Hiển thị các bài đăng có nhãn Hội Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hội Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2015

Hằng ngày tôi gặp Chúa Giêsu

Hằng ngày tôi gặp Chúa Giêsu
Qua những gặp gỡ với Chúa Giêsu, tôi được Người cho thấy là Hội Thánh đang đi vào một giai đoạn rất khó khăn, cuộc chiến giữa thiện và ác sẽ rất khốc liệt, lực lượng Satan sẽ rất lộng hành, lôi kéo các linh hồn xuống hoả ngục một cách dã man và dễ dàng, đạo đức sẽ xuống dốc trầm trọng.

1. Tôi đã về hưu. Nhưng tôi vẫn có bổn phận đối với Hội Thánh để lo cho các linh hồn.

Trong tôi, mọi khả năng càng ngày càng yếu đi. Chính vì vậy, càng ngày tôi càng cảm thấy mình cần phải gần gũi với Chúa Giêsu, xin Người ban cho tôi niềm vui và hy vọng, để có thể lo được chút gì cho các linh hồn, dù chỉ là một chút rất bé nhỏ.

2. Mỗi buổi sáng, tôi thường hôn tượng Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá. Tôi nói với Người: Này con đây. Chúa muốn con làm gì? Bao giờ cũng thế, tôi được nghe Chúa nhắc lại trong lòng tôi lời Chúa phán xưa: “Ta hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11.16.17.18).

3. Cùng với lời đó, Chúa đốt lên trong lòng tôi niềm khao cứu các linh hồn bằng thánh giá tượng trưng cho tình yêu và hy sinh. Niềm khao khát đó được đốt lên rất mạnh trong thời gian tôi chịu bí tích Thánh Thể.

4. Thế rồi, Chúa sai tôi đi. Tôi không đi được bằng chân, bởi vì tôi cũng như bị đóng đinh vào một chỗ, do bệnh tật già yếu. Nhưng tôi đi bằng tâm hồn, qua thời sự.

5. Tâm hồn tôi đi gần, tới xa. Đâu đâu tôi cũng thấy những cảnh đau lòng. Nhiều cảnh rất đau lòng xảy ra trong đời sống vật chất, trong đời sống tinh thần, trong đời sống tâm linh.

Những cuộc sống như thế cần được cứu. Tôi nhận ra Chúa Giêsu đang cứu họ qua những người Chúa chọn.

6. Chúa cho thấy đặc điểm của những người được Chúa chọn đang cộng tác với Chúa trong việc cứu các linh hồn tại Việt Nam hiện nay là:

- Họ khao khát cứu các linh hồn.

- Họ yêu thương và hy sinh.

7. Về đặc điểm thứ nhất là khao khát cứu các linh hồn, thì tôi được một chút kinh nghiệm như sau:

Khi hôn Chúa Giêsu chịu đóng đinh, tôi được Chúa Giêsu chia sẻ cho sự khao khát, mà Người kêu lên trên thánh giá xưa: “Tôi khát” (Ga 19,28).

Người khát các linh hồn. Nỗi khao khát đó chính là một thương tích sâu sắc nhất trong trái tim Người. Trong chốc lát, tôi hiểu khao khát các linh hồn là “muốn cho mọi người được cứu độ và biết chân lý” (1 Tm 2,3). Muốn cứu độ, tôi xác tín là phải cứu con người khỏi mọi lầm than, đặc biệt là cứu khỏi tội, khỏi lửa hoả ngục, để họ được phúc thiên đàng đời đời.

Một khao khát như trên chỉ do Chúa chia sẻ cho từ trái tim của Người, chứ không do lý luận, thảo luận. Chúa chia sẻ cho những kẻ bé mọn. Tôi thấy những kẻ bé mọn được Chúa chia sẻ cho nỗi khao khát của Chúa đang sống rải rác khắp nơi trong Hội Thánh Việt Nam hôm nay. Tôi học được rất nhiều ở họ.

8. Về đặc điểm thứ hai là yêu thương và hy sinh, thì tôi cũng được một chút kinh nghiệm như sau:

Yêu thương và hy sinh mà Chúa Giêsu chia sẻ cho tôi, được tôi cảm nghiệm như là một sự tôi được Chúa thu hút về với tình yêu Chúa trong sự vâng phục thánh ý Chúa.

Thu hút đó là một sự hiện diện dịu dàng của Chúa tình yêu, là một việc làm chọn lựa của Chúa tình yêu. Tôi nhận được sự Chúa thu hút, đó chính là yêu thương, mà tôi cảm nhận.

Yêu thương như vậy, đòi vâng phục thánh ý Chúa trong mọi nơi mọi lúc. Vâng phục ý Chúa sẽ phải từ bỏ ý riêng mình, và đó chính là hy sinh, một thứ hy sinh cũng đem lại niềm vui như yêu thương.

Tôi đang thấy đặc điểm yêu thương và hy sinh, như vừa tả, nơi nhiều người trong Hội Thánh Việt Nam hôm nay. Họ âm thầm. Họ có mặt trong mọi giới. Tôi học được rất nhiều điều nơi họ. Một điều rất quý, tôi học được nơi họ là sự tế nhị.

Sự tế nhị là kết quả của yêu thương và hy sinh.

9. Mỗi tối, trước khi ngủ, tôi lại hôn tượng Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá. Tôi thưa với Người: “Lạy Chúa, này con đây, Chúa muốn con làm gì?”. Hầu như lần nào cũng vậy, Chúa Giêsu lại âu yếm nói với tôi: “Con hãy bắt đầu lại”.

Với lời đó Chúa dạy tôi một sự thực rất cần cho tôi, đó là tôi còn rất bất toàn, còn rất nhiều điều phải học. Với sự thực đó, tôi nhận ra điều này, đó là: Con đường tôi đi sẽ không luôn luôn suôn sẻ. Chính tôi cũng không luôn luôn an ổn. Tôi cần phải bám chặt vào Chúa. Sẽ có lúc, tôi sẽ như đi trong đêm, trên đầu là núi, dưới chân là vực thẳm, trước mắt là sông lớn. Sẽ chẳng còn nhìn thấy ai. Tôi sẽ rất cô đơn. Tôi không tránh được sợ hãi. Một điều, và chỉ một điều tôi cần phải có trong hoàn cảnh như thế, đó là cậy tin phó thác vào Chúa. Một cách tuyệt đối. Một cách triệt để. Một cách kiên trì.

10. Một phút trước khi ngủ, tôi lại hôn tượng Chúa chịu đóng đinh. Tôi nói với Người: “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Thế rồi, tôi ngủ trong tâm hồn phó thác.

Khi ngủ, tôi thường gặp Chúa Giêsu trong tiềm thức và vô thức. Như vậy, có thể nói: Chúa Giêsu là Đấng tôi gặp suốt ngày suốt đêm. Nhờ vậy, tôi được cùng với Người, góp phần vào việc lo cứu các linh hồn theo khả năng bé mọn của tôi.

11. Dần dần, tôi khám phá thấy Tin Mừng là chính Chúa Giêsu. Người cứu tôi, và dùng tôi để cứu người khác. Trong suốt con đường cứu chuộc, Người đã bước xuống, đã cúi xuống, đã quỳ xuống. Tình yêu của Người là những hy sinh tự hạ dành cho những kẻ yếu hèn tội lỗi.

Suốt đời này và mãi mãi đời sau, tôi sẽ ca tụng Người, và làm chứng về Người, dù chỉ được vài người nghe và tin vào những gì tôi làm chứng về Người, tôi vẫn cho đó là một niềm vui và một niềm hy vọng.

Bởi vì chính Chúa Giêsu thực là hy vọng và là niềm vui của tôi. Chính Người là: “Đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Chính nhờ Người, với Người và trong Người, mà tôi yêu thương đồng bào của tôi, phục vụ Đất Nước của tôi, gắn bóvới Hội Thánh của tôi.

12. Qua những gặp gỡ với Chúa Giêsu, tôi được Người cho thấy là Hội Thánh đang đi vào một giai đoạn rất khó khăn, cuộc chiến giữa thiện và ác sẽ rất khốc liệt, lực lượng Satan sẽ rất lộng hành, lôi kéo các linh hồn xuống hoả ngục một cách dã man và dễ dàng, đạo đức sẽ xuống dốc trầm trọng. Vì thế, hãy mau trở về với Chúa, bằng con đường Tin Mừng là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Người là “cửa chuồng chiên” (Ga 10,7). Không qua cửa đó mà vào chuồng chiên chính là trộm cướp (x. Ga 10,1).

Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con.

+ GB. Bùi Tuần

Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2014

Gm+Bùi Tuần: Việt Nam hôm nay, những người cầu nguyện kín đáo như Chúa dạy, ngày càng đông

Một Hội Thánh trong kín đáo
“Hãy từ bỏ mình, vác thánh giá mình, mà theo Chúa” (Mt 16,24).


1. Được sống lâu năm trong cảnh âm thầm, tôi dễ nhận ra nhiều ơn Chúa ban cho tôi. Một trong những ơn Chúa ban mà tôi coi là rất trọng, đó là được nhìn thấy rõ hơn một Hội Thánh trong kín đáo.

Một Hội Thánh trong kín đáo gồm những người làm các việc lành một cách kín đáo, và sống mật thiết với Chúa một cách kín đáo. Họ được Chúa yêu thương và khen thưởng. Kín đáo ở đây chính là khiêm nhường.

2. Trước hết, họ là những người cầu nguyện một cách kín đáo theo lời Chúa dạy: “Khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả. Chúng đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ở các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy. Thầy bảo thật anh em: chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh em, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh em, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh em, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh em” (Mt 6,5-6).

3. Tại Việt Nam hôm nay, những người cầu nguyện một cách kín đáo như lời Chúa dạy, càng ngày càng đông. Chúa cho tôi thấy như vậy. Phần đông họ là những người giản dị, nghèo hèn, bệnh nạn, cô đơn, bị ruồng bỏ. Họ là những người có tên trong sổ Rửa tội. Cũng có nhiều người không có tên thánh, nhưng tin vào Chúa và đã cầu nguyện âm thầm với Chúa. Họ đã được Chúa chấp nhận. Họ đang được Chúa yêu thương. Họ sẽ được Chúa ban phúc đời đời, như lời Chúa hứa.

4. Cùng với những người cầu nguyện một cách kín đáo, tôi thấy còn có những người ăn chay một cách kín đáo, như lời Chúa dạy: “Khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả. Chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được thưởng công rồi. Còn anh em, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh em ăn chay, ngoại trừ Cha của anh em, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh em, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh em” (Mt 6,16-17).

5. Xung quanh tôi, ngay lúc này, những người ăn chay một cách kín đáo như lời Chúa dạy, là một số khá đông. Tôi nhìn thấy rõ sự thật đó. Họ thuộc đủ hạng người, thuộc đủ mọi tín ngưỡng. Ăn chay nơi họ không phải chỉ giới hạn trong lãnh vực ăn uống, mà còn trong nhiều lãnh vực khác, như tự hạn chế trong bất cứ những gì gọi là hưởng thụ, và tìm tư lợi. Tôi thấy Chúa ghi tất cả những thứ ăn chay đó của họ, không sót một việc nào, dù rất nhỏ, dù rất âm thầm kín đáo. Và Chúa ban thưởng cho họ một cách rộng rãi, mặc dù kín đáo.

6. Còn một loại người đạo đức kín đáo nữa, đó là những người bố thí một cách kín đáo, như lời Chúa dạy: “Khi bố thí, anh em đừng có khua chiêng đánh trống như bọn đạo đức giả hình thường biểu diễn trong hội đường và ngoài đường phố, cốt để người ta khen. Thật, Thầy bảo thật anh em: chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh em, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh em bố thí được kín đáo. Và Cha của anh em, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh em” (Mt 6,2-4).

7. Hạnh phúc cho tôi, khi đã từ lâu, trong âm thầm, tôi được nhìn thấy những người bố thí một cách kín đáo tại quê hương Việt Nam yêu dấu của tôi. Họ không phải là hiếm. Bố thí của họ gồm nhiều việc lành khác nhau, với mục đích phục vụ, vị tha, trao tặng lặng lẽ.

8. Sống nhiều năm với Hội Thánh kín đáo vừa kể, tôi dần dần khám phá ra vẻ đẹp thiêng liêng của Hội Thánh đó. Vẻ đẹp thiêng liêng, mà tôi gắn bó hơn cả nơi Hội Thánh kín đáo, chính là đời sống thân mật với Cha trên trời, cho dù thân mật một cách kín đáo.

Thực vậy, rất nhiều khi tôi không cầu nguyện, không ăn chay, không bố thí, tôi chỉ sống đơn sơ, trong kỷ luật, làm những việc lành nhỏ dưới cái nhìn của Cha trên trời. Và tôi cảm thấy như thế là rất hạnh phúc. Hạnh phúc kín đáo nhờ đời sống thân mật với Chúa cũng rất kín đáo.

9. Đặc biệt là sự kín đáo, mà tôi được Chúa dạy hãy chú trọng tập trung, đó là làm tốt việc bổn phận. Việc lớn cũng cố làm tốt, việc nhỏ cũng phải làm tốt.

Bổn phận chính của tôi là bổn phận người môn đệ Chúa. Bổn phận đó tóm tắt vào câu: “Hãy từ bỏ mình, vác thánh giá mình, mà theo Chúa” (Mt 16,24). Tôi cố gắng chu toàn bổn phận đó dưới con mắt của Cha trên trời. Thú thực là sự cố gắng chu toàn bổn phận đó đã được nâng đỡ bởi cái nhìn kín đáo của Cha trên trời.

10. Ở đây, tôi phải thú nhận điều này, đó là không những Cha trên trời nhìn tôi với lòng thương xót, mà Người cũng còn soi sáng cho nhiều người thương xót tôi. Thực vậy, họ được Chúa sai đến với tôi, một cách kín đáo, để nâng đỡ tôi một cách kín đáo tế nhị, nhất là khi tôi phải phấn đấu gay gắt lâu dài. Ngoài ra, Cha trên trời cũng còn ban nhiều ơn cho tôi qua các việc xảy ra hằng ngày. Tất cả đều một cách kín đáo và tế nhị.

Do đó, những lựa chọn của tôi cũng thường được thực hiện trong lương tâm tôi một cách kín đáo, chịu trách nhiệm trước Chúa, dưới cái nhìn của Cha trên trời, là Đấng thấu suốt mọi sự trong kín đáo.

Tất cả những gì tôi chia sẻ trên đây đều nhằm mục đích cảm tạ và ca ngợi Cha trên trời, về những việc lạ lùng Cha đã và đang thực hiện trong kín đáo nơi các linh hồn một cách nhiệm mầu.

Lạy Chúa, con xin cảm tạ Chúa đã cho biết bao người được sống thân mật với Chúa, được làm con của Chúa, được chia sẻ sự sống của Chúa là tình yêu vô biên, được tham dự vào chương trình cứu độ của Chúa, được hướng dẫn bởi Thần Linh Chúa. Họ kín đáo, nhưng chính ở sự kín đáo đó, mà họ làm chứng cho Chúa một cách hữu hiệu trên Quê Hương Việt Nam yêu dấu của con hôm nay. Xin Chúa thương luôn đánh thức lương tâm con, để con biết chống lại mọi cám dỗ lôi kéo con vào các hình thức phô trương. Lạy Chúa xin thương xót con.

Long Xuyên, ngày 01.11.2014
+ GB. Bùi Tuần

Thứ Ba, 28 tháng 10, 2014

Các Hồng y viết sách bảo vệ giáo lý Hội Thánh

Các Hồng y viết sách bảo vệ giáo lý Hội Thánh


WHĐ (12.09.2014) – Năm thành viên trong Hồng y đoàn đã viết chung một cuốn sách để bảo vệ giáo lý Hội Thánh liên quan đến người Công giáo ly dị và tái hôn và khằng định rằng giáo lý ấy là thái độ thương xót nhất.
Cuốn sách tiếng Anh có nhan đề “Ở lại trong Sự thật của Chúa Kitô: Hôn nhân và Hiệp thông trong Hội Thánh Công giáo” sẽ được phát hành vào tháng Mười năm nay. Tác phẩm nhằm trả lời cho Đức hồng y Walter Kasper, người đã kêu gọi Giáo hội mở cửa cho phép người Công giáo ly dị và tái hôn được rước lễ.
Theo nhà xuất bản Ignatius Press, để bảo vệ cho giáo lý Hội Thánh hiện nay, cuốn sách sẽ phác hoạ những lập luận cả về Kinh Thánh cũng như như giáo huấn và thực hành của Giáo hội sơ khai.
Trong bản tóm tắt trên trang mạng, nhà xuất bản Ignatius Press giải thích, tác phẩm “duyệt lại lịch sử kéo dài nhiều thế kỷ của việc Hội thánh Công giáo” chống lại việc chấp nhận cho những người Công giáo đã ly dị và tái hôn được rước lễ, và thấy được “những khó khăn nghiêm trọng về mặt thần học và giáo luật vốn có trong thực hành của Giáo hội Chính thống trong quá khứ lẫn hiện tại”.
Các tác giả nhận thấy, “trong cả hai trường hợp này, các học giả kinh thánh hay giáo phụ, đều không tìm thấy sự ủng hộ cho kiểu ‘khoan dung’ đối với hôn nhân dân sự sau khi ly dị mà Đức hồng y Kasper ủng hộ”.
Trong một bài diễn văn dài hai tiếng đồng hồ trước Công nghị Hồng y về gia đình vào tháng Hai vừa qua, Đức hồng y Kasper, nguyên chủ tịch Hội đồng Toà Thánh về Hiệp nhất Kitô giáo, đã bàn về hôn nhân và cuộc sống gia đình; và dành phần cuối của bài diễn văn để nói đến “vấn đề ly dị và tái hôn”.
Trong phần này Đức hồng y Kasper đặt câu hỏi, “phải chăng là điều bóc lột con người?” khi một người đã ly dị và tái hôn bị cấm rước lễ, và ngài gợi ý rằng “đối với mốt số ít người ly dị và tái hôn”, có lẽ có thể cho phép họ lãnh nhận “bí tích giải tội, và sau đó là bí tích Thánh Thể”.
Ngài lặp lại những tình cảm tương tự như trong bài trả lời phỏng vấn tạp chí Commonweal hồi tháng Năm, trong đó ngài nói đến đề nghị cho phép người đã ly dị và tái hôn được rước lễ. Ngài cho rằng các Kitô hữu không được mời gọi trở thành anh hùng vì sống với nhau như anh chị em đã là “một hành động anh hùng, và chủ nghĩa anh hùng không dành cho người Kitô hữu sống làng nhàng”.
Về kết luận được các tác giả đưa ra, Ignatius Press giải thích rằng các nghiên cứu khác nhau được xem xét trong cuốn sách “dẫn đến kết luận rằng lòng trung tín lâu dài của Hội Thánh với sự thật của hôn nhân chính là nền tảng không thể thay đổi của câu trả lời đầy lòng thương xót và yêu thương của Hội Thánh cho những người đã ly dị và tái hôn về mặt dân sự”.
“Vì vậy, quyển sách này phủ nhận ý kiến cho rằng giáo lý Công giáo truyền thống và thực hành mục vụ hiện nay mâu thuẫn với nhau”.
Năm vị hồng y đồng tác giả cuốn sách này là Gerhard Müller, Bộ trưởng Bộ Giáo lý Đức tin; Raymond Leo Burke, Chủ tịch Tối cao Pháp viện Toà Thánh; Walter Brandmüller, nguyên Chủ tịch Ủy ban Toà Thánh về Khoa học lịch sử; Carlo Caffarra, Tổng giám mục Bologna và là một trong các nhà thần học thân cận với Thánh Gioan Phaolô II trong các vấn đề về đạo đức và gia đình; và Velasio De Paolis, nguyên Giám đốc Văn phòng kinh tế Tòa Thánh.
Ngoài các vị hồng y này, có bốn chuyên gia thần học và giáo sư khác cũng góp phần trong cuốn sách. Đó là Robert Dodaro, O.S.A, biên tập viên, John Rist, và hai tu sĩ Dòng Tên: cha Paul Mankowski và Đức Tổng giám mục Cyril Vasil.

Nguồn-> http://www.hdgmvietnam.org/cac-hong-y-viet-sach-bao-ve-giao-ly-hoi-thanh/6315.57.7.aspx

Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2014

Bất chấp thỏa thuận ngưng bắn, quân khủng bố Hồi Giáo Boko Haram bắt cóc thêm 60 thiếu nữ Kitô

Bất chấp thỏa thuận ngưng bắn, quân khủng bố Hồi Giáo Boko Haram bắt cóc thêm 60 thiếu nữ Kitô
Đặng Tự Do

Bất chấp thỏa thuận ngưng bắn theo đó 276 nữ sinh bị bắt cóc hồi tháng Tư vừa qua sẽ được trả tự do, thêm 60 thiếu nữ Kitô khác lại vừa bị bắt cóc hôm thứ Năm 23 tháng 10 tại các làng Kitô giáo ở phía đông bắc Nigeria. 


Các vụ bắt cóc mới nhất xảy ra tại hai làng Wagga và Gwarta khiến cho nhiều người lo âu không biết liệu quân khủng bố Hồi Giáo cuối cùng cho chịu trả tự do cho 276 nữ sinh bị bắt cóc trước đó hay không.

Như tin chúng tôi đã loan gần nửa đêm ngày 14 tháng Tư, bọn khủng bố Hồi Giáo Boko Haram đã bắt cóc hơn 300 nữ sinh tại một trường nội trú ở thị trấn Chibok. Cho đến hôm thứ Sáu 8 tháng 5, 53 nữ sinh đã trốn thoát trong khi 276 nữ sinh khác vẫn còn bị giam giữ.

Dân chúng tại hai làng Wagga và Gwarta cho biết bọn khủng bố đã để lại cho mỗi gia đình các nạn nhân một số tiền là 1,500 naira, hay khoảng $ 9, và những hạt kola. Theo truyền thống của người Nigeria, số phẩm vật đó gọi là “tiền cưới”. Nó tiên báo rằng bọn khủng bố Hồi Giáo có ý định bắt những cô gái này làm nô lệ tình dục cho chúng.

Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2014

ĐHY George Pell: ''Không chiều theo áp lực của thế gian'' - Xin cầu cho ngài để ngài bảo vệ Giáo Huấn Chúa

Đức Hồng Y George Pell: ''Chúng ta không chiều theo áp lực của thế gian''.

Đức Hồng Y George Pell nói trong một cuộc phỏng vấn hôm 16 tháng 10 rằng việc công bố những chỉ trích của các nghị phụ đối với phúc trình tạm thời của Thượng Hội Đồng do Đức Hồng Y Peter Erdo chịu trách nhiệm là một điều tốt vì đã mang đến cho các tín hữu một hình ảnh thực sự về quan điểm của đa số các nghị phụ tham dự Thượng Hội Đồng.

Ngài nói với Catholic News Service:
"Chúng tôi muốn những người Công Giáo trên toàn thế giới biết thực tế những gì đang diễn ra trong Thượng Hội Đồng về hôn nhân và gia đình và, nói chung, tôi nghĩ rằng mọi người sẽ vô cùng yên tâm" 

"Chúng tôi không chiều theo áp lực của thế gian; chúng tôi không bị xô nhào. Chúng tôi không có ý định chạy theo những yếu tố cấp tiến trong các Giáo Hội Kitô khác, hay hùa theo một số trào lưu cấp tiến của Giáo Hội Công Giáo ở một hoặc hai quốc gia, và tách ra khỏi đường lối của mình." 

Ngài nói thêm: "Ý kiến muốn cho những người ly dị và tái hôn được rước lễ là rất ít, chắc chắn không phải là ý kiến của đa số các nghị phụ tại Thượng Hội Đồng -- nó chỉ là phần thấy được của tảng băng ngầm, đó là một khúc dạo đầu. Thực ra, họ muốn thay đổi rộng lớn hơn, muốn công nhận mọi thứ kết hiệp dân sự, công nhận cả hôn nhân đồng tính ". 

"Giáo Hội không thể đi theo hướng đó", Đức Hồng Y Pell nói. "Nó sẽ là một sự nhượng bộ mà chung cục đánh mất đi vẻ đẹp và sức mạnh của truyền thống Công Giáo, là điều mà hàng hàng lớp lớp các tín hữu đã sẵn sàng hy sinh bảo vệ từ hàng trăm, hàng ngàn năm nay... nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là yêu cầu mọi người dừng lại, để cầu nguyện, để nắm được nhịp thở của mình, để ý thức rằng chúng ta sẽ không từ bỏ giáo lý Công Giáo, và để hợp tác với nhau giảm bớt sự chia rẽ và ngăn chặn mọi trào lưu cực đoan của những phe phái hoặc những quan điểm khác nhau. "

Đặng Tự Do

Thứ Năm, 16 tháng 10, 2014

Hai cuộc ly giáo quan trọng trong lịch sử Giáo hội Công giáo

Hai cuộc ly giáo quan trọng trong lịch sử Giáo hội Công giáo
I. Các Giáo phái

Trong Tân ước, Chúa Giêsu đã đề cập đến việc thành lập giáo hội qua lời Ngài nhắn nhủ Phêrô: "Phêrô, này con là đá, trên viên đá này thầy sẽ xây giáo hội của thầy" (Mt 16,16-19). Chúa còn cầu nguyện giáo hội này được nên một như Chúa Cha và Chúa Con là một. Thế nhưng, đáng buồn thay, giáo hội dựa trên Phêrô đã không là một như Chúa mong muốn.

Giáo hội lúc ban đầu, đi theo Chúa chỉ là nhóm 12 tông đồ và một số các môn đệ. Họ không có hiến pháp, hiến chương hoặc nội quy gì cả. Theo thời gian, con số những người tin vào Chúa tăng lên rất nhanh. Ðể đáp ứng nhu cầu, các tông đồ đã phải chọn 7 vị được gọi là phó tế hầu trợ giúp thêm cho các ngài trong các công việc bác ái giúp anh chị em chung quanh (Tông đồ Công vụ, đoạn 6). Ðồng thời nhằm thích ứng với những đòi hỏi mới, các ngài đã phải cùng nhau nhóm họp tại Giêrusalem, tìm những phương cách rao giảng tin mừng cho thích hợp. Cũng trong những phiên họp đầu tiên này mà danh từ Công đồng được xử dụng. Các ngài đã đồng ý rằng không cần buộc những người tân tòng phải hoàn toàn tuân giữ các luật điều trong cựu ước, nhưng chú trọng nhiều đến niềm tin vào Ðức Kitô (TÐCV đoạn 15). Giáo hội là một, dù tin mừng được loan truyền ra đến các nước Ai Cập, Syria, Tiểu Á, Hy Lạp và Roma.
Trong thời gian bị bách hại 300 năm đầu và những thế kỷ sau đó, điểm quan trọng người ta nhận ra là, đã không xảy ra cuộc ly giáo nào quan trọng, hoặc nếu có thì rất giới hạn, như của nhóm Nestorians và Monophysites. Những nhóm này chẳng mấy ai theo. Thường thì sự ly giáo kết thúc bằng việc nhóm nhỏ đó tàn lụi đi hoặc trở lại Công giáo. Tuy nhiên, vào lúc bình an, không bị bách hại, thì xảy ra 2 cuộc ly giáo rất quan trọng. Một, vào thế kỷ 11 với anh em Chính thống giáo, và một, vào thế kỷ 16 với anh em Tin lành. Những cuộc ly giáo này được gọi là những bất đồng đau đớn làm tổn thương thân mình Ðức Kitô. Sau đó, xuất hiện tên gọi như "Công giáo La Mã" để phân biệt với "Chính thống giáo" và "Tin lành".
1. Công Giáo (La Mã).

Khởi nguồn từ niềm tin rằng thánh Phêrô, vị cầm đầu hội thánh đã tử đạo và được chôn cất tại Roma, những giám mục thành Roma, được nhìn nhận như kế vị Ngài, coi sóc toàn thể hội thánh. Theo lịch sử thì vai trò của Ðức Giáo Hoàng vào thuở ban đầu chỉ nhằm giải quyết những dị biệt giữa các giáo hội địa phương. Về sau, vì có nhiều lời yêu cầu và Công việc đòi hỏi, vị giáo hoàng đã phải can thiệp thêm vào các vấn đề của giáo hội địa phương, do đó, cũng có những lần gây ra khó chịu với các giáo hội này.

2. Chính Thống Giáo.

Ðến thế kỷ 11, khoảng năm 1054, xảy ra cuộc ly giáo quan trọng nơi những giáo hội phương đông. Thực ra, phương đông là phương đông của Âu Châu chứ không phải là Ðông Phương hoặc Châu Á. Ðó là các quốc gia Hy Lạp, Bulgaria và Liên Sô. Lúc đầu chỉ là những nghi thức khác biệt giữa 2 nhóm về việc dùng bánh không men (theo nghi thức La-tinh của Roma) hoặc bánh có men (Hy Lạp) khi cử hành bí tích thánh thể. Tuy việc nhỏ nhưng cũng gây ra bất đồng tại sao nhóm này khác nhóm kia. Ðến sau xảy ra những chuyện trọng đại hơn liên quan về đức tin. Giáo hội Roma tin rằng Chúa Thánh Thần do bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra, còn Chính thồng giáo thì tin rằng Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha mà thôi.

Ngày nay có những giáo phái Chính thống giáo quan trọng là: Liên sô, Rumania, Bulgaria, Hy lạp... Năm 1964, Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI và Ðức Giáo Chủ Athenagoras, Giáo chủ thành Constantinople, đã cùng ôm hôn và rút vạ tuyệt thông cho nhau. Bây giờ có nhiều chi nhánh Chính thống trở về hiệp nhất với Công giáo và vẫn giữ nguyên nghi thức, ngôn từ, tập tục riêng. Họ chọn tên "Công giáo Hy Lạp; Công giáo Ukraine" để phân biệt với Công giáo Roma. Chương trình đại kết cũng đang được chú trọng rất nhiều trong Giáo hội Công giáo.
3. Tin Lành.

Trong cuộc ly giáo giữa Công giáo và Chính thống được kể là "nhẹ" thì cuộc ly giáo với Tin lành gây ra nhiều đau đớn hơn. Vào thời trung cổ, người Công giáo phổ biến nhiều tập tục nhằm giúp tăng trưởng thêm lòng đạo đức như hành hương, xin ân xá, làm việc đền tội, noi gương các thánh ăn chay, hãm mình, phạt xác... Trong khi sống những bí tích và "á bí tích" này, một vài lạm dụng hoặc quá khích xảy ra. Thực ra, những thói quen truyền thống đó đã khởi nguồn từ cựu ước hoặc manh nha trong tân ước. Ăn chay, hãm mình là những việc làm rõ ràng và cụ thể được cả Tân và Cựu ước đề cao; hành hương được nhắc nhở nhiều nơi Tân ước, khi Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem; các ân xá - hình thức tha phần phạt của tội - bắt nguồn từ sự tha thứ và giúp thống hối vào những năm toàn xá...

Nhiều nhóm canh tân giáo hội như các dòng tu Phanxicô, Ðaminh, Cistercien, Carthusian đã cố gắng chỉnh đốn, giải thích một số tập tục không còn hợp thời. Mọi người hiểu rằng canh tân giáo hội là một việc làm của từng thời đại, nghĩa là chúng ta phải liên tục canh tân Giáo hội, canh tân đời sống của mình. Ngay cả bây giờ, vào thế kỷ 21 nầy, chúng ta cũng cần đổi mới.
Trong khi các dòng tu canh tân giáo hội cách chậm rãi thì vào thế kỷ 16, có một phong trào muốn canh tân cách mạnh mẽ và mau lẹ hơn. Người được coi như khai sáng phong trào này là Luther chắc cũng không ngờ rằng, sau ông, Tin lành bị chia ra quá nhiều nhánh và có quá nhiều mâu thuẫn với nhau như vậy. Cho đến hôm nay, theo Edward O'Conner trong "The Catholic Vision" trang 36 thì có đến 20,000 giáo phái tin lành cùng tin vào Ðức Kitô!!!? Theo Edward thì mỗi nhà thờ Tin lành có quyền cắt nghĩa Thánh kinh theo kiểu riêng của mình, nghĩa là một giáo phái. Ðúng ra, Tin lành, mà người Công giáo gọi là "thệ phản" tức là phản lại lời thề, là một phong trào hơn là tôn giáo cố định. Các vị khai sáng và chủ trương những hệ phái lớn nhiều khi cắt nghĩa Thánh kinh một cách rất mâu thuẫn nhau, như những anh em theo Anh Giáo và Episcopalians thì chấp nhận truyền thống, nhưng không chấp nhận quyền bính Ðức Giáo Hoàng; Luther cho phép truyền thống nếu không ngược lại với Thánh kinh; Calvin thì cho rằng những gì mà Thánh kinh không hiển nhiên đề cập đến thì phải được loại trừ; người theo thanh giáo hoặc chủ trương cải cách tận căn thì cứng rắn hơn nữa trong việc áp dụng Thánh kinh. Nhưng lại có giáo phái như tin lành Mormon chủ trương rằng để đối phó với nạn trai thiếu, gái thừa, đàn ông được phép lấy 4 vợ! Ðiều này có nghĩa rằng các mục sư tin lành có quyền giải thích Thánh kinh theo ân sủng nhận được từ Thánh Thần.
Bên cạnh những vấn đề cắt nghĩa Thánh kinh thế nào cho chính xác, các hệ phái tin lành cũng không giải thích các bí tích giống nhau. Có hệ phái chấp nhận bí tích mình thánh Chúa, hệ phái lại coi việc cử hành bí tích này như sự tưởng niệm mà thôi. Rồi lại có hệ phái nói rằng việc linh mục nữ giới đã được nhắc nhở cách mặc nhiên (implicit) trong Thánh kinh, hệ phái cho rằng không thấy chỗ nào Thánh kinh nhắc nhở đến cả.
II. Vấn đề mấu chốt: Thánh kinh và Thánh truyền

Nhìn chung thì anh em Tin lành chấp nhận Thánh kinh nhưng không đồng ý với Thánh truyền. Trong khi đó Giáo hội Công giáo tin tưởng vào Thánh kinh, đồng thời cũng tôn trọng Thánh truyền và những lời dạy dỗ của các vị thánh khôn ngoan. Thánh truyền nghĩa là truyền thống thánh của giáo hội, khác với truyền thống tự nhiên của con người.

Giáo hội Công giáo lý luận nguồn gốc Thánh kinh khởi sự với truyền khẩu. Ðể bảo toàn nguyên ý và cũng để phổ biến cho thêm sâu rộng, các thánh sử viết lại Thánh kinh. Tiến trình hình thành đó, được áp dụng cho cả Cựu cũng như Tân ước như sau:

1. Truyền khẩu: dân chúng kể cho nhau nghe (bằng miệng) cảm nghiệm của họ về Thiên Chúa. Rồi họ kể cho bạn bè và con cháu nghe những cảm nghiệm này. Con cháu lại truyền cho đời kế tiếp những câu truyện, cảm nghiệm và kinh nghiệm đó.
2. Có những biến cố lớn xảy ra như những cuộc di cư, bị lưu đày, tai nạn xảy đến cho dân Do thái. Những biến cố này có thể làm mai một, phương hại hoặc méo mó những niềm tin, tập tục cổ truyền vẫn được truyền khẩu, do đó, các nhà biên niên sử và văn sĩ viết lại những câu truyện của đức tin cho hậu thế.
3. Xuất bản. Theo thời gian, những nhà biên niên sử, văn sĩ thu thập các tài liệu đã được biên soạn thành hệ thống, hiệu chính những gì chưa rõ, đem xuất bản và áp dụng cho cộng đoàn của mình.
Ðó là việc thành hình bộ Thánh kinh gồm 73 cuốn Cựu cũng như Tân ước. Tiến trình này không phải là đứt đoạn, thiếu liên hệ với nhau, nhưng nối kết và nằm chồng lên nhau.
Như đã trình bày ở trên, từ những khác biệt căn bản này về việc áp dụng Thánh kinh và Thánh truyền, nhiều vấn đề khác đã được nêu lên, mà ngay cả bây giờ chúng ta cũng đang phải đương đầu. Ở đây, chúng ta sẽ cùng nhau thảo luận vấn đề căn bản mà người ta cho rằng chính vì vấn đề này Luther quyết định tách rời ra khỏi Giáo hội Công giáo.

Ân sủng trong ơn cứu chuộc:

Luther, nguyên là một linh mục công giáo, trong suốt cuộc đời cứ bị dằn vặt giữa hai ý tưởng công bằng (1) và bác ái (2): Chúa yêu thương và muốn cứu rỗi loài người, con người cũng muốn được cứu rỗi, nhưng luôn luôn hướng chiều về tội. Vậy ân sủng cứu chuộc do bởi đâu? Do bởi bác ái hay do bởi Công bằng? Ðâu là sự kết hợp giữa thương yêu và Công bằng trong ơn cứu chuộc? Ðâu là ơn Chúa và đâu là sức cố gắng của con người?

Với Luther, trọn vẹn ơn cứu chuộc được quy vào ý tưởng quan trọng: công chính hóa (justification). Con người cần công chính hóa vì tổ tiên đã phạm tội. Tội làm con người mất ân sủng với Thiên Chúa và với chính mình. Tội làm con người hư đi và dễ hướng chiều về sự ác. Ðức Kitô đến để công chính hóa, tẩy xóa tội lỗi khiến con người trở nên trong sạch. Vì vậy Giáo hội Công giáo trong bài ca đêm phục sinh đã gọi tội nguyên tổ là tội hồng phúc. Qua tội nguyên tổ, người thấy rõ tình Chúa yêu thương mình hơn, và qua tội nguyên tổ, người được Chúa yêu thương hơn.
Luther chủ trương rằng con người trở nên công chính không do công trạng mình nhưng do lòng nhân từ của Chúa. Công nghiệp con người bị giới hạn, cho nên dù có lập công đến thế nào đi nữa thì cũng bị giới hạn, không thể tự cứu chuộc. Chỉ có ơn Chúa mới chuộc tội con người. Ðiều này có nghĩa rằng công bằng nhường bước cho bác ái trong ơn cứu chuộc, và cũng chính vì bác ái chứ không vì công bằng mà Chúa sinh ra làm người.
Giáo hội Công giáo không phản đối ý tưởng này nhưng nhấn mạnh người phải cộng tác với ơn Chúa. Tân ước qua thánh Giacôbê 2,22 dạy "con người được công chính hóa qua các việc họ làm và không phải chỉ do đức tin" cùng với lời nhắn nhủ của thánh Augustin "Chúa dựng nên con không cần con, nhưng không thể cứu chuộc con nếu không có sự cộng tác của con", Giáo hội Công giáo chủ trương rằng con người không tự cứu chuộc, nhưng do ơn Chúa và với sự cộng tác của người, họ được cứu chuộc. Sự khác biệt khi cắt nghĩa ơn công chính hóa mà thánh Phaolô nhắc nhở trong thư gửi giáo đoàn Roma (Roma 3,28) và Giacôbê 2,24 đã là đề tài tranh luận giữa anh em Tin lành và Công giáo cho đến tận ngày nay.
Từ những điểm chính quan trọng trên, những lời dạy dỗ của Công giáo và Tin lành cũng trở nên khác biệt. Luther chủ trương con người được cứu độ là do tình thương của Thiên Chúa, cho nên hoặc là được cứu độ hoặc là được luận phạt. Ðiều này nghĩa rằng Luther và các giáo hội Tin lành phủ nhận tội nặng, nhẹ mà chỉ công nhận tội và ân sủng cứu chuộc. Giáo hội Công giáo, dựa theo công bằng tự nhiên, phán đoán của lý trí và những luật lệ khởi nguồn từ Cựu ước như tội rất nặng thì bị ném đá cho chết, tội nặng thì đi lưu đày một thời gian, tội nhẹ thì bị đánh đòn... lý luận hình phạt tương xứng với tội, vì không thể nào chấp nhận được rằng tội nói dối nhỏ cũng bị phạt ngang với tội giết người, ăn cắp con gà cũng bị trừng trị như ăn cắp hàng triệu đô la. Do đó, Công giáo nhắc nhở đến việc xin Chúa tha thứ không chỉ tội, nhưng còn phân biệt tội nặng và tội nhẹ.
Lm. Ðào Quang Chính, OP

Phải chăng Thượng Hội Đồng về gia đình đang Mâu Thuẫn với Giáo Huấn của Hội Thánh?

Phiên họp khoáng đại thứ 11 tại Thượng Hội Đồng Ngoại Thường về Gia Đình đã diễn ra hôm thứ Hai 13 tháng 10 trong đó các nghị phụ đã trao đổi về Phúc Trình Sau Thảo Luận (relatio post disceptationem) do Đức Hồng Y Peter Erdő của Hung Gia Lợi, Tổng Tường Trình viên tại Thượng Hội Đồng soạn thảo và trình bày.


Bản Phúc Trình đã kêu gọi các mục tử nhận ra các yếu tố tích cực trong tất cả các hoàn cảnh gia đình, thậm chí khi những hoàn cảnh này mâu thuẫn với giáo huấn của Giáo Hội. 


Bản tóm lược dành cho giới truyền thông được phòng Báo Chí Tòa Thánh đưa ra một ngày sau đó, tức là ngày thứ Ba 14 tháng 10, cho thấy các nghị phụ đã chỉ trích gay gắt về Phúc Trình này. 


Bản tóm lược [1] – cho thấy các nghị phụ "nói chung. .. đánh giá cao khả năng 'nắm bắt' các bài phát biểu diễn ra vào tuần trước của phúc trình này. Các nghị phụ cũng ca ngợi phúc trình đã có thể chuyển tải tình yêu của Giáo Hội đối với những người đang chịu đau khổ trong những tình huống mục vụ khó khăn.” 


Tuy nhiên, các nghị phụ cũng chỉ trích phúc trình này về những điểm sau:


- Thượng Hội Đồng nên đặt trọng tâm nhiều hơn về sự bất khả phân ly của hôn nhân Công Giáo, hơn là tập trung quá nhiều vào "những tình huống bất toàn của các gia đình" 
- Cần thiết phải làm rõ nghĩa của từ ngữ “thuyết tiệm tiến” (gradualism)
- Có nguy cơ là kỷ luật bí tích càng ngày càng sa sút khi ban cấp những ngoại lệ liên quan việc rước lễ của những người ly dị và tái hôn. 
- Từ ngữ "tội lỗi" hầu như vắng mặt trong suốt bản phúc trình.
- Thượng Hội Đồng không nên chiều theo não trạng của thế gian 
- Khi cung cấp việc chăm sóc mục vụ cho những người đồng tính, Giáo Hội không nên "tạo ra một ấn tượng đánh giá tích cực khuynh hướng này"
- Thượng Hội Đồng nên thảo luận về những vấn đề thời sự như việc mướn người đẻ thuê và những phim ảnh khiêu dâm 
- Thánh Gia phải được trình bày như là một mô hình của cuộc sống gia đình 
- Thượng Hội Đồng nên khuyến khích và cảm ơn các gia đình Công Giáo trung tín với giáo huấn của Giáo Hội