Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện Các Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện Các Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2015

Phim: Thánh Phêrô Tông Đồ (Full)

Nguồn sử liệu chính giúp chúng ta tìm hiểu về cuộc đời của Thánh Phêrô là sách Tân Ước mà chủ yếu là bốn sách Phúc Âm và sách Tông đồ Công vụ. Tân Ước nhắc đến Thánh Phêrô khoảng 154 lần, dưới danh xưng Hy Lạp Petros, thường gắn liền với tên Do Thái Simêon (đọc theo kiểu Hy Lạp là "Simon"). 
Tên khai sinh của Ngài là Simon, và tên của cha là Giona. Danh xưng tiếng Hy lạp "Petros" gốc từ "petra" có nghĩa là "đá", do Chúa Giêsu đặt cho Thánh Nhân; trong tiếng Aram là Kêpha (xuất hiện trong các thư của Thánh Phaolô).

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015

Phim và Truyện Thánh Maria Goretti Trinh Nữ Tử Đạo


THÁNH MARIA GORETTI, TRINH NỮ TỬ ĐẠO
( 16.10.1890 – 6.7.1902 )

Teresa Maria Goretti sinh ngày 16.10.1890 tai Corina, một làng nhỏ thuộc nước Ý. Goretti được sinh ra trong một gia đình Công giáo đạo đức, thanh cao. Ông Luygi cha của Goretti, một người cha cần cù, biết nhìn xa trông rộng mọi cảnh huống trong gia đình. Bà Axunta, một người mẹ hiền hậu, bao giờ cũng tỏ ra thương chồng và yêu các con.

Năm lên 9 tuổi, Goretti theo cha mẹ sang Phêri để sinh sống cho cuộc sống đỡ chật vật hơn. Nhưng không may, mới ở Phêri được một năm thì cha em đã qua đời vì bệnh tật. Cái chết đau thương của người cha thân yêu đã ghi sâu trong tâm trí em kể từ ngày ấy và luôn luôn cô cầu nguyện cho cha mình. Thời gian lặng lẽ trôi, anh trai, Goretti và các em sống trong tình cảnh mồ côi cha, luôn túng bấn và thiếu gạo ăn. Hằng ngày mẹ và anh phải ra đồng, còn Goretti ở nhà trông các em và cơm nước. Em thay mẹ lo mọi việc trong nhà, nên chỉ mới 12 tuôi đầu mà em đã rất đảm đang và quán xuyến. Ai nhìn em cũng phải khen em thật là xinh, khuôn mặt trái xoan, mũi cao, trán cao, tóc đen và dài, em có đôi môi đỏ và thân hình đang tuổi dậy thì. Vì hoàn cảnh túng thiếu, nghèo khó nên từ nhỏ em đã không được đến trường học. Em không biết viết cũng không biết đọc, chỉ thuộc những kinh nguyện do mẹ dạy vào những buổi chiều hay buổi tối trước khi đi ngủ.

Mãi tới năm 12 tuổi, Goretti mới được rước lễ lần đầu tại nhà thờ Netturo cách làng Phêri 12km. Sung sướng và hạnh phúc biết bao đã từ lâu lắm em mong ước có ngày này, được rước Chúa vào lòng. Em đã thầm cầu nguyện, xin ơn cho người cha đã qua đời, xin cho mẹ đỡ vất vả để nuôi dạy các con nên người, và nhất là em đã xin Chúa cho em có một tâm hồn trong trắng, chăm chỉ làm việc, sống đạo đức và ngoan ngoãn.

Ngay bên cạnh nhà Goretti gia đình ông Xeren, ông Xeren có cậu con trai 17 tuổi là Alexander. Mồ côi mẹ từ khi mới vừa sinh ra nên Alexander đã sống thiếu tình mẹ xa tình cha: tâm hồn anh trống rỗng, lầm lì, thiếu văn hóa. Ông bà Luygi rất nhiều lần không nén lòng nổi kêu trách về Alexander thì ông Xeren cũng chẳng quan tâm mà dạy bảo gì. Điều đó làm cho ông bà Luygi muốn sớm đưa gia đình mình về lại Corina sống để tránh cho các con học đòi theo những thói hư của Alexander.

Rồi một chiều thứ bảy, sau khi đọc kinh xong, Goretti đang lúi húi sửa lại những bông hoa cắm trong bình và thay những cây nến mới. Alexander sang bên nhà muốn nhờ Goretti khâu lại khuy của chiếc áo sơ mi, Goretti nhận lời Alexander sang sửa giúp chiếc áo vì lòng bác ái. Anh đứng nhìn Goretti khâu áo, thì lúc này trong tâm trí anh nhận thấy Goretti là một thiếu nữ xinh đẹp hơn là thánh thiện. Anh muốn yêu cô và ước mong được sống gần cô. Không thể kiềm chế nổi mình, ngay khi Goretti vừa cất kim chỉ đi thì anh đã chạy lại ôm lấy cô và cố hôn lên đôi má bầu bĩnh của cô. Goretti thấy cử chỉ sàm sỡ của Alexander liền chống cự và đẩy anh ra. Thấy mình bị Goretti chống cự anh bỏ ra và hăm dọa nếu cô nói với ai biết chuyện này thì cô sẽ bị mất mạng.

Goretti hoảng sợ vội chạy ra vườn, trong lòng em buồn sầu và bối rối. Em mong được đi xưng tội ngay.

Mấy tháng êm đêm trôi qua, mùa hè đến. Chiều hôm đó trời như sắp có giông, bà Axunta giục con trai và cậu Alexander nhanh chóng thu lúa đang phơi ngoài bãi vào kho. Goretti ở lại cho em bé út ngủ và chuẩn bị cơm chiều. Alexander còn nấn ná muốn trò chuyện với Goretti và lại nhờ Goretti vá lại chiếc áo vừa bị rách, anh chạy về phòng lấy để đưa cho Goretti làm rồi anh ra sân. Một lúc sau anh nghĩ, chỉ có mình Goretti ở nhà và đây là dịp tốt để gần cô, anh nhờ bà Axunta coi bò giúp đẻ anh về nhà. Anh vào nhà thì thấy Goretti vẫn đang lúi húi khâu vá. Với tay cầm con dao cắt hoa quả để trên bàn, anh chỉ định dùng để dọa nếu lần này Goretti lại kháng cự. Anh gọi Goretti sang phòng anh, nhưng Goretti lưỡng lự không sang, anh liền tới nắm lấy tay cô và kéo sang. Goretti sợ hãi kêu cứu, liền đó anh đưa dao lên kề vào cổ cô mà dọa. Alexander vẫn chờ đợi sự ưng thuận của Goretti, còn Goretti một mực chống cự lại, trong lúc tức giận không kiềm chế nổi hành vi của mình anh đã đâm liên tiếp tám nhát dao vào ngực Goretti. Goretti quị xuống cố lết ra ngoài cửa, Alxender đuổi theo đâm tiếp bốn nhát dao nữa trên người Goretti rồi thất thần ném con dao đi rồi gục xuống bên Goretti.

Đúng lúc đó ông Xeren đi vào nhà chợt nhìn thấy Goretti nằm trên vũng máu liền kêu lớn tiếng để mọi người tới giúp. Tiếng Goretti rên rỉ trong đau đớn:

- Chính… chính Alexander, Lạy Chúa… con chết mất!

Mọi người chạy đi gọi bác sĩ và cảnh sát, Alexander thì bị giữ lại nhốt vào phòng chờ cảnh sát đến.

Bác sĩ đến và xơ cứu vết thương rồi vội đưa em vào bệnh viện ngay để giải phẫu. Các bác sĩ đều thất vọng vì nhiều vết thương quá sâu và máu bị chảy ra quá nhiều, khó lòng em có thể sống qua được đến ngày mai.

Sáng sớm hôm sau, Cha Tuyên Úy đến làm các phép cho em, em nhận ra cha, nét mặt tươi vui:

- Cha của con!

- Con yêu dấu! Con bớt đau chưa? Con ạ, đau đớn là hạnh phúc cho con, nếu con vui nhận vì Chúa.

- Vâng, thưa Cha.

Ba giờ chiều cùng ngày, đôi môi em vẫn mấp máy câu nguyện rồi bỗng nhiên em uốn người kêu lớn tiếng:

- Alexander! Không được làm thế! Sa hỏa ngục đó.

Người em lịm dần, em ngừng thở nhưng nét mặt vẫn xinh tươi như bông hoa vừa được ngắt đi.



Đúng sáng ngày 8.7.1902 thánh lễ an táng Goretti được cử hành trọng thể. Rất đông người dân trong thành kéo nhau về tham dự. Mọi người đều rất thương nhớ và cảm kích lòng dũng cảm của em.

Trên bia mộ của em được ghi hàng chữ:

MARIA GORETTI

THIẾU NỮ 12 XUÂN XANH

Sinh ngày 16.10.1890

đã tạ thế ngày 6.7.1902

Vì bảo toàn bông huệ khiết trinh

Ngày 24.4.1947 tại Đền Thờ thánh Phêrô, Đức Giáo Hoàng Piô đã phong Chân phúc cho Maria Goretti.
Ngay 24.6.1950 Chân Phúc Maria Goretti được vinh quang hiển thánh, Thánh Trinh Nữ Tử Đạo.
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
ĐỜI ĐỀN TỘI CỦA ALEXANDER

Tòa tuyên án 30 năm tù khổ sai lưu đầy ra đảo Xirin đối với Alexander vì tội cố sát.

Lúc đầu Alexader không chút ân hận gì về tội lỗi mình gây ra mà chỉ biết giận đời. Một thời gian ngắn sau ở trong tù, một điều kỳ diệu đã đến làm thay đổi tâm hồn Alexander: Anh đã nằm mơ thấy Goretti đi dạo trong vườn có rất nhiều hoa đẹp, Goretti tươi cười nhìn anh và ngắt tặng anh một bông huệ trắng tinh cùng với những bông hoa hường đỏ. Tỉnh giấc, tâm hồn tội lỗi trong anh cũng thức tỉnh. Ngay sang hôm sau anh xin được gặp Cha Tuyên Úy để xưng tội. Cha ân cần giải thích:

- Bông huệ trắng vốn tượng trưng cho đức trinh khiết, hoa hường đỏ tượng trưng cho phúc tử đạo. Maria Goretti mà anh đã sát hại một cách tàn nhẫn chắc chắn đã tha thứ cho anh bằng cách tặng hoa và còn cầu nguyện cho anh. Xin Chúa dủ lòng thương xót vì máu nàng đã đổ ra để bảo vệ đức trinh trong ban cho anh ơn thống hối mà lo chuộc lỗi lầm.

Thật vậy, nhờ lời cầu nguyện của Goretti, Alexander đã trở về với Chúa, tính tình cũng đã thay đổi, nhờ đó mà anh được ân xá trước mười năm. Vừa ra khỏi tù, anh liền tìm đến nhà Goretti gặp bà Axunta để xin được tha thứ. Với lòng nhân hậu bà đã đón tiếp và mời anh ở lại dùng bữa cơm thân mật với gia đình, đúng ngày sinh nhật của Goretti năm 1937.

Sau đó, anh đến xin làm lao công trong một tu viện dòng Phanxico: để sống cuộc đời đền tội.

Teresa Avila Phạm Thùy Chi ( sưu tầm và biên soạn )

Tài liệu tham khảo:

- Chuyện thánh Maria Goretti

- Ca nguyện thánh nữ Maria Goretti của Cha Giuse Vũ Ngọc Bích, DCCT

- Ngày lễ thánh Maria Goretti trong tập Mai Mốt của Linh mục Nguyễn Châu Hải.

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2015

Thánh Gioan Maria Vianney và Tòa Giải Tội

Thánh Gioan Maria Vianney và Tòa Giải Tội
Có thể nói rằng: phép lạ vĩ đại của cha Thánh Gioan Maria Vianney là tòa giải tội, nơi tội nhân được ơn hoán cải. Mỗi ngày, ngài ngồi giải tội từ 11 giờ đến 12 giờ vào mùa Đông, và thậm chí là 16 đến 18 giờ vào mùa Hè. Khi hành hương đến xứ Ars, trước tiên tôi tìm đến tòa giải tội nơi thánh nhân ngồi mấy mươi năm, quỳ gối cầu nguyện và xin ngài chúc lành cho sứ vụ hòa giải trong đời linh mục của mình.

Công việc mục vụ ngồi tòa, giải tội là sứ vụ đức ái mục tử đẹp nhất trong cuộc đời của cha thánh, là hoạt động sáng chói nhất trong nhiệm vụ của một mục tử.

Thời trẻ, Gioan có một tâm nguyện: "Nếu một ngày nào đó tôi được làm Linh mục, tôi sẽ đưa nhiều linh hồn về cho Chúa". Khi làm Linh mục, ngài đã thực hiện tâm nguyện ấy. Tòa giải tội là nơi ngài đưa các linh hồn về cho Chúa nhiều nhất. Tòa giải tội đã thu hút biết bao hối nhân tìm đến với xứ Ars. Tòa giải tội là phép lạ lớn nhất trong cuộc đời của thánh nhân. Đức Giáo Hoàng Piô XII viết về cha thánh Gioan Maria Vianney một câu thật ngắn gọn: "Một chuyên viên thành thạo nhất về các tội nhân".

1. Thời gian ở tòa giải tội.

Một phần lớn cuộc đời Linh mục của cha Vianney trôi qua trong tòa giải tội. Trong 30 năm dài, một làn sóng người hành hương không ngừng đổ về ngôi nhà thờ cũ kỷ của họ Ars. Mùa đông rét buốt, số người đến đây không ít hơn các mùa ấm áp.

Tứ tháng 11 đến tháng 3, cha sở phải ngồi tòa trung bình không dưới 12-13 giờ mỗi ngày. Người ta đứng thành hàng dài, từ trong nhà thờ ra bên ngoài, nối đuôi nhau không ngớt chờ đợi tới phiên mình.

Trong năm 1845, có ngày số người hành hương đến Ars lên tới ba hay bốn trăm. Tại nhà ga lớn nhất của Lyon, người ta mở một văn phòng hoạt động 24/24 để bán vé tàu cho khách đi Ars, vé có giá trị tám ngày, đó là thời gian trung bình người ta phải đợi cho đến phiên mình vào tòa xưng tội với vị Linh mục thánh thiện nổi tiếng.

Vào mười năm cuối đời, Thánh Vianney phải giải tội từ mười sáu đến mười tám tiếng một ngày! Còn khách hành hương nói chung phải đợi ba mươi, năm mươi, bảy mươi giờ trước khi được lãnh nhận bí tích hòa giải. Cũng có khi người ta mua lại chỗ đứng của người nghèo. Ai muốn đi ra ngoài phải thỏa thuận với người bên cạnh hoặc với người bảo vệ nhà thờ. Đêm thì sao? Khi cửa nhà thờ đóng lại, người ta đánh số chổ của mình. (x.Linh mục, người loan báo Tin Mừng, Lm Nguyễn Hồng Giáo, OFM).

2. Ai đến với tòa giải tội?

Họ gồm đủ mọi thành phần và lứa tuổi: có giáo dân, tu sĩ, linh mục và đôi khi cả giám mục nữa; họ là quý tộc và bình dân, kẻ vô chủ nghĩa và người học thức, người thành thị và người thôn quê,... Có khi nguyên một gia đình ngồi trên xe ngựa đến từ những tỉnh xa xôi. Từ những vùng lân cận, người ta tuôn về đây bằng đôi chân hay bằng xe, theo đường bộ hay đường thủy. Năm cuối cùng của cuộc đời cha Vianney (1858-1859), số khách hành hương lên tới tám mươi ngàn, chỉ tính riêng số người dùng các phương tiện chuyên chở công cộng; còn tính chung có lẽ là khoảng một trăm ngàn đến một trăm hai mươi ngàn.

Đám đông này rất trật tự và nghiêm trang. Họ đến là để nhìn một vị thánh, để xưng tội, để cầu nguyện hay để hoàn thành một lời khấn với thánh nữ Philomêna. Có những người vào làng Ars như vào một đền thánh; vừa nhìn thấy tháp chuông nhà thờ, họ liền cất nón mũ xuống và làm dấu thánh giá. Một nhân chứng kể lại quang cảnh họ nhìn thấy vào tháng ba năm 1859: đông đảo những người ngoài họ Ars đứng trong nghĩa trang cũ và đến tận trong những con đường nhỏ kế cận chờ đến phiên vào tòa giải tội.

Buổi sáng vào khoảng chín giờ, Cha Vianney dành một số thời gian cho các tu sĩ và linh mục. Ngài giải tội cho họ ở một tòa đặt sau bàn thờ chính. Có lần Đức Giám mục địa phận nhà cũng ngồi chờ phiên mình. Cha giải tội cũng dành một số ngoại lệ cho giáo dân con chiên cha, người bệnh, người tàn tật và những hối nhân không thể chờ đợi. Đối với trường hợp cuối cùng này, ngài thường dùng ơn "nhìn thấy trong tâm hồn" để nhận ra từ trong dòng người chờ đợi, rồi ưu tiên cho họ.(sđd, trang 62-63).

3. Cha Vianney khuyên bảo các hối nhân như thế nào?

Nói chung, ngài mạnh mẽ thẳng thắn, nhân từ nhưng không yếu đuối. Ngài biết cần phải "đánh" điểm nào cho trúng đích. Đọc một số lời khuyên còn ghi lại, tôi thấy ngài thường ngắn gọn, đầy tâm tình chứ không máy móc lạnh lùng.

Để lay tỉnh những "đại tội nhân", khá nhiều khi ngài tung ra một câu đanh thép: "này con, con bị luận phạt đời đời". Phát ra từ môi miệng một vị thánh mà người ta tin là ngài đọc được tương lai, câu đó giống như một lời phán quyết khủng khiếp. Nhưng thật ra ngài chỉ muốn nói: "nếu con không xa lánh dịp tội ấy, nếu con cứ duy trì cái thói quen tội lỗi ấy, nếu con không nghe theo lời khuyên dạy thì con sẽ bị luận phạt".

Đối với những người đạo đức, ngài không cần nhiều lời. Nhưng ngay cả với trường hợp này, vẫn là những mũi tên nóng bỏng đâm thấu tận con tim: "xin Đức Cha yêu thương các Linh mục của ngài!". Đó là lời duy nhất ngài nói với Đức cha De Langalerie, Giám mục địa phận Belly đang quỳ gối trước mặt ngài. Một cộng sự viên gần gũi của ngài xưng thú: "con đã lười biếng làm điều này nhưng tận đáy lòng, con vẫn thiện chí", cha giải tội đáp lại duy nhất một câu "Ồ! thiện chí, thiện chí ... hỏa ngục cũng lót toàn thiện chí". Linh mục Monnin kể: "tôi đã xưng tội với ngài hai lần. Lần nào cũng thế, sau mỗi tội tôi xưng ra dù là tội nhẹ nhất, ngài đều nói: 'đáng tiếc quá'. Từ một người khác, đó có thể là một cách nói thông thường, nhưng từ môi miệng của Cha Sở họ Ars, Linh mục Monnin coi như là tiếng kêu của lòng tin, lòng thương xót và sự ghê tởm đối với tội lỗi; ngài thêm: "Nhất là giọng nói đầy âu yếm đã đánh động tôi" (sđd, trang 64).

4. Cha Vianney yêu thương tội nhân.

Cha Vianney ghê tởm tội lỗi bao nhiêu thì yêu mến người tội lỗi bấy nhiêu. Ngài có một lòng cảm thương vô bờ đối với hối nhân. Tình yêu ấy được biểu lộ qua những nhân đức sau đây.

a. Cầu nguyện cho tội nhân.
Xen lẫn với kinh nguyện hằng ngày, ngài thường khóc lóc mà thưa với Chúa: "Lạy Chúa, Chúa không muốn kẻ có tội phải chết... Những người có tội thật đáng thương. Ước gì con có thể thú tội thay cho họ". Một người thân tín nói với ngài: "Cha cầu nguyện cho họ ít đi một tí được không? Thấy cha vất vả đau khổ quá!. Ngài trả lời: "Biết sao được. Cha đã hứa cầu nguyện cho họ, cha không thể bỏ...". Lần khác ngài tâm sự: "Tôi chỉ thực sự là tôi khi tôi cầu nguyện cho những người tội lỗi".

b. Đền tội thay cho họ.
Ngài ăn chay hãm mình để đền bù tội lỗi và mong cho tội nhân hối cải.Trong những năm cuối đời, ngài thường ra việc đền tội nhẹ cho hối nhân. Ngài nói: "Tôi ra việc đền tội nhẹ cho họ, phần đền tội còn lại, tôi sẽ làm thay". Và ngài làm thay bằng chính sự khổ chế của mình. Tất nhiên, không phải lúc nào cũng vậy. Đối với những lỗi nặng mà cứ tái phạm mãi, ngài bắt hối nhân phải làm những việc đền tội nặng, để họ chứng tỏ sự chân thành và quyết tâm sửa đổi, hầu đem lại lợi ích cho chính họ. Cha Vianney nhiều khi còn khóc trong tòa giải tội nữa. Ngài khóc vì người ta xúc phạm tới Chúa, ngài cũng khóc vì thương các linh hồn... Chính sự thánh thiện của ngài mang lại cho lời khuyên răn và nước mắt của ngài có sức mạnh và hiệu lực. Có người hỏi: "sao cha khóc thế?" ngài đáp ngắn gọn: "tôi khóc vì các ông các bà không khóc cho đủ".

c. Yêu thương tội nhân
Đối với những tội nhân cứng lòng, ngài tìm hết cách giúp họ thống hối như gặp gỡ, khuyên nhủ, khi nặng khi nhẹ, và ngay cả bằng nước mắt. Nước mắt và Thánh giá, nhờ ngài, có thể làm cho một trái tim chai đá trở thành trái tim thịt mềm. Có người lúc trước đã trả lời thẳng thừng: "Tôi không muốn xưng tội", hoặc: "Tôi không đến đây để làm cái chuyện đạo đức của mấy bà". Mặc kệ. Cuối cùng tất cả đều quỳ xuống dưới chân ngài và xưng thú. Chúa đã ban cho ngài một trực giác lạ lùng để nhận ra giữa đám đông hoặc giữa những người đi qua, ai là kẻ cần được đưa về với Chúa nhất để giúp họ, trước sự ngạc nhiên của chính họ. Do đó mà khi có người buột miệng hỏi: "Mỗi năm cha bắt được bao nhiêu cá lớn?", ngài trả lời ngay, không lưỡng lự: "Hơn 700". Không nhớ con số sao được đối với những con cá như thế!

d. Luôn nhẫn nại
Một dù vất vả ngồi tòa và có những chuyện dễ làm người ta bực mình, nhưng ngài thì không. Ngược lại, ngài tỏ ra đặc biệt nhẫn nại. Đây là một trong những đức tính nổi bật nhất nơi ngài. Một linh mục đã nhận xét : Tôi đã từng quan sát kỹ xem ngài có tỏ ra bất nhẫn bực tức lúc nào không, mà không thấy. Đem chuyện này hỏi ngài thì được ngài trả lời: "Phải nhẫn nại mới có thể cho cái người ta cần chứ ! Bất nhẫn thì được cái gì ?" Ngài cũng nói với một cha bạn: "Hãy học tập sự nhẫn nại của Chúa".

e. Hiền hòa, kính trọng hối nhân.
Vào thời kỳ cao điểm, bình quân mỗi ngày có từ 300 đến 400 người xếp hàng xưng tội. Công việc vất vả và liên tục trong 30 năm này đã làm cho ngài kiệt lực, đến nỗi có lần ngài tự thú: "Khi tôi rời tòa giải tội, tôi phải lấy tay sờ vào đùi xem nó có còn ở đấy không. Đôi khi ra khỏi nhà thờ, tôi phải vịn vào tường mà đi cho khỏi ngã. Đầu tôi nặng trĩu. Thực sự tôi đã không biết mình chống lại như thế nào".

Suốt ngày bị công việc mục vụ dồn ép như thế, ngồi nghe hối nhân hàng giờ như thế mà ngài vẫn không mất kiên nhẫn, không la lối nạt nộ ai bao giờ, thật là lạ lùng.

Ngài luôn hiền hòa, tế nhị, kính trọng đối với hối nhân, bất kể là ai. Có Linh mục sa ngã nặng đến xưng tội vẫn được ngài yêu mến, kính trọng. Lời khuyên dành cho Đức Giám Mục Giáo Phận đến xưng tội với ngài là : xin Đức cha hãy yêu thương các Linh mục của Đức cha.

Dù có đông người xếp hàng bên tòa giải tội, ngài vẫn dành cho mỗi người một thời gian cần thiết, bởi người nào cũng có vấn đề riêng của mình. Ngài không khuyên dài, nhiều khi chỉ một lời thôi, nhưng là lời làm cho hối nhân phải động tâm suy nghĩ, một lời tác động mạnh trên họ có khi cả đời. Chính sự thánh thiện và yêu thương đem lại sức mạnh và hiệu năng cho lời đó. (x. Thánh Gioan Maria Vianney, bổn mạng các Linh mục, Lm Micae Trần Đình Quảng; simonhoadalat.com).

5. Theo gương cha thánh, Linh mục cử hành Bí Tích Hòa Giải
Giải tội là một tác vụ khó khăn nhất, đòi hỏi nhất, nhưng đó là một tác vụ cao đẹp nhất, an ủi nhất của Linh mục trong đời mục vụ. (x.Chân dung Linh mục trang 39, ĐGM Giuse Vũ Duy Thống).

Là tác vụ khó khăn nhất bởi lẽ, ngồi tòa giải tội giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Với một tư thế không đổi là lắng nghe, phân định, khuyên nhủ, ban phép giải tội. Nghe đi nghe lại đủ thứ tội luỵ trần gian. Linh mục Nguyễn Tầm Thường đã dùng hình ảnh "cái bô rác" để nói về lỗ tai các Linh mục, chứa đựng mọi rác rưới tội lỗi hồng trần, nhưng Linh mục không để mình bị lây nhiễm rác rưới.Trí óc luôn làm việc căng thẳng. Một tư thế ngồi, tay cầm tràng hạt, tay chống trán, đầu tựa vào tòa nghe chăm chú. Có khi cơ thể mệt mỏi ê ẩm mà không được nghĩ ngơi.

Là tác vụ đòi hỏi nhất bởi lẽ, trước khi ngồi tòa, Linh mục đã phải chuẩn bị bằng cách trang bị kiến thức tương hợp; trong khi giải tội, linh mục phải vận dụng khôn ngoan để phân định, cương nghị để khuyên can, nhân từ để xá giải; sau khi đã ra khỏi tòa hòa giải, Linh mục phải trung tín với ấn tòa giải tội. Nếu điều Linh mục phải nhớ trong ngày là sách nguyện, thì điều Linh mục phải quên chính là tội người ta xưng.

Là một tác vụ cao đẹp nhất và an ủi nhất bởi lẽ, qua trung gian Linh mục, hối nhân gặp được trái tim đầy thương xót của Thiên Chúa. Và đó là hạnh phúc. Người ta bảo trên đời có ba bóng dáng hạnh phúc tinh ròng: mẹ đem con đi rửa tội về, người lành tạ thế và hối nhân từ tòa giải tội bước ra.

Nếu như hạnh phúc của người truyền giáo là có một người được rửa tội thì hạnh phúc của Linh mục giải tội là có một tội nhân được giao hòa với Chúa, được tìm lại ơn thứ tha và nguồn bình an, niềm vui tâm hồn. Hối nhân càng nhiều tội lỗi, càng lâu năm xa cách nguội lạnh mà được ơn trở lại thì Linh mục càng dâng đầy hạnh phúc. Có những hối nhân đã khóc nức nở khi sám hối về tội lỗi của mình và nhận ra lòng thương xót của Chúa. Họ quỳ đó, khóc chân thành với những dòng lệ ăn năn. Nước mắt hạnh phúc của người con trở về với Cha nhân từ. Những nổi đau thể xác, tâm hồn được bộc bạch. Có những người mẹ, người vợ thổ lộ tâm sự của gia đình, tâm tư không thể nói cùng ai chỉ trừ Cha giải tội. Thanh niên nam nữ với những thao thức tuổi trẻ xin linh hướng. Thiếu nhi đón nhận lời thăm hỏi khuyên bảo.

Có nhiều tâm hồn trong sáng, thánh thiện đến tòa giải tội đã làm gia tăng lòng đạo đức của linh mục.

Thi hành tác vụ cao đẹp ấy, Linh mục là người diễn dịch lòng yêu thương nhân từ của Thiên Chúa (Thư Thứ Năm Tuần Thánh 2002, số 3).

Để có thể thi hành tác vụ của lòng thương một cách hữu hiệu, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II khuyên Linh mục phải sống khả tín và khả ái.

- Khả tín: "Thật vậy, dù ơn Chúa ban có thể hoàn tất công trình cứu rỗi qua những thừa tác viên bất xứng, nhưng thường tình Thiên Chúa muốn tỏ ra những việc lạ lùng của Ngài qua những vị sẵn sàng đi theo sự thúc giục và hướng dẫn của Thánh Thần hơn, bằng kết hợp mật thiết với Chúa Kitô và bằng một đời sống thánh thiện" (PO, 12)

- Khả ái: "Người ta thường muốn được nhận biết và chăm sóc, vì chính trong tư thế gần gũi này mà họ có thể cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa một cách mạnh mẽ hơn" (Thư TNTT số 9). Linh mục phải làm hết cách để lòng thương xót của Thiên Chúa được sáng lên giữa những cử hành"Nghiêm nhặt quá làm cho dân chúng bị dằn vặt tháo lui. Dễ dãi qúa gây hiểu lầm và ngộ nhận. Đấng giải tội rập theo gương Chúa Chiên lành mà tha tội phải diễn đạt đúng mực thước lòng đã sẵn có và sự tha thứ hầu mang lại an bình và chữa lành" (Thư TNTT số 8).

Nhân ngày lễ kính thánh Gioan Maria Vianney (ngày 4 tháng 8), đọc lại nét tiêu biểu cuộc đời thánh nhân nơi tòa giải tội. Như người ta đã nói: phép lạ lớn nhất của cha Vianney thánh thiện là tòa giