Hiển thị các bài đăng có nhãn Đạo Công Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đạo Công Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014

Lm Đồng Trung: Tại sao người ta lại bỏ Chúa mà đi thờ lạy các tà thần?

TẠI SAO NGƯỜI TA LẠI DỄ DÀNG BỎ CHÚA MÀ ĐI THỜ LẠY CÁC TÀ THẦN ?
" Thưa anh em, tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì về việc này : là tất cả cha ông chúng ta đều được ở dưới cột mây, tất cả đều vượt qua Biển Đỏ. Tất cả cũng được chịu phép rửa dưới đám mây và trong lòng biển,để theo ông Môisen. Tất cả cùng ăn, cùng uống một thức ăn linh thiêng...Nhưng phần đông họ không đẹp lòng Thiên Chúa, bằng chứng là họ đã quỵ ngã trong sa mạc.
Những sự việc ấy xảy ra để làm bài học răn dạy chúng ta đừng chiều theo những dục vọng xấu xa như cha ông chúng ta. Anh em đừng trở thành những kẻ thờ ngẫu tượng. Chúng ta đừng gian dâm như một số trong nhóm họ đã gian dâm : nội trong một ngày, hai mươi ba ngàn người đã ngã gục. Ta đừng thử thách Chúa, như một số trong nhóm họ đã thử thách Người và đã bị rắn cắn chết... Những sự việc này xảy ra cho họ để làm bài học, và đã được chép lại để răn dạy CHÚNG TA LÀ NHỮNG NGƯỜI ĐANG SỐNG TRONG THỜI SAU HẾT NÀY. Bởi vậy những ai tưởng mình đang đứng vững, thì hãy coi chừng kẻo té ( I Cor 10, 1 - 12 ).

* Không phải đùng một cái là người ta đang yêu Chúa lại dám bỏ Chúa đâu !
* Không phải đùng một cái là tu sĩ xuất tu ra với đời đâu !
* Không phải đùng một cái là linh mục muốn xin hồi tục để ra lấy vợ đâu !
Chính trong Sứ Điệp Từ Trời mới đây, thứ Bảy ngày 06.12.2014, Chúa cũng đã phàn nàn vì con người sẽ bỏ Chúa mà đi theo thờ lạy tà giáo của các tôn giáo không có thật quá dễ dàng và nhanh chóng.

Nguyên do chính là vì người ta thiếu cầu nguyện kết hợp với Thiên Chúa, vì không có Chúa, chúng ta không thể làm được gì, nói chi đến việc chống trả các chước mốc cám dỗ, nhất là lòng dạ con người ngày nay yêu cuồng sống vội, lo hưởng thụ, hưởng lạc kẻo uổng, như Chúa đã bật mí trong Sách Khải Huyền rằng, hết mọi dân tộc uống no say rượu dâm ô của Babylon Magna . Chính Chúa đã chẳng quả quyết giống quỷ này, nếu không ăn chay và cầu nguyện, không thể nào trừ được, đó sao ?
Nguyên do thứ hai là vì người ta quá kiêu căng, tự mãn, tự phụ và quá cậy vào sức riêng của mình mà không thèm cậy trông vào sức thiêng của Chúa qua việc khiêm tốn chạy đến kêu xin Ngài giúp đỡ, thì sẽ đúng như Thánh Phaolo đã cảnh báo trong I Cor 10. 1-12 : " Bạn cứ tưởng bạn đứng vững chăng ? Hãy cẩn thận, kẻo té ! "

Nguyên do kế tiếp là vì quá coi thường và khinh dể người khác, chỉ vì đặt mình trên tha nhân, nên không coi tha nhân là gì, vì coi thường người khác mà coi trọng mình, nên hay xét đoán lên án tha nhân.v.v.v, nên Chúa dễ để cho kẻ ấy ngã để biết thân phận mình mà khiêm tốn, mà dễ cảm thông tha thứ, bỏ qua những yếu đuối khuyết điểm của tha nhân hơn.

Vì quá tin tưởng vào sức riêng, nên người ta dễ dàng tự ý đi làm quen, gieo mình vào những hoàn cảnh, những dịp nguy hiểm, thì cũng sẽ dễ dàng chết trong nguy hiểm như Sách Đức Huấn Ca đã nói.
Ngày nay, ma quỷ là kẻ thù của Giáo Hội, là loài rắn rất tinh khôn. Nó không áp bức chúng ta bỏ đạo, vì chúng ta sẽ không thể bỏ đạo thật được và người ta rất dễ nhận ra mưu mô quỷ quyệt của nó. Nhưng nó tung những hình ảnh xấu, những thước phim, những video clip đồi trụy, những cách ăn mặc rất thiếu vải lên mạng.v.v.. Lần đầu tiên xem thấy dội, nhưng rồi xem riết đâm nghiền, nghiện không bỏ được ; thế là ma quỷ cứ ngồi đó mà chứng kiến người ta bỏ đạo.. Không dám bỏ đạo trên nguyên tắc, nhưng là bỏ đạo trong thực hành : " có đạo mà không hành, không sống đạo "
Tại sao thỉnh thoảng chúng ta nghe nơi này nơi kia, các em bé cầm súng bắn bố, bắn mẹ mình, bắn những người khác, điều mà chúng ta nghĩ là không thể nào xảy ra nơi những em bé, thế nhưng nó đã là chuyện có thật trên thế giới này..., là vì các em đã thường xuyên được xem cảnh bắn giết nhau trên màn ảnh TV. Chính chúng ta là những người lớn, khi vài lần đầu chứng kiến những tai nạn, những cảnh con người giết con người, thấy quá ghê tởm và không chấp nhận được, và chúng ta dễ động lòng trắc ẩn; nhưng rồi xem thấy nhiều quá, ngày nào cũng thấy, nên dần dần cũng thấy là nó thường thường vậy thôi, không còn cảm thấy ghê tởm mấy nữa, và trái tim ta cũng sẽ bị khô lại mà không còn dễ dàng nhạy bén đồng cảm, thương xót với những anh chị em đang gặp tai nạn chết chóc đau thương ấy nữa.

Các bạn và tôi có thấy đúng không, khi thấy ?

+ Khi dâng Thánh Lễ, các Linh mục quay lưng lên Nhà Tạm, lấy lý do là vị chủ tọa phải quay xuống Cộng Đoàn, nhưng có biết đâu là việc làm này đã, không biết vô tình hay hữu ý, huấn luyện dần dần cho giáo dân coi thường Chúa Giêsu Thánh Thể là Trung Tâm của các Thánh Đường ! Vì kinh nghiệm cho chúng ta hay, thời gian đầu giáo dân thấy kỳ kỳ có vẻ bất kính với Chúa quá, nhưng rồi cho tới giờ này mọi người xem ra thấy cũng " bình thường " . Tại sao các linh mục của Chúa cứ ung dung vui vẻ ngồi chềnh ềnh, chỗm chệ trước mặt Chúa Giêsu Thánh Thể, có nơi ghế của linh mục chủ lễ to oai như ghế của các vua quan nước ta năm xưa..., mà không hề nghĩ ngợi gì thân phận bọt bèo sớm nở chiều tàn, nay còn mai mất của mình, có khi cả nhiều khuyết điểm yếu đuối và tội lỗi, cũng giống như người giáo dân đấm ngực ba lần, lỗi tại tôi mọi đàng, sao không thấy kinh sợ, mà lại cả dám ngạo nghễ ngang nhiên ngồi chắn trước mặt Đức Chúa Trời như thế? - Tại sao các ngài không cảm thấy giật mình, ít là như Giacob trên đường đi lánh nạn, đã mơ thấy một cái thang bắc từ đất lên trời, trên thang có các Thiên Thần lên xuống, để rồi phải hết sức kinh sợ thưa lên : Kinh sợ quá, nơi này là nơi Thánh, nơi Chúa ngự đây mà tôi không biết !

Thời gian đầu chỉ quay lưng lên Nhà Tạm sau Phúc Âm và bài giảng thôi, trước đó đứng bên hông phải hoặc trái Cung Thánh, nhưng giờ thì quay lưng lên Chúa Thánh Thể suốt từ đầu đến cuối.., rồi giáo dân cũng thấy " bình thường ".

+ Nhà Tạm luôn phải ở trung tâm Cung Thánh, thế nhưng một số nơi đã bị ảnh hưởng của Tin Lành và Tam Điểm, nên đã đặt Nhà Tạm một bên, " quyển Thánh kinh " một bên ngang hàng với Nhà Tạm, làm nhiều giáo dân thắc mắc, nhưng được cắt nghĩa sai lạc, rồi nhiều giáo dân cũng cảm thấy " bình thường ", mà không biết đó cũng là cách giảm danh dự, uy thế và trọng kính đối với Chúa Giêsu Thánh Thể mà nhiều người không nhận ra, thậm chí có những Nhà Thờ đem đặt Nhà Tạm của Chúa xuống hẳn bên cạnh cánh ngoài của Cung Thánh, chứ không còn ở trên Cung Thánh nữa, lấy lý do là để Linh mục dâng lễ khỏi phải quay lưng vào mà bất kính với Chúa Cả Trời Đất, và điều này làm cho người ta càng dễ coi thường Chúa hơn, coi Chúa như là nhân vật không cần thiết, làm cho nhiều người đi qua Cung Thánh chỉ bái chào Cung Thánh, chứ không phải bái thờ Thánh Thể Chúa. Và Chúa Giêsu Thánh Thể vẫn tiếp tục bị xúc phạm,coi thường và cô đơn !

Có phải đây là một trong những lý do rất chính đáng và hợp lý để mở đường cho người ta tha hồ lên đó ( Cung Thánh ), để cả một đống người cả nam cả nữ múa máy, nhảy nhót, hoạt cảnh, diễn kịch, hát đơn ca, song ca, tam ca, tốp ca, cả những ca đoàn lớn lên lên xuống xuống nhiều khi ăn mặc thiếu kính tôn nơi thánh, chuyện trò, nhố nhăng, gọi bằng một tên rất kêu và nghe như có vẻ đạo đức : " Diễn nguyện Thánh ca Giáng Sinh ". Nhiều nơi lại còn dùng Cung Thánh của Chúa để thực hiện những cuộc phỏng vấn, khảo hạch giáo lý, chủ tọa và những người khảo hạch...,cũng cứ ung dung ngồi bàn làm việc quay lưng lên Nhà Tạm như không có gì đáng trách vậy, như là không có Chúa ở trong Nhà Tạm...; rồi nào những cuộc chúc mừng, những vỗ tay reo hò hết sức xúc phạm và bất kính với Thiên Chúa vẫn hằng ngày tiếp diễn trong rất nhiều Thánh Đường ở Việt Nam cũng như trên toàn thế giới... Có phải là đang tiếp tục giáo dục cho người giáo dân bất kính và coi thường Chúa một cách hợp pháp không ? vì đó lại là chính Cha xứ cho phép ! 

Có phải cứ là Linh mục là muốn làm gì là làm không? Có phải làm Giám mục, Hồng y là muốn làm gì trước mặt Thiên Chúa cũng được không ? Và có phải là Giáo hoàng có toàn quyền trên ngay cả đối với Thiên Chúa của Giáo hoàng, để rồi muốn tuyên bố gì, muốn thay đổi gì, muốn truyền ra sao cũng được, cũng hợp pháp không ?

Tại sao các chủ tọa và các tín đồ Phật giáo, Hồi giáo.v.v., là những đạo do con người lập ra ( chứ không phải là Đạo Thật từ Trời xuống như Đạo Công Giáo ), thế mà người ta cung kính nơi Chùa, Đền thờ của họ thế : nào là không bao giờ cho đá banh chung quanh Chùa, Đền thờ ; không bao giờ cho hát xướng vỗ tay, nhảy nhót, múa chạy trong Chùa, Đền thờ của họ ; không bao giờ tranh thủ lợi dụng tầng hầm trệt của Chùa, của Đền thờ, hoặc khu vực khuôn viên để làm nơi cho thuê tổ chức đám cưới, vui chơi,văn nghệ, ăn uống tiệc tùng, nơi tha hồ cho chủ tiệc và thực khách biểu diễn thời trang có khi rất nghèo nàn ( có chủ ý phơi sương ) của mình, với biết bao tục hoá vô cùng bất kính, làm cho người ta xem thường nơi, khu vực thánh thiêng. Ngay cả tín đồ Phật giáo khi đến nơi thánh thiêng, họ cũng phải mặc đồ đứng đắn, người Hồi giáo cũng thế; còn nhiều người Công Giáo, nhất là nhiều các cô, nhiều các bà lại dám mặc đồ đi dạ hội, đi ăn đám cưới..., đến nhà thờ tham dự Thánh lễ, có những bộ đồ rất khêu gợi, làm cho không ít những người khác khi tham dự Thánh lễ bị chia trí và bị cám dỗ. 

Những người ở nhiều tôn giáo giả tạo, người ta có những hành vi cử chỉ, cung cách phủ phục, quỳ lạy rất trang nghiêm ra như hết cả tấm lòng, hết cả con người họ qua hành vi tôn thờ, khi đến những nơi thờ phượng của họ ; còn rất nhiều người Công Giáo vào nhà thờ có Chúa là Thiên Chúa cả trời đất thì lại cúi đầu qua loa, hoặc gật đầu qua lần chiếu lệ, có khi chẳng tỏ ra có một lòng kính trọng nào đối với nơi Cực Thánh như vậy. Thật chẳng hiểu nổi !

Phải chăng nhiều nhà thờ, Cha xứ có khi với ý ngay, nhưng không ngờ lại mắc bẫy của Satan, bắt giáo dân bỏ ghế quỳ là vô tình hay cố ý giúp cho giáo dân của mình càng coi thường hơn đối với nơi thờ phượng duy một Thiên Chúa, và làm cho người ta coi thường việc cầu nguyện với Thiên Chúa Tình Yêu, chứ không phải là để cho nhà thờ có thể chứa được nhiều người hơn, nhất là trong những dịp lễ lớn ? Mà cho dù để có thể dung nạp được nhiều hơn chút, cũng không bao giờ được phép bỏ ghế quỳ trong nhà thờ, vì tư thế quỳ không những giúp cầu nguyện mà còn là diễn tả rất đúng, đẹp, phải đạo của một thụ tạo nhỏ bé đầy khuyết điểm và bất xứng đối với Đấng Sáng Tạo Cực Thánh vô cùng.

Không biết đối với rất nhiều Thánh Đường Công Giáo ngày nay, Chúa Giêsu có phải lặp lại thái độ của cơn giận thánh của Ngài năm xưa, và lời Ngài tuyên bố : Nhà Cha Ta là nhà dành cho việc cầu nguyện, thờ phượng mà các ngươi đã biến trở thành hang trộm cướp ! Hãy đưa những thứ này ra khỏi đây, không ?

Và không biết lời Chúa đã báo trước : Liệu khi Con Người đến ( lần thứ hai ), có còn gặp được Đức tin trên mặt đất này nữa không, là Ngài nói ám chỉ vào thời hiện giờ của chúng ta không ?
Một trong những hành động kinh tởm, xúc phạm đến Thiên Chúa nhất, phải chăng là việc rước Mình Thánh Chúa trên tay của người giáo dân đang lan tràn thịnh hành khắp nơi trên thế giới ? Và Thánh Thể Chúa Giêsu đã, đang bị xúc phạm, giày xéo coi thường vô cùng nặng nề !

Người ta lấy lý do là bảo đảm vệ sinh, khỏi lây nước miếng có khi có vi trùng của người nọ sang người kia... Lý do này không đúng, đó chỉ là chiêu bài của ma quỷ mà thôi. Nguyên chỉ một lý lẽ " Chúa trọng hơn, hay sức khỏe, mạng sống thụ tạo là loài hay chết trọng hơn ? " cũng đủ để đánh phi đi tất cả những lý do kia .

Có những linh mục giảng chửi những người vì tôn kính Chúa trên hết, không bao giờ dám xoè tay ra cầm Mình Thánh Chúa, không dám đứng mà quỳ để xin được lãnh nhận Mình Thánh Chúa một cách rất cung kính, thì bị chửi và làm nhục công khai trước mặt mọi người ngay trong nhà thờ. Những linh mục như thế, khi xúc phạm phẩm giá của con cái Chúa của những con chiên hiền lành của mình như thế, có đang là giảng đạo hay phá đạo, có đang là bênh Chúa, bênh Giáo hội của Chúa hay là đang xỉ nhục đánh đập Chúa cũng như Giáo hội của Chúa ? Con xin phép hỏi quý Cha có chủ trương và thái độ dễ bắt nạt và coi thường người giáo dân của Thiên Chúa, rằng : trong Giáo hội, có luật nào buộc rước lễ đứng và phải rước trên tay không?

Tôi với các bạn, chúng ta có lẽ phải nghiêm chỉnh và rất thận trọng kẻo cứ thấy nhiều điều xúc phạm, bất xứng, bất kính với Thiên Chúa nhan nhản hằng ngày rồi hoá quen, hoá coi thường, và coi cũng " bình thường ", từ đó chúng ta dần dần mất đi " cảm thức siêu nhiên hay còn gọi là tâm thức đạo đức đầy Đức tin " của con cái Chúa, là khả năng hết sức cần thiết để chúng ta thể hiện đúng tâm tình, đúng tư cách của một thụ tạo hèn mọn bất tất đối với Thiên Chúa, Đấng là tất cả của chúng ta. Nhất là chúng ta được hạnh phúc Chúa yêu thương cho phép chúng ta là những người con đối xử tốt đẹp và phải đạo với Thiên Chúa là Cha mình, mà không sợ coi thường và xúc phạm tới Ngài như chúng ta đề cập trên đây.

Chúng ta cùng xin Ngài tăng thêm cho chúng ta có được khả năng rất nhạy bén tế nhị trong những " cảm thức siêu nhiên ", kẻo nếu mất và không có cảm thức siêu nhiên này, mai mốt có những hình ảnh và nghi thức tôn thờ các tà thần dân ngoại, các ngẫu tượng con người tự đặt lên ở trong các Thánh Đường, Nhà Thờ của chúng ta, thay vì Tôn Thờ duy Một Mình Thiên Chúa, chúng ta cũng lấy làm " bình thường " mà lại cũng đi vái lạy tôn vinh những thứ nghi lễ ma quỷ đó...., thì chúng ta có nguy cơ mất Chúa, mất Thiên Đàng ,mất Hạnh Phúc đời đời !

170 Kinh Nguyện mà Chúa và Đức Mẹ thương ban cho chúng ta qua Sách Sự Thật ( Sứ Điệp Từ Trời ) là Lời Kinh vô cùng tuyệt vời và quyền năng lớn lao vĩ đại lạ lùng. Nếu chúng ta vẫn trung thành đơn sơ thiện chí đọc, chắc chắn chúng ta sẽ không bị rơi vào tình trạng mất cảm thức siêu nhiên của biết bao nhiêu người cho bất cứ cái gì, cả tội lỗi nữa, cả đồng tính nữa, cả ly dị, tái hôn được rước lễ nữa..., cũng là " bình thường " . Nếu có những ai như thế thì thật nguy to và đáng thương quá !

LM. ĐaMinh Đồng Trung

Thứ Ba, 9 tháng 12, 2014

Khi một linh mục có tội trọng, ngài cử hành Thánh lễ được không?

Khi một linh mục có tội trọng, ngài cử hành Thánh lễ được không?
Hỏi: Cha có thể trả lời cho con các câu hỏi tế nhị này không? Khi một linh mục phạm tội trọng, và được biết đến công khai là có tội trọng (say rượu thường xuyên; giao du với phụ nữ,…) và Giám mục cho phép linh mục ấy cử hành Thánh lễ cách công khai, có điều khoản Giáo luật nào nói về việc này không? Hoặc, nếu một linh mục đã làm cho một phụ nữ có thai, sau đó khuyến khích cô ấy đi phá thai (điều có thực ở đất nước chúng tôi), liệu có sự trừng phạt nào đối với linh mục ấy, thay vì cứ để cho linh mục ấy cử hành Thánh lễ cách công khai? - K. G., Sudan

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Đáp: Đây quả thật là các câu hỏi tế nhị và người ta cũng thật buồn để trả lời chúng. Tôi không phải là chuyên viên giáo luật, và do đó không thể trả lời về các sự phức tạp của qui trình giáo luật. Tuy nhiên, tôi có thể cung cấp một số gợi ý liên quan đến các bí tích.

Một linh mục phạm tội trọng, giống như bất kỳ tín hữu nào, phải tìm kiếm sự hòa giải bí tích càng sớm càng tốt. Trong khi đó, linh mục này nên tránh càng xa càng tốt việc cử hành các bí tích.

Qua chữ "càng xa càng tốt", tôi muốn nói rằng nếu linh mục không thể đi xưng tội trước khi chăm lo các nhu cầu của tín hữu, thì ngài cần ăn năn tội cách trọn và cử hành bí tích. Hành vi ăn năn tội này bao hàm cả ý định đi xưng tội càng sớm càng tốt, và quyết tâm không phạm tội nữa. Lẽ tất nhiên nguyên tắc luân lý này được áp dụng cho sự sa ngã tạm thời (và thường là bí mật).

Điều 916 của Bộ Giáo Luật nói: " Ai ý thức mình phạm tội nặng và chưa xưng tội trước, thì không được làm lễ và không được rước lễ, trừ khi có lý do quan trọng và không có dịp tiện đi xưng tội. Trong trường hợp này, họ phải tâm niệm về bổn phận thống hối trọn vẹn, bao gồm lòng dốc quyết đi xưng tội sớm ngần nào có thể (xem thêm Điều 1335)". (Bản dịch Việt ngữ của Bộ Giáo Luật do các Linh Mục Nguyễn Văn Phương, Phan Tấn Thành, Vũ Văn Thiện, Mai Ðức Vinh thực hiện).

Lưu ý rằng điều luật trên đòi hỏi “một lý do quan trọng” để tận dụng ngoại lệ này.

Một lý do quan trọng như vậy là dựa trên nguyên tắc lợi ích của các linh hồn. Nếu một linh mục phải cử hành Thánh Lễ, hoặc có người xin xưng tội, xin Bí tích Xức dầu Bệnh Nhân, hoặc bất kỳ bí tích khác từ linh mục này, vốn phải được thực hiện trước khi linh mục đi xưng tội, thì ngài có thể, và thường phải, cử hành bí tích.

Một lý do quan trọng thứ hai bắt nguồn từ nguy cơ của sự ô nhục bằng cách công khai tiết lộ tình trạng của linh hồn một người. Điều này có thể xảy ra trong trường hợp của một linh mục trong hoàn cảnh bị cô lập, khi không có ai khác để cử hành thánh lễ. Ngài không cần làm điều gì khiến cho mọi người nghi ngờ ngài đang thiếu tình trạng ân sủng.

Trường hợp, được độc giả của chúng tôi đề cập đến, bao hàm một tình hình nghiêm trọng hơn, trong đó linh mục đang công khai sống trong một tình trạng vô luân khách quan, với các dấu hiệu không rõ ràng của sự sẵn sàng thay đổi. Mặc dù chỉ có Chúa mới biết tâm hồn người ta, một tội lỗi công khai đòi hỏi một hình thức xa rời công khai khỏi đời sống tội lỗi. Các bí tích được cử hành bởi một linh mục không ăn năn là hành vi phạm thánh nghiêm trọng. Chúng có thể là thành sự, nhưng là bất hợp pháp.

Một linh mục xúi một phụ nữ phá thai là tự động bị vạ tuyệt thông, là “bất hợp luật” và bị ngăn trở không được hành sử chức thánh của mình (Các Điều 1398, 1041,4, 1043). Linh mục này không thể cử hành các bí tích và không lãnh bí tích xá giải, cho đến khi vạ tuyệt thông được chính thức dỡ bỏ. Nếu ngài tiếp tục hành sử chức thánh của mình, không những việc cử hành của ngài là phạm thánh, mà Bí Tích Hòa Giải và Bí tích Hôn phối do ngài cử hành cũng là vô hiệu (xem Điều 1331 § 2.1).

Nếu tình trạng vạ tuyệt thông của ngài đã được nhiểu người biết cách công khai, thì tín hữu không nên tham dự bất kỳ việc cử hành nào của ngài, hoặc không xin lợi ích thiêng liêng từ ngài, ngoại trừ trong trường hợp nguy tử. Ngay cả khi ngài là linh mục duy nhất hiện diện trong khu vực, các tín hữu không nên tham dự thánh lễ Chúa Nhật và thánh lễ ngày thường do ngài cử hành.

Trong các tình huống như vậy, một Giám mục không thể "cho phép" một linh mục tiếp tục như bình thường. Giám mục có một trách nhiệm nặng nề đối với việc đảm bảo sự thánh thiện của các bí tích. Một Giám mục không thể trao một sự cho phép tích cực cho một hành động phạm thánh, mà không có Ngài, nó trở thành tội phạm thánh. Nếu Ngài quay mặt làm ngơ, Ngài sẽ phải chịu trách nhiệm về mặt đạo đức do sơ suất đáng khiển trách, và sẽ phải trả lời một số câu hỏi nghiêm trọng trong ngày Phán xét.

Đồng thời, các tín hữu không nên cho rằng vị Giám mục biết hết mọi chuyện đang xảy ra. Nếu họ có bằng chứng chắc chắn, chứ không chỉ là tin đồn, về hành vi vô luân công khai của một linh mục, họ cần trình bày cho Giám mục biết. Nếu bằng chứng là vững chắc, vị Giám mục phải tuân theo các thủ tục Giáo luật đã qui định, trước tiên là không cho linh mục ấy hành sử chức thánh, và sau đó quyết định bước tiếp theo cho linh mục ấy. Nếu Giám mục từ chối hành động, các tín hữu nên trình bày vấn đề cho Sứ thần Tòa thánh hoặc trực tiếp cho Tòa Thánh.

Trong trường hợp thứ nhất, miễn là không có sự lạm dụng trẻ vị thành niên liên quan, Giám mục nên xem xét liệu còn có bất kỳ hy vọng nào cho sự hoán cải thật sự của linh mục ấy, vốn sẽ cho phép linh mục ấy bắt đầu lại trong một tình hình khác, ở nơi mà sự yếu đuối của ngài chưa được biết tới. Tôi biết có nhiều sự hoán cải như thế, chẳng hạn như một vụ hoán cải, mà trong đó Thiên Chúa đã sử dụng một chứng bệnh nặng để đem một cha xứ tội lỗi ăn năn hối cải, và khôi phục lại ý nghĩa của sứ vụ và đời sống của mình. Ngày nay, nhiều năm sau đó, linh mục này được xem là một thừa tác viên gương mẫu của Tin Mừng.

Nếu sự thay đổi dường như là không thể được, hoặc nếu ngài lạm dụng trẻ vị thành niên, ngài cần phải bị loại bỏ khỏi sứ vụ. Nếu ngài có con cái, trách nhiệm làm bố của ngài phải là ưu tiên hơn là sống trong chức linh mục.

Trong trường hợp của linh mục bị vạ tuyệt thông tự động bằng cách xúi phá thai, sự trầm trọng của tội này phải loại trừ ngài khỏi sự hành sử chức thánh của ngài. Người ta hy vọng rằng ngài sẽ ăn năn và được dỡ bỏ vạ tuyệt thông, nhưng ngài không thể còn hoạt động như vị đại diện của Chúa Kitô. Việc loại ngài khỏi sứ vụ là một hình phạt xứng đáng và tương đối nhỏ, vì ngài đã là công cụ trong việc giết người vô tội.

Các tình huống buồn và đau lòng như vậy có thể thúc đẩy chúng ta cầu nguyện cho sự thánh thiện của các linh mục và đền bù cho tội lỗi của các vị nữa. 
(Nguyễn Trọng Đa chuyển ngữ, Zenit.org 3-8-2011)

Tại sao các nhà thờ đầy giáo dân còn lãnh đạo chính quyền Trung Quốc thì giận dữ

Tại sao các nhà thờ đầy giáo dân còn lãnh đạo chính quyền Trung Quốc thì giận dữ

Gần đây chính quyền Cộng sản Trung Quốc nổi cơn hoành hành chống Kitô hữu, đập phá nhà thờ ở thành phố biển Ôn Châu và các nơi khác, bắt giam các giám mục thuộc cộng đoàn bí mật và các lãnh đạo Giáo hội tại gia, và tấn phong các linh mục dễ sai bảo làm “giám mục”. Nhưng đằng sau chiến dịch đàn áp ngày càng leo thang này, trên thực tế là lý do thực hiện chiến dịch, là do số Kitô hữu tăng nhanh.
Hiện nay có khoảng hơn 100 triệu Kitô hữu trong quốc gia đông dân nhất thế giới này, riêng người Công giáo chiếm khoảng 12 triệu người. Trong đó có nhiều người mới trở lại đạo, họ háo hức chu toàn Sứ mệnh Quan trọng nhất, bận rộn truyền giáo cho người xung quanh mình. Đảng Cộng sản Trung Quốc kết nạp đảng viên mới trong những năm gần đây, cho những người trí thức, chủ doanh nghiệp, và những tầng lớp bị nghi ngờ trước đây, ngay cả các nhà tư bản, gia nhập hàng ngũ của đảng. Thế nhưng 86,7 triệu thành viên chính thức của “niềm tin” đang thối nát này, đa số là những người Cộng sản chỉ trên danh nghĩa, hiện nay ít hơn số Kitô hữu Trung Quốc năng động đang gia tăng.

Đối với các lãnh đạo Trung Quốc, họ hoàn toàn muốn người dân Trung Quốc tin rằng không có Thiên Chúa mà chỉ có đảng (và hãy nhớ: họ là đảng), đây là một tình trạng không thể chịu được. Làn sóng ngược đãi mới nhất này là phản ứng của họ. Tuy nhiên tin vui đó là đạo Công giáo ở Trung Quốc đang phát triển.

Cho phép tôi chia sẻ với các bạn một số trong nhiều gương mặt tràn đầy hy vọng trong đạo Công giáo mà tôi chứng kiến trong chuyến viếng thăm Trung Quốc gần đây.

Thứ nhất là gương mặt của một vị linh mục Công giáo, làm chánh xứ một giáo xứ lớn gần một thành phố lớn của Trung Quốc, quyết tâm cứu rỗi các linh hồn. Khi chúng tôi ngồi trong văn phòng của ngài, ngài mở một bức vẽ hình Chúa Giêsu rất lớn. Ngài dự định cho bí mật xây bức tượng này và sau đó dựng ngay lên một cái bệ hướng về phía đường cao tốc gần nhà thờ. “Ngài dự định làm sao để xin phép chính quyền?” tôi hỏi. “Đó là đất của Giáo hội. Tôi không cần xin phép”, ngài nói chắc nịch.

Ở các tỉnh phía bắc tôi đến thăm không có nhà thờ nào bị đập phá, nhưng chắc chắn đang có nhà thờ được xây dựng. Hàng ngàn nhà thờ bị đập phá hay tịch thu theo lệnh của đảng Cộng sản trong các thập niên 50 và 60 gần như tất cả đã được xây lại hay tân trang, thường là nhờ tiền tài trợ từ nước ngoài, trong đó có nhà thờ giáo xứ tại Dongergou thuộc tỉnh Thiểm Tây mà tôi từng viếng thăm, tại đây Thánh lễ được cử hành liên tục trong hơn 220 năm.

Nhiều nhà thờ mới cũng đã được xây dựng, có lúc có sự cho phép của chính quyền, có lúc không. Đây là một lĩnh vực mà giáo dân thường đi đầu. Tại một làng nọ, giáo dân đa số là người mới trở lại đạo tổ chức các buổi cầu nguyện và thỉnh thoảng có Thánh lễ, khi linh mục có thể đến, trong một cái chuồng ngựa bị bỏ hoang.

Steven W. Mosher là giám đốc Viện Nghiên cứu dân số và là tác giả cuốn Population Control: Real Costs, Illusory Benefits

Nguồn: Aleteia

Thứ Năm, 16 tháng 10, 2014

Hai cuộc ly giáo quan trọng trong lịch sử Giáo hội Công giáo

Hai cuộc ly giáo quan trọng trong lịch sử Giáo hội Công giáo
I. Các Giáo phái

Trong Tân ước, Chúa Giêsu đã đề cập đến việc thành lập giáo hội qua lời Ngài nhắn nhủ Phêrô: "Phêrô, này con là đá, trên viên đá này thầy sẽ xây giáo hội của thầy" (Mt 16,16-19). Chúa còn cầu nguyện giáo hội này được nên một như Chúa Cha và Chúa Con là một. Thế nhưng, đáng buồn thay, giáo hội dựa trên Phêrô đã không là một như Chúa mong muốn.

Giáo hội lúc ban đầu, đi theo Chúa chỉ là nhóm 12 tông đồ và một số các môn đệ. Họ không có hiến pháp, hiến chương hoặc nội quy gì cả. Theo thời gian, con số những người tin vào Chúa tăng lên rất nhanh. Ðể đáp ứng nhu cầu, các tông đồ đã phải chọn 7 vị được gọi là phó tế hầu trợ giúp thêm cho các ngài trong các công việc bác ái giúp anh chị em chung quanh (Tông đồ Công vụ, đoạn 6). Ðồng thời nhằm thích ứng với những đòi hỏi mới, các ngài đã phải cùng nhau nhóm họp tại Giêrusalem, tìm những phương cách rao giảng tin mừng cho thích hợp. Cũng trong những phiên họp đầu tiên này mà danh từ Công đồng được xử dụng. Các ngài đã đồng ý rằng không cần buộc những người tân tòng phải hoàn toàn tuân giữ các luật điều trong cựu ước, nhưng chú trọng nhiều đến niềm tin vào Ðức Kitô (TÐCV đoạn 15). Giáo hội là một, dù tin mừng được loan truyền ra đến các nước Ai Cập, Syria, Tiểu Á, Hy Lạp và Roma.
Trong thời gian bị bách hại 300 năm đầu và những thế kỷ sau đó, điểm quan trọng người ta nhận ra là, đã không xảy ra cuộc ly giáo nào quan trọng, hoặc nếu có thì rất giới hạn, như của nhóm Nestorians và Monophysites. Những nhóm này chẳng mấy ai theo. Thường thì sự ly giáo kết thúc bằng việc nhóm nhỏ đó tàn lụi đi hoặc trở lại Công giáo. Tuy nhiên, vào lúc bình an, không bị bách hại, thì xảy ra 2 cuộc ly giáo rất quan trọng. Một, vào thế kỷ 11 với anh em Chính thống giáo, và một, vào thế kỷ 16 với anh em Tin lành. Những cuộc ly giáo này được gọi là những bất đồng đau đớn làm tổn thương thân mình Ðức Kitô. Sau đó, xuất hiện tên gọi như "Công giáo La Mã" để phân biệt với "Chính thống giáo" và "Tin lành".
1. Công Giáo (La Mã).

Khởi nguồn từ niềm tin rằng thánh Phêrô, vị cầm đầu hội thánh đã tử đạo và được chôn cất tại Roma, những giám mục thành Roma, được nhìn nhận như kế vị Ngài, coi sóc toàn thể hội thánh. Theo lịch sử thì vai trò của Ðức Giáo Hoàng vào thuở ban đầu chỉ nhằm giải quyết những dị biệt giữa các giáo hội địa phương. Về sau, vì có nhiều lời yêu cầu và Công việc đòi hỏi, vị giáo hoàng đã phải can thiệp thêm vào các vấn đề của giáo hội địa phương, do đó, cũng có những lần gây ra khó chịu với các giáo hội này.

2. Chính Thống Giáo.

Ðến thế kỷ 11, khoảng năm 1054, xảy ra cuộc ly giáo quan trọng nơi những giáo hội phương đông. Thực ra, phương đông là phương đông của Âu Châu chứ không phải là Ðông Phương hoặc Châu Á. Ðó là các quốc gia Hy Lạp, Bulgaria và Liên Sô. Lúc đầu chỉ là những nghi thức khác biệt giữa 2 nhóm về việc dùng bánh không men (theo nghi thức La-tinh của Roma) hoặc bánh có men (Hy Lạp) khi cử hành bí tích thánh thể. Tuy việc nhỏ nhưng cũng gây ra bất đồng tại sao nhóm này khác nhóm kia. Ðến sau xảy ra những chuyện trọng đại hơn liên quan về đức tin. Giáo hội Roma tin rằng Chúa Thánh Thần do bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra, còn Chính thồng giáo thì tin rằng Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha mà thôi.

Ngày nay có những giáo phái Chính thống giáo quan trọng là: Liên sô, Rumania, Bulgaria, Hy lạp... Năm 1964, Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI và Ðức Giáo Chủ Athenagoras, Giáo chủ thành Constantinople, đã cùng ôm hôn và rút vạ tuyệt thông cho nhau. Bây giờ có nhiều chi nhánh Chính thống trở về hiệp nhất với Công giáo và vẫn giữ nguyên nghi thức, ngôn từ, tập tục riêng. Họ chọn tên "Công giáo Hy Lạp; Công giáo Ukraine" để phân biệt với Công giáo Roma. Chương trình đại kết cũng đang được chú trọng rất nhiều trong Giáo hội Công giáo.
3. Tin Lành.

Trong cuộc ly giáo giữa Công giáo và Chính thống được kể là "nhẹ" thì cuộc ly giáo với Tin lành gây ra nhiều đau đớn hơn. Vào thời trung cổ, người Công giáo phổ biến nhiều tập tục nhằm giúp tăng trưởng thêm lòng đạo đức như hành hương, xin ân xá, làm việc đền tội, noi gương các thánh ăn chay, hãm mình, phạt xác... Trong khi sống những bí tích và "á bí tích" này, một vài lạm dụng hoặc quá khích xảy ra. Thực ra, những thói quen truyền thống đó đã khởi nguồn từ cựu ước hoặc manh nha trong tân ước. Ăn chay, hãm mình là những việc làm rõ ràng và cụ thể được cả Tân và Cựu ước đề cao; hành hương được nhắc nhở nhiều nơi Tân ước, khi Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem; các ân xá - hình thức tha phần phạt của tội - bắt nguồn từ sự tha thứ và giúp thống hối vào những năm toàn xá...

Nhiều nhóm canh tân giáo hội như các dòng tu Phanxicô, Ðaminh, Cistercien, Carthusian đã cố gắng chỉnh đốn, giải thích một số tập tục không còn hợp thời. Mọi người hiểu rằng canh tân giáo hội là một việc làm của từng thời đại, nghĩa là chúng ta phải liên tục canh tân Giáo hội, canh tân đời sống của mình. Ngay cả bây giờ, vào thế kỷ 21 nầy, chúng ta cũng cần đổi mới.
Trong khi các dòng tu canh tân giáo hội cách chậm rãi thì vào thế kỷ 16, có một phong trào muốn canh tân cách mạnh mẽ và mau lẹ hơn. Người được coi như khai sáng phong trào này là Luther chắc cũng không ngờ rằng, sau ông, Tin lành bị chia ra quá nhiều nhánh và có quá nhiều mâu thuẫn với nhau như vậy. Cho đến hôm nay, theo Edward O'Conner trong "The Catholic Vision" trang 36 thì có đến 20,000 giáo phái tin lành cùng tin vào Ðức Kitô!!!? Theo Edward thì mỗi nhà thờ Tin lành có quyền cắt nghĩa Thánh kinh theo kiểu riêng của mình, nghĩa là một giáo phái. Ðúng ra, Tin lành, mà người Công giáo gọi là "thệ phản" tức là phản lại lời thề, là một phong trào hơn là tôn giáo cố định. Các vị khai sáng và chủ trương những hệ phái lớn nhiều khi cắt nghĩa Thánh kinh một cách rất mâu thuẫn nhau, như những anh em theo Anh Giáo và Episcopalians thì chấp nhận truyền thống, nhưng không chấp nhận quyền bính Ðức Giáo Hoàng; Luther cho phép truyền thống nếu không ngược lại với Thánh kinh; Calvin thì cho rằng những gì mà Thánh kinh không hiển nhiên đề cập đến thì phải được loại trừ; người theo thanh giáo hoặc chủ trương cải cách tận căn thì cứng rắn hơn nữa trong việc áp dụng Thánh kinh. Nhưng lại có giáo phái như tin lành Mormon chủ trương rằng để đối phó với nạn trai thiếu, gái thừa, đàn ông được phép lấy 4 vợ! Ðiều này có nghĩa rằng các mục sư tin lành có quyền giải thích Thánh kinh theo ân sủng nhận được từ Thánh Thần.
Bên cạnh những vấn đề cắt nghĩa Thánh kinh thế nào cho chính xác, các hệ phái tin lành cũng không giải thích các bí tích giống nhau. Có hệ phái chấp nhận bí tích mình thánh Chúa, hệ phái lại coi việc cử hành bí tích này như sự tưởng niệm mà thôi. Rồi lại có hệ phái nói rằng việc linh mục nữ giới đã được nhắc nhở cách mặc nhiên (implicit) trong Thánh kinh, hệ phái cho rằng không thấy chỗ nào Thánh kinh nhắc nhở đến cả.
II. Vấn đề mấu chốt: Thánh kinh và Thánh truyền

Nhìn chung thì anh em Tin lành chấp nhận Thánh kinh nhưng không đồng ý với Thánh truyền. Trong khi đó Giáo hội Công giáo tin tưởng vào Thánh kinh, đồng thời cũng tôn trọng Thánh truyền và những lời dạy dỗ của các vị thánh khôn ngoan. Thánh truyền nghĩa là truyền thống thánh của giáo hội, khác với truyền thống tự nhiên của con người.

Giáo hội Công giáo lý luận nguồn gốc Thánh kinh khởi sự với truyền khẩu. Ðể bảo toàn nguyên ý và cũng để phổ biến cho thêm sâu rộng, các thánh sử viết lại Thánh kinh. Tiến trình hình thành đó, được áp dụng cho cả Cựu cũng như Tân ước như sau:

1. Truyền khẩu: dân chúng kể cho nhau nghe (bằng miệng) cảm nghiệm của họ về Thiên Chúa. Rồi họ kể cho bạn bè và con cháu nghe những cảm nghiệm này. Con cháu lại truyền cho đời kế tiếp những câu truyện, cảm nghiệm và kinh nghiệm đó.
2. Có những biến cố lớn xảy ra như những cuộc di cư, bị lưu đày, tai nạn xảy đến cho dân Do thái. Những biến cố này có thể làm mai một, phương hại hoặc méo mó những niềm tin, tập tục cổ truyền vẫn được truyền khẩu, do đó, các nhà biên niên sử và văn sĩ viết lại những câu truyện của đức tin cho hậu thế.
3. Xuất bản. Theo thời gian, những nhà biên niên sử, văn sĩ thu thập các tài liệu đã được biên soạn thành hệ thống, hiệu chính những gì chưa rõ, đem xuất bản và áp dụng cho cộng đoàn của mình.
Ðó là việc thành hình bộ Thánh kinh gồm 73 cuốn Cựu cũng như Tân ước. Tiến trình này không phải là đứt đoạn, thiếu liên hệ với nhau, nhưng nối kết và nằm chồng lên nhau.
Như đã trình bày ở trên, từ những khác biệt căn bản này về việc áp dụng Thánh kinh và Thánh truyền, nhiều vấn đề khác đã được nêu lên, mà ngay cả bây giờ chúng ta cũng đang phải đương đầu. Ở đây, chúng ta sẽ cùng nhau thảo luận vấn đề căn bản mà người ta cho rằng chính vì vấn đề này Luther quyết định tách rời ra khỏi Giáo hội Công giáo.

Ân sủng trong ơn cứu chuộc:

Luther, nguyên là một linh mục công giáo, trong suốt cuộc đời cứ bị dằn vặt giữa hai ý tưởng công bằng (1) và bác ái (2): Chúa yêu thương và muốn cứu rỗi loài người, con người cũng muốn được cứu rỗi, nhưng luôn luôn hướng chiều về tội. Vậy ân sủng cứu chuộc do bởi đâu? Do bởi bác ái hay do bởi Công bằng? Ðâu là sự kết hợp giữa thương yêu và Công bằng trong ơn cứu chuộc? Ðâu là ơn Chúa và đâu là sức cố gắng của con người?

Với Luther, trọn vẹn ơn cứu chuộc được quy vào ý tưởng quan trọng: công chính hóa (justification). Con người cần công chính hóa vì tổ tiên đã phạm tội. Tội làm con người mất ân sủng với Thiên Chúa và với chính mình. Tội làm con người hư đi và dễ hướng chiều về sự ác. Ðức Kitô đến để công chính hóa, tẩy xóa tội lỗi khiến con người trở nên trong sạch. Vì vậy Giáo hội Công giáo trong bài ca đêm phục sinh đã gọi tội nguyên tổ là tội hồng phúc. Qua tội nguyên tổ, người thấy rõ tình Chúa yêu thương mình hơn, và qua tội nguyên tổ, người được Chúa yêu thương hơn.
Luther chủ trương rằng con người trở nên công chính không do công trạng mình nhưng do lòng nhân từ của Chúa. Công nghiệp con người bị giới hạn, cho nên dù có lập công đến thế nào đi nữa thì cũng bị giới hạn, không thể tự cứu chuộc. Chỉ có ơn Chúa mới chuộc tội con người. Ðiều này có nghĩa rằng công bằng nhường bước cho bác ái trong ơn cứu chuộc, và cũng chính vì bác ái chứ không vì công bằng mà Chúa sinh ra làm người.
Giáo hội Công giáo không phản đối ý tưởng này nhưng nhấn mạnh người phải cộng tác với ơn Chúa. Tân ước qua thánh Giacôbê 2,22 dạy "con người được công chính hóa qua các việc họ làm và không phải chỉ do đức tin" cùng với lời nhắn nhủ của thánh Augustin "Chúa dựng nên con không cần con, nhưng không thể cứu chuộc con nếu không có sự cộng tác của con", Giáo hội Công giáo chủ trương rằng con người không tự cứu chuộc, nhưng do ơn Chúa và với sự cộng tác của người, họ được cứu chuộc. Sự khác biệt khi cắt nghĩa ơn công chính hóa mà thánh Phaolô nhắc nhở trong thư gửi giáo đoàn Roma (Roma 3,28) và Giacôbê 2,24 đã là đề tài tranh luận giữa anh em Tin lành và Công giáo cho đến tận ngày nay.
Từ những điểm chính quan trọng trên, những lời dạy dỗ của Công giáo và Tin lành cũng trở nên khác biệt. Luther chủ trương con người được cứu độ là do tình thương của Thiên Chúa, cho nên hoặc là được cứu độ hoặc là được luận phạt. Ðiều này nghĩa rằng Luther và các giáo hội Tin lành phủ nhận tội nặng, nhẹ mà chỉ công nhận tội và ân sủng cứu chuộc. Giáo hội Công giáo, dựa theo công bằng tự nhiên, phán đoán của lý trí và những luật lệ khởi nguồn từ Cựu ước như tội rất nặng thì bị ném đá cho chết, tội nặng thì đi lưu đày một thời gian, tội nhẹ thì bị đánh đòn... lý luận hình phạt tương xứng với tội, vì không thể nào chấp nhận được rằng tội nói dối nhỏ cũng bị phạt ngang với tội giết người, ăn cắp con gà cũng bị trừng trị như ăn cắp hàng triệu đô la. Do đó, Công giáo nhắc nhở đến việc xin Chúa tha thứ không chỉ tội, nhưng còn phân biệt tội nặng và tội nhẹ.
Lm. Ðào Quang Chính, OP