện nay trong nước ta và tại các nước xung quanh, nói chung là tại Á châu. Tại nhiều nước Á châu, văn hoá dân tộc là văn hoá một tôn giáo nào đó phủ kín khắp nước. Tất nhiên văn hoá đó và tôn giáo đó không phải là công giáo.

Ai trong chúng ta cũng có nhiều giới hạn. Nên chúng ta rất cần cầu nguyện.

Thiết tưởng vấn đề này nên được nhận thức sớm, với những nghiên cứu mới, sáng kiến mới, dấn thân mới. Kẻo sẽ quá muộn. Vì lịch sử đất nước, khu vực và thế giới, đang chuyển biến rất mau, với những bất ngờ dễ sợ.

Long Xuyên, ngày 8 tháng 01 năm 2007

Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2015

+ ĐGM Bùi Tuần: Mùa chay của tôi

Mùa chay của tôi
Sự vâng phục khiêm nhường đó nhiều khi vượt quá tính cách hợp lý theo cách suy nghĩ của thế gian. Nhưng Chúa Giêsu đã làm.

1. Với những kinh nghiệm của đời mình, tôi thường sống Mùa Chay với tinh thần sám hối và tin vào Chúa, một cách sống động hơn, nhờ ơn Chúa Thánh Thần.

Cụ thể là tôi sống với bốn xác tín sau đây:

2. Tôi xác tín mình là kẻ tội lỗi rất cần được ơn tha thứ.

Tôi thực sự là kẻ rất yếu đuối tội lỗi. Thánh Phaolô viết về chính mình thế này: “Tôi mang tính xác thịt, bí bán làm tôi cho tội lỗi. Thật vậy, tôi làm gì thì tôi cũng chẳng hiểu. Vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm” (Rm 7,14-15).

Lời thú tội trên đây của thánh Phaolô khích lệ tôi hãy nói lên sự thực về tôi, tôi cũng là như thế, và còn hơn thế rất nhiều.

Khi tôi thú nhận mình tội lỗi, tôi không quá nhấn mạnh đến sự hư đốn của tôi, nhưng tôi nhấn mạnh hơn đến sự tôi được Chúa tha thứ. Tôi thực sự đã cảm nhận những lời Chúa phán xưa về tình yêu Chúa dành cho kẻ tội lỗi, như: “Ta không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,13). “Con Người đến, để cứu cái gì đã hư mất” (Mt 18,11). “Anh em nghĩ sao? Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để 99 con kia trên núi, mà đi tìm một con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là 99 con không bị lạc. Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18,12-14).

3. Tôi không thể hiểu được, làm sao tôi có thể sống, nếu không được tha thứ. Tôi càng không dám gánh trách nhiệm nào, nếu tôi không tin rằng Chúa sẽ tha thứ cho những yếu đuối tôi.

Tôi được ơn tha thứ. Nên tôi rao giảng về sự tha thứ. Tôi làm chứng đạo Chúa có đặc điểm là tha thứ.

4. Tôi xác tín mình là kẻ có rất nhiều giới hạn trong mọi lãnh vực, rất cần khiêm tốn tìm hiểu, lắng nghe và cộng tác với nhiều người.

Kinh nghiệm cho tôi thấy: không gì hại cho tôi bằng sự tôi nghĩ mình phải làm đủ mọi sự, và có thể làm được mọi sự. Kinh nghiệm cũng cho tôi thấy là: Không gì dại khờ cho tôi bằng sự tôi cho rằng mình phải làm được điều gì đặc biệt, khác với các Giám mục, và linh mục tại Việt Nam hôm nay.

5. Tôi vững tin rằng: Chúa chỉ đòi tôi một điều là: Hãy kết hợp mật thiết với Chúa, rồi ơn Chúa sẽ dẫn đưa tôi làm những gì Chúa muốn, theo khả năng bé nhỏ của tôi. “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa quả, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).

6. Tôi xác tín mình được gọi tham dự vào thánh giá Chúa, để góp phần vào việc cứu các linh hồn.

Rất nhiều khi, tôi đã nghĩ rằng: Đau khổ tôi chịu là do tội lỗi của tôi, và là con đường giúp tôi nên thánh. Nhưng dần dần, tôi xác tín: Đau khổ là một ơn gọi Chúa dành cho tôi, để tôi được góp phần vào việc cứu các linh hồn.

7. “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người” (Mc 19,45). “Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,15).

8. Càng ngày, những lời Chúa phán trên đây càng làm cho tôi xác tín về sự tôi chịu đau khổ là để đáp lại ơn gọi Chúa dành cho tôi. Đau khổ gắn liền với mục vụ, đau khổ là một cách cứu độ, đau khổ là để hiệp thông với thánh giá Chúa.

Đau khổ là một ơn gọi, là đau khổ ấy đến từ nhiều phía. Rất có thể đến từ phía cộng đoàn của tôi, do những chống đối, những xa cách, những hiểu lầm, những ghen tương, vv...

Tôi phải sẵn sàng đón nhận. Rất có thể đau khổ đến từ những chuyển biến bất ngờ đòi tôi phải từ bỏ chương trình có sẵn, để bắt đầu lại.

Rất có thể đau khổ đến từ phía những văn hoá mới có vẻ bình thường hoá những tội lỗi và căn cứ vào ý kiến số đông như thước đo đạo đức. Những trường hợp như thế, tôi sẽ rất cô đơn và đau khổ.

Rất có thể đau khổ của tôi lại là những đau khổ của người khác. Khổ cái khổ của đồng bào tôi. Đau cái đau của Hội Thánh tôi.

9. Tôi xác tín là cuộc sống của tôi rất mong manh, tôi ra đi bất cứ lúc nào, tôi phải sẵn sàng ra trước mặt Chúa với niềm phó thác tuyệt đối vào lòng thương xót Chúa.

Thánh Têrêsa thành Lisieux nói về mình: “Tôi sẽ hiện diện trước Chúa với bàn tay không”. Ngài nhận mình chẳng là gì, chẳng đáng gì, chẳng có gì gọi là công phúc. Ngài chỉ là đứa con bé nhỏ, chỉ tin vào tình yêu Chúa mà thôi.

Tôi sẽ không nói được như thánh nữ. Nhưng tôi sẽ nói với Chúa: Con là kẻ tội lỗi, mang theo nhiều dấu ấn của tội lỗi. Nhưng con tin ở lòng thương xót Chúa. vì Chúa là Chúa của con.

10. Với bốn xác tín trên đây, tôi sống mùa Chay năm nay một cách bình an. Tôi biết sống như thế chính là một sự hoán cải nội tâm, đòi tôi phải rất khiêm nhường vâng phục thánh ý Chúa. Sự vâng phục khiêm nhường đó nhiều khi vượt quá tính cách hợp lý theo cách suy nghĩ của thế gian. Nhưng Chúa Giêsu đã làm. Tôi cũng làm như Chúa Giêsu. Như thế, tôi mới góp phần vào việc cứu nhân loại. Nhân loại hiện nay đang rất cần được cứu. Chỉ Chúa mới cứu được mà thôi.

+ GB. Bùi Tuần

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2015

Hằng ngày tôi gặp Chúa Giêsu

Hằng ngày tôi gặp Chúa Giêsu
Qua những gặp gỡ với Chúa Giêsu, tôi được Người cho thấy là Hội Thánh đang đi vào một giai đoạn rất khó khăn, cuộc chiến giữa thiện và ác sẽ rất khốc liệt, lực lượng Satan sẽ rất lộng hành, lôi kéo các linh hồn xuống hoả ngục một cách dã man và dễ dàng, đạo đức sẽ xuống dốc trầm trọng.

1. Tôi đã về hưu. Nhưng tôi vẫn có bổn phận đối với Hội Thánh để lo cho các linh hồn.

Trong tôi, mọi khả năng càng ngày càng yếu đi. Chính vì vậy, càng ngày tôi càng cảm thấy mình cần phải gần gũi với Chúa Giêsu, xin Người ban cho tôi niềm vui và hy vọng, để có thể lo được chút gì cho các linh hồn, dù chỉ là một chút rất bé nhỏ.

2. Mỗi buổi sáng, tôi thường hôn tượng Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá. Tôi nói với Người: Này con đây. Chúa muốn con làm gì? Bao giờ cũng thế, tôi được nghe Chúa nhắc lại trong lòng tôi lời Chúa phán xưa: “Ta hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11.16.17.18).

3. Cùng với lời đó, Chúa đốt lên trong lòng tôi niềm khao cứu các linh hồn bằng thánh giá tượng trưng cho tình yêu và hy sinh. Niềm khao khát đó được đốt lên rất mạnh trong thời gian tôi chịu bí tích Thánh Thể.

4. Thế rồi, Chúa sai tôi đi. Tôi không đi được bằng chân, bởi vì tôi cũng như bị đóng đinh vào một chỗ, do bệnh tật già yếu. Nhưng tôi đi bằng tâm hồn, qua thời sự.

5. Tâm hồn tôi đi gần, tới xa. Đâu đâu tôi cũng thấy những cảnh đau lòng. Nhiều cảnh rất đau lòng xảy ra trong đời sống vật chất, trong đời sống tinh thần, trong đời sống tâm linh.

Những cuộc sống như thế cần được cứu. Tôi nhận ra Chúa Giêsu đang cứu họ qua những người Chúa chọn.

6. Chúa cho thấy đặc điểm của những người được Chúa chọn đang cộng tác với Chúa trong việc cứu các linh hồn tại Việt Nam hiện nay là:

- Họ khao khát cứu các linh hồn.

- Họ yêu thương và hy sinh.

7. Về đặc điểm thứ nhất là khao khát cứu các linh hồn, thì tôi được một chút kinh nghiệm như sau:

Khi hôn Chúa Giêsu chịu đóng đinh, tôi được Chúa Giêsu chia sẻ cho sự khao khát, mà Người kêu lên trên thánh giá xưa: “Tôi khát” (Ga 19,28).

Người khát các linh hồn. Nỗi khao khát đó chính là một thương tích sâu sắc nhất trong trái tim Người. Trong chốc lát, tôi hiểu khao khát các linh hồn là “muốn cho mọi người được cứu độ và biết chân lý” (1 Tm 2,3). Muốn cứu độ, tôi xác tín là phải cứu con người khỏi mọi lầm than, đặc biệt là cứu khỏi tội, khỏi lửa hoả ngục, để họ được phúc thiên đàng đời đời.

Một khao khát như trên chỉ do Chúa chia sẻ cho từ trái tim của Người, chứ không do lý luận, thảo luận. Chúa chia sẻ cho những kẻ bé mọn. Tôi thấy những kẻ bé mọn được Chúa chia sẻ cho nỗi khao khát của Chúa đang sống rải rác khắp nơi trong Hội Thánh Việt Nam hôm nay. Tôi học được rất nhiều ở họ.

8. Về đặc điểm thứ hai là yêu thương và hy sinh, thì tôi cũng được một chút kinh nghiệm như sau:

Yêu thương và hy sinh mà Chúa Giêsu chia sẻ cho tôi, được tôi cảm nghiệm như là một sự tôi được Chúa thu hút về với tình yêu Chúa trong sự vâng phục thánh ý Chúa.

Thu hút đó là một sự hiện diện dịu dàng của Chúa tình yêu, là một việc làm chọn lựa của Chúa tình yêu. Tôi nhận được sự Chúa thu hút, đó chính là yêu thương, mà tôi cảm nhận.

Yêu thương như vậy, đòi vâng phục thánh ý Chúa trong mọi nơi mọi lúc. Vâng phục ý Chúa sẽ phải từ bỏ ý riêng mình, và đó chính là hy sinh, một thứ hy sinh cũng đem lại niềm vui như yêu thương.

Tôi đang thấy đặc điểm yêu thương và hy sinh, như vừa tả, nơi nhiều người trong Hội Thánh Việt Nam hôm nay. Họ âm thầm. Họ có mặt trong mọi giới. Tôi học được rất nhiều điều nơi họ. Một điều rất quý, tôi học được nơi họ là sự tế nhị.

Sự tế nhị là kết quả của yêu thương và hy sinh.

9. Mỗi tối, trước khi ngủ, tôi lại hôn tượng Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá. Tôi thưa với Người: “Lạy Chúa, này con đây, Chúa muốn con làm gì?”. Hầu như lần nào cũng vậy, Chúa Giêsu lại âu yếm nói với tôi: “Con hãy bắt đầu lại”.

Với lời đó Chúa dạy tôi một sự thực rất cần cho tôi, đó là tôi còn rất bất toàn, còn rất nhiều điều phải học. Với sự thực đó, tôi nhận ra điều này, đó là: Con đường tôi đi sẽ không luôn luôn suôn sẻ. Chính tôi cũng không luôn luôn an ổn. Tôi cần phải bám chặt vào Chúa. Sẽ có lúc, tôi sẽ như đi trong đêm, trên đầu là núi, dưới chân là vực thẳm, trước mắt là sông lớn. Sẽ chẳng còn nhìn thấy ai. Tôi sẽ rất cô đơn. Tôi không tránh được sợ hãi. Một điều, và chỉ một điều tôi cần phải có trong hoàn cảnh như thế, đó là cậy tin phó thác vào Chúa. Một cách tuyệt đối. Một cách triệt để. Một cách kiên trì.

10. Một phút trước khi ngủ, tôi lại hôn tượng Chúa chịu đóng đinh. Tôi nói với Người: “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Thế rồi, tôi ngủ trong tâm hồn phó thác.

Khi ngủ, tôi thường gặp Chúa Giêsu trong tiềm thức và vô thức. Như vậy, có thể nói: Chúa Giêsu là Đấng tôi gặp suốt ngày suốt đêm. Nhờ vậy, tôi được cùng với Người, góp phần vào việc lo cứu các linh hồn theo khả năng bé mọn của tôi.

11. Dần dần, tôi khám phá thấy Tin Mừng là chính Chúa Giêsu. Người cứu tôi, và dùng tôi để cứu người khác. Trong suốt con đường cứu chuộc, Người đã bước xuống, đã cúi xuống, đã quỳ xuống. Tình yêu của Người là những hy sinh tự hạ dành cho những kẻ yếu hèn tội lỗi.

Suốt đời này và mãi mãi đời sau, tôi sẽ ca tụng Người, và làm chứng về Người, dù chỉ được vài người nghe và tin vào những gì tôi làm chứng về Người, tôi vẫn cho đó là một niềm vui và một niềm hy vọng.

Bởi vì chính Chúa Giêsu thực là hy vọng và là niềm vui của tôi. Chính Người là: “Đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Chính nhờ Người, với Người và trong Người, mà tôi yêu thương đồng bào của tôi, phục vụ Đất Nước của tôi, gắn bóvới Hội Thánh của tôi.

12. Qua những gặp gỡ với Chúa Giêsu, tôi được Người cho thấy là Hội Thánh đang đi vào một giai đoạn rất khó khăn, cuộc chiến giữa thiện và ác sẽ rất khốc liệt, lực lượng Satan sẽ rất lộng hành, lôi kéo các linh hồn xuống hoả ngục một cách dã man và dễ dàng, đạo đức sẽ xuống dốc trầm trọng. Vì thế, hãy mau trở về với Chúa, bằng con đường Tin Mừng là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Người là “cửa chuồng chiên” (Ga 10,7). Không qua cửa đó mà vào chuồng chiên chính là trộm cướp (x. Ga 10,1).

Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con.

+ GB. Bùi Tuần

Thứ Tư, 7 tháng 1, 2015

+ GB. Bùi Tuần: Lo cứu những con người

LO CỨU NHỮNG CON NGƯỜI (+ GB. Bùi Tuần)

Trong mấy ngày nay, tôi được hạnh phúc sống thân mật với Chúa Giêsu một cách hơn thường. Chính nhờ Người, với Người và trong Người. Tôi xin cảm tạ Người đã đến với tôi, trong hoàn cảnh tôi cảm thấy mình rất tồi tệ.
Trong những khoảnh khắc thân mật ấy, tôi đã gọi Chúa Giêsu bằng nhiều tước hiệu khác nhau, như Ngôi Hai nhập thể, Chúa chiên lành, Vua vũ trụ, vv... Nhưng sau đó, Chúa Giêsu dạy tôi là Người muốn tôi cứ gọi Người là Đấng Cứu Thế.
2.
Từ tên gọi đó, Chúa Giêsu đã dạy tôi điều này: Sống thân mật với Người, thì hãy cùng với Người lo cứu thế gian.
Cứu thế gian là công việc quá lớn. Tôi rất yếu đuối. Nhất là lúc này, yếu đuối của tôi đang trở thành nỗi nguy. Tôi trình bày với Chúa như vậy. Nhưng Chúa trấn an tôi, bằng cách Người bảo tôi hãy nhìn vào thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu.
Tôi xin vâng. Ngay cạnh tôi là mấy cuốn sách ghi lại tư tưởng và cuộc sống người nữ tu dòng Kín thành Lisieux. Tôi đọc lại. Tôi thấy người nữ tu trẻ ấy đã dạy tôi cách cứu thế gian ngay trong cuộc sống âm thầm thường ngày với đời tu nhiệm nhặt. Tôi xin ghi lại vài nét chính rất gợi ý cho tôi.
3.
Thánh nữ đưa ra một chuyện biến ngôn. Có một vị lãnh chúa muốn xây một thánh đường nguy nga dâng kính Thiên Chúa. Ông ra sắc lệnh, kêu gọi những ai có của phải góp phần vào. Từ khắp nơi, đoàn ngựa kế tiếp nhau chở vật tư đến nơi xây cất. Các chủ vật tư đều là những người giàu có. Đang khi đó, một người đàn bà rất nghèo cũng muốn dâng cúng. Nhưng bà chỉ đủ tiền mua một sọt cỏ. Bà đưa cỏ cho mấy con ngựa chở vật tư ăn. Khi thánh đường được xây cất xong, vị lãnh chúa truyền ghi trên tấm bảng tên của mình và của các ân nhân, được gắn vào tường thánh đường. Nhưng, qua một đêm, trên tấm bảng đó các tên đã ghi đều bị xoá, và thay vào đó là tên một người đàn bà vô danh. Vị lãnh chúa phẫn nộ, truyền làm lại tấm bảng. Nhưng đêm sau, các tên trên bảng lại bị xoá, và lại ghi tên một người đàn bà vô danh. Ông liền điều tra. Sau cùng, ông được gặp người đàn bà nghèo đó. Bà nói thật bà chỉ cho ngựa ăn mớ cỏ, mà bà đã bỏ hết tiền của bà ra để mua. Vị lãnh chúa hiểu trước mặt Chúa bà là người có nhiều công nhất.
Từ chuyện biến ngôn trên đây, thánh nữ Têrêsa nghĩ về chính mình. Trong việc xây dựng Hội Thánh, ngài sẽ chỉ làm những việc bé nhỏ, âm thầm, nhưng tin chắc Chúa sẽ căn cứ vào tình yêu hơn là việc làm.
Bài học trên đây rất dễ hiểu. Tôi áp dụng cho tôi. Tôi sẽ chỉ đủ sức làm những việc nhỏ. Nhưng tôi đem tất cả tình yêu của tôi vào những việc nhỏ đó. Chúa sẽ thương nhận, để góp phần xây dựng Hội Thánh, và cứu các linh hồn. Xin hết lòng tạ ơn Chúa đã ban cho tôi một trái tim biết yêu thương.
4.
Về việc cứu các linh hồn, thì thánh nữ Têrêsa đã cho tôi một bài học cũng dễ hiểu. Có lần ngài đã nói với các em đệ tử của ngài: “Nếu chị phải ở luyện tội cho đến tận thế, để cầu nguyện, chỉ để cứu lấy một linh hồn mà thôi, thì hãy để mặc chị”.
Qua lời nói trên đây, thánh nữ cho thấy ngài rất quên mình để cứu các linh hồn. Yêu thương và hy sinh chịu đau khổ, để cứu các linh hồn, đó là niềm vui ngài muốn dâng lên Chúa.
Một nữ tu trẻ dòng Kín có được một khao khát cứu các linh hồn như thế, quả là một tiếng Chúa đánh thức lương tâm tôi. Tôi có nhiều cách để tránh né tiếng gọi đó. Nhưng nếu làm thế, tôi sẽ chỉ chuốc khổ vào thân. Tôi sẽ chẳng cứu được ai, và cũng chẳng cứu được chính mình. Tôi cảm tạ Chúa đã cho tôi nghị lực để dấn thân cứu các linh hồn bằng cầu nguyện và hy sinh âm thầm trong chính hoàn cảnh già yếu hiện giờ của tôi.
5.
Trong một lá thư gởi chi Céline, thánh nữ Têrêsa đã viết: “Chúng ta hãy sống cho các linh hồn nhất là hãy cứu linh hồn các linh mục. Bởi vì có những linh mục xấu. Hãy chịu hy sinh cho các ngài. Đến ngày tận thế, Chúa Giêsu sẽ biết ơn chúng ta về việc đó”. Đọc đoạn thư trên đây, tôi rất xúc động. Tôi nghĩ là đã có nhiều người cầu nguyện cho tôi được trở nên đạo đức theo thánh ý Chúa. Riêng tôi rất xác tín là việc quên mình để cứu các linh mục là điều quan trọng và khẩn thiết Chúa chờ đợi mỗi người chúng ta. Có những linh mục xấu, nữ tu Têrêsa dám nói như thế, chỉ vì thương, chứ không vì khinh.
6.
Càng về cuối đời, thánh nữ Têrêsa càng nói nhiều tới sự phải từ bỏ mọi sự và từ bỏ chính mình, để yêu thương và hy sinh cho các linh hồn. Ngài không ngại tỏ lộ các thứ khổ đau ngài phải chịu.
7.
Tuy nhiên, có một điều tôi lấy làm lạ, đó là thánh nữ xem ra khắc khổ, nhưng lại rất dễ thương. Chính vì ngài sống theo tinh thần thơ ấu thiêng liêng. Khi hành hương ở Lisieux, tôi cảm thấy rất rõ vẻ đẹp dễ thương của thánh nữ toả ra khắp nơi.
Tôi sực nhớ lại đoạn Phúc Âm sau đây của thánh Luca: “Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giêsu hớn hở vui mừng và nói: ‘Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín, không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha’” (Lc 10,21).
8.
Một thoáng nhìn trên đây về thánh nữ Têrêsa thành Lisieux đã đưa tôi đến kết luận này: Nhiều người bé mọn đã cứu được các linh hồn một cách hiệu quả. Chính các linh mục cũng cần đến những người bé mọn, để có thể trở về với Chúa. Chính tôi cũng đã được họ cứu.
Tôi xin tận tình cảm ơn họ.
9.
Tôi xin Chúa cho tôi luôn biết sống bé mọn, và luôn biết cậy nhờ đến những kẻ bé mọn. Đó là cách cứu các linh hồn, rất hợp với tôi, nhất là lúc này, trong hoàn cảnh tuổi già sức yếu. Thiết tưởng, đó cũng là cách, chính Chúa nhắn gởi tất cả những môn đệ Chúa, bất cứ họ là ai đang sống trên Quê Hương Việt Nam lúc này.
Truyền giáo trên đất nước Việt Nam này trong hoàn cảnh hiện nay không thể coi thường mô hình thánh nữ Têrêsa thành Lisieux. Tôi tin chắc như vậy. Tòa Thánh cũng đang nhắc cho tôi điều đó.
Lạy Chúa, con xin hết lòng cảm tạ Chúa đã dạy con bổn phận và cách cứu các linh hồn. Xin Chúa thương giúp con biết kiên trì thực hiện những điều Chúa đã dạy con.
Long Xuyên, ngày 6.1.2015.

Thứ Tư, 31 tháng 12, 2014

ĐC Bùi Tuần: Giới thiệu Tin Mừng bằng chính đời sống mình

GIỚI THIỆU TIN MỪNG BẰNG CHÍNH ĐỜI SỐNG MÌNH
1. Nhìn vào Chúa Hài Đồng trong máng cỏ Belem, tôi thấy Ngôi Lời giáng sinh trong thân phận con người khó nghèo, khiêm tốn, bé nhỏ.

Sau này, khi rao giảng, Chúa Giêsu vẫn đề cao người khiêm tốn, nghèo khó, và những ai sống tinh thần thơ ấu như trẻ nhỏ. Đời sống như thế của Chúa Giêsu là một lựa chọn.

Lời giảng như thế của Chúa cũng là một lựa chọn. Thế thì người môn đệ tin theo Chúa sẽ an tâm, khi chọn lựa điều chính Chúa đã chọn lựa.

2. Nhân dịp Năm Đức Tin, chọn lựa đó kêu gọi tôi điều chỉnh lại cách tôi sống Tin Mừng và truyền bá Tin Mừng.

Tại Belem, Chúa Giêsu giới thiệu Tin Mừng bằng chính bản thân mình. Chính Người đã không nói gì, đã không làm gì. Người muốn mọi người nhìn thấy Tin Mừng, đọc được Tin Mừng và gặp được Tin Mừng nơi chính Người trong thân phận bé nhỏ, nghèo khó, khiêm nhường, chỉ vì yêu thương.

Giới thiệu Tin Mừng bằng chính bản thân mình như thế chính là một hy sinh cao cả. Với sự hy sinh đó, Chúa Giêsu đã là một của lễ đền tội dâng lên Chúa Cha ngay từ phút đầu của cuộc đời trần thế.

Cách giới thiệu Tin Mừng đó khởi sự từ hang đá Belem vẫn được tiếp tục suốt cuộc đời trần gian của Chúa Cứu Thế. Thực sự, Chúa Cứu Thế đã giảng dạy, và đã làm nhiều phép lạ. Nhưng tất cả những hoạt động đó chỉ để củng cố thêm cho cách giới thiệu Tin Mừng bằng chính đời sống. Cách sống mới là phương tiện chủ yếu để giới thiệu Tin Mừng.

3. Với lối sống khó nghèo, khiêm tốn, bé nhỏ, Chúa Giêsu đã rất gần gũi với dân chúng. Đặc biệt là, với lối sống ấy, Chúa Giêsu đã hoà mình vào lớp người đau khổ, tội lỗi, bần cùng. Gần gũi của Người, hoà mình của Người là để yêu thương họ và để cứu họ, đem lại cho họ niềm hy vọng về một tương lai tốt đẹp, nhất là tương lai đời đời.

4. Yêu thương của Chúa Cứu Thế trong lối sống gần gũi và hoà mình được thực hiện bằng những việc tốt nhỏ thường ngày, khuyến khích con người làm những việc tốt nhỏ thường ngày.

Việc tốt nhỏ mà thiết thực, cụ thể, đáp ứng đúng nhu cầu, làm đúng lúc, bằng đúng việc, với đúng cách. Nghĩa là yêu thương rất sát với thực tế cuộc sống.

Việc tốt nhỏ như thế, mà Chúa Cứu Thế khích lệ, xem ra thích hợp cho mọi người, kể cả những người dốt nát, túng nghèo.

5. Một thoáng nhìn trên đây về cách Chúa Giêsu đã giới thiệu Tin Mừng tại hang đá Belem và suốt cuộc đời của Người, khiến tôi giật mình, khi nhìn vào cách giới thiệu Tin Mừng của nhiều môn đệ Chúa, trong đó có tôi.

Thực vậy, nhiều người môn đệ Chúa đã rất nhiệt tình giới thiệu Tin Mừng bằng nhiều hoạt động, bằng nhiều lời nói, bằng nhiều chiến đấu. Nhưng chẳng may lại không để ý đến việc giới thiệu Tin Mừng bằng chính đời sống của mình. 

Có thể là chúng tôi cũng đưa ra lối sống của mình để giới thiệu Tin Mừng. Nhưng lối sống đó có thể rất khác với lối sống của Chúa Giêsu. Khác về nội dung bên trong đã là điều đáng tiếc. Phương chi còn khác cả về hình thức bên ngoài, thì đó là điều tệ hại.

Thực sự tệ hại đó đang xuất hiện nơi những nhóm người công giáo tự xưng là hiện đại, với chủ trương sống hưởng thụ, buông thả, chế nhạo những ai còn trung thành với con đường hẹp của Chúa Giêsu.

6. Nhận mình sai là điều không dễ. Sửa mình sai càng không dễ chút nào.

Nhiều khi, vì yêu thương, Chúa để xảy ra những biến cố gây nên đau đớn, người ta không còn gì để bám, mới biết tỉnh ngộ.

Tôi mong những biến cố như thế đừng xảy ra cho chúng ta. Nhưng Năm Đức Tin vẫn là thời gian thuận lợi, để chúng ta sửa mình về lối sống phản ngược lại lối sống của Chúa Cứu Thế. Chúa kêu gọi mọi người chúng ta hãy giới thiệu Tin Mừng bằng chính đời sống khiêm nhường, tinh thần nghèo khó, bé nhỏ vì yêu thương phục vụ.

Tôi chắc chắn đồng bào Việt Nam chúng ta rất muốn được nhìn thấy dung mạo của Chúa Cứu Thế qua lối sống của các môn đệ Chúa. Trái lại họ dễ dị ứng với những lối sống đạo đề cao cái tôi tự cao tự đắc với quyền lực và của cải, đồng thời với thái độ khinh chê và loại trừ những ai không nhiệt tình như mình.

Thiết tưởng sẽ không dư thừa, nếu đề cập đến vấn đề này là: Khi phải giới thiệu Tin Mừng bằng lời nói, chúng ta nên dùng những cách nói đơn sơ, dễ hiểu theo gương Chúa Cứu Thế. Chứ đừng đưa ra những cách nói nặng về lý thuyết cao siêu, mà cả đến những người mộ đạo cũng tưởng đó chỉ là một cách trốn tránh trách nhiệm thực tế mà Tin Mừng đòi hỏi.

Rất mừng là tại Việt Nam hôm nay, vẫn có những người đang như Đức Mẹ Maria và thánh Giuse, giới thiệu Tin Mừng bằng lối sống theo gương Chúa Cứu Thế.

Càng rất mừng là tại Việt Nam hôm nay cũng không thiếu người đang như các mục đồng xưa, giới thiệu Tin Mừng bằng lối sống rất đơn sơ, hồn nhiên, tìm đến với Chúa Cứu Thế, và nhận Chúa qua dung mạo khó nghèo, khiêm nhường, bé nhỏ của Chúa.

Với tâm tình cảm tạ Chúa, tôi nhìn những người trên đây như những tia sáng của Ngôi Sao Sinh Nhật, báo hiệu Chúa Cứu Thế đang hiện diện trên Quê Hương Việt Nam yêu dấu này.

Với vài suy nghĩ trên đây, tôi xin thân ái cầu chúc anh chị em một Lễ Giáng Sinh vui tươi. Xin cũng thương cầu nguyện cho tôi với.

Ðức Cha J.B. Bùi Tuần

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

ĐGM Bùi Tuần: Sự cứng lòng và mù quáng đang xảy ra kể cả nơi một số người có trách nhiệm trong Hội Thánh

Sống đức tin _ bất ổn và bất ngờ

NHỮNG BẤT ỔN VÀ NHỮNG BẤT NGỜ

Hình như biến cố đớn đau đã bắt đầu rồi, đó là sự cứng lòng và mù quáng đang xảy ra nơi nhiều người, kể cả nơi một số người có trách nhiệm trong Hội Thánh Việt Nam lúc này. 
ĐGM. GB Bùi Tuần

1. Từ ít lâu nay, mỗi tối, khi lên giường ngủ, tôi lại tự nghĩ: không biết sáng mai mình còn thức dậy không? Tôi đã nghĩ như vậy, là vì sức khỏe của tôi rất bất ổn, cho nên mọi thứ bất ngờ thuộc về sự chết đều có thể xảy ra cho tôi. Tôi không bi quan, nhưng tôi chuẩn bị cho những bất ngờ một cách bĩnh tĩnh bằng đức tin.
Kinh nghiệm sống động trên đây của bản thân giúp tôi nhìn lịch sử một cách tỉnh thức hơn
2. Ở đâu, cuộc sống con người có những bất ổn nặng nề kéo dài về nhiều mặt, do đó lòng người cũng bất an dưới nhiều hình thức và nhiều mức độ, thìnhững bất ngờ sẽ xảy ra. Thường những bất ngờ đó sẽ gây nên tang tóc. Đó là về mặt xã hội.
3. Ở đâu, cuộc sống có vẻ ổn định theo cái nhìn của nhiều người, nhưng trước mặt Chúa lại là rất bất ổn, do tội lỗi lộng hành, thì những bất ngờ sẽ xảy ra. Những bất ngờ đó thường là những sụp đổ, những tàn phá, như những hình phạt, gây nên đau đớn kinh hoàng. Chúa đã báo trước, nhưng người ta không tin. Nên kết quả sẽ rất thảm hại.
4. Ở đây, suy nghĩ của tôi xin được giới hạn trong lĩnh vực đức tin.
Về những hình phạt khủng khiếp sẽ xảy ra bất ngờ ngay tại đời này cho những người theo đạo Chúa, thì tôi thường suy gẫm hai đoạn Phúc âm sau đây.
5. Đoạn Phúc âm thứ nhất là của Thánh Luca:
Khi đến gần Giêrusalem và trông thấy thành, Ðức Giêsu khóc thương mà nói: "Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! "Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được. Thật vậy, sẽ tới những ngày quân thù đắp luỹ chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái đang ở giữa ngươi, và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm". (Lc 19, 41-44)
6. Đoạn Phúc âm thứ hai là của Thánh Matthêu:
"Giêrusalem, Giêrusalem! Ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi! Ðã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu. (38) Thì này, nhà các ngươi sẽ bị bỏ hoang mặc cho các ngươi. (39) Thật vậy, Ta nói cho các ngươi hay, từ nay các ngươi sẽ không thấy Ta nữa, cho đến khi các ngươi nói:
Chúc tụng Ðấng ngự đến nhân danh Ðức Chúa!" (Mt 23, 37-39)
7. Trong cả hai đoạn Phúc âm trên đây, Chúa Giêsu đều nói đến hình phạt nặng nề sẽ xảy ra cho Giêrusalem ngay ở đời này, vì tội thành này đã phạm tới các tiên tri, phạm đến chính Chúa Giêsu và không biết đón nhận ơn Chúa.
Nghĩa là những bất ổn do tội lỗi trước mặt Chúa đã xảy ra trước. Sau đó sẽ là những hình phạt đổ xuống bất ngờ một cách khủng khiếp.
8. Những gì Chúa Giêsu đã nói về thành Giêrusalem đều đã xảy ra. Từ đó, tôi nghĩ về Hội Thánh tại Việt Nam nói chung và từng giáo phận, giáo xứ tại Việt Nam nói riêng.
Tôi thấy tình hình bất ổn do tội lỗi đang là một sự thực hiển nhiên ở nhiều nơi. Cũng có những ổn định, nhưng là ổn định giả tạo. Có những trấn an: “mọi sự đều tốt đẹp, không sao đâu”. Nhưng đó là những trấn an ru ngủ trên những thành công giả tạo, mà trong Phúc âm, Chúa đã khẳng định: “chúng bay đã được thưởng công rồi” (Mt 6, 2.5.16), hoặc: “ Ta không biết các ngươi” (Ga 7,23).
9. Nếu phải nêu lên những gì đang gây nên bất ổn nguy hiểm trong Hội Thánh, làm nên tội lỗi, thì tôi xin được nêu lên hai ý kiến sau đây.
10. Ý kiến thứ nhất là của Đức Hồng Y Roger Etchegary. Theo ngài, thì có ba bất ổn lớn hiện nay, đó là ba ưu tiên xấu sau đây trong Hội Thánh:
Ham tiền bạc,
Ham thành công,
Ham thỏa hiệp với các vị thần có quyền lực và giàu có.
(Xem L’homme, à quel prix. 2012)
11. Ý kiến thứ hai là của Đức Cha Michel Dubost. Ngài dựa trên Công đồng Vatican II. Theo ngài, thì có hai bất ổn rất lớn trong Hội Thánh hiện nay.
Một là thiếu thiện chí và thiếu khả năng chia sẻ trong tình liên đới những gì đang xảy ra trong lòng những người nghèo khổ, cùng với niềm vui và hy vọng của họ.
Hai là thiếu sự cố gắng đổi mới trái tim con người là nơi không những xảy ra những buồn vui và hy vọng, mà cũng có những dấu vết của tiếng Chúa gọi. ( Xem Une foi qui agit. 2013)
12. Chỉ dựa vào những ý kiến có thế giá trên đây mà thôi, để nhìn vào Hội Thánh Việt Nam hiện giờ, tôi cũng thấy tình hình đó đây rõ ràng là bất ổn. Những bất ổn đó đang làm biến chất đạo Chúa. Biến chất càng trở thành trầm trọng, khi thấy các phong trào xấu đang mạnh lên, tràn vào Hội Thánh, như phong trào tục hóa, phong trào hưởng thụ, phong trào tự do quá trớn, phong trào phản kháng cực đoan,vv.
Vậy, nếu những bất ổn hiện nay trong Hội Thánh Việt Nam đang trở nên nặng nề và nguy hiểm, không dừng lại được, thì sẽ có những bất ngờ xảy ra. Tôi nghĩ tới những biến cố đớn đau.
13. Hình như biến cố đớn đau đã bắt đầu rồi, đó là sự cứng lòng và mù quáng đang xảy ra nơi nhiều người, kể cả nơi một số người có trách nhiệm trong Hội Thánh Việt Nam lúc này. Đó chỉ là khởi đầu. Vì thế, mà tôi lo sợ.
14. Tuy tôi lo sợ, nhưng vẫn tin tưởng vững vàng ở Chúa. Chúa hứa: “ Cha sẽ ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
Tôi xin làm chứng về điều hứa trên đây của Chúa Giêsu. Tôi thực sự được Chúa ở với tôi mọi ngày, mọi giờ, mọi phút. Tôi được Chúa chia sẻ, được Chúa cứu, được Chúa yêu thương, được Chúa đỡ nâng dắt dìu trong mọi hoàn cảnh. Tôi xin hết lòng cảm tạ Chúa. Cảm tạ của tôi ở trong sự khiêm nhường dấn thân của Đức Mẹ. Cảm tạ của tôi ở trong sự tỉnh thức sâu thẳm của Thánh Giuse.
Lạy Chúa, bất ngờ lớn nhất đối với con là tình yêu thương xót Chúa.
Long Xuyên 27.11.2014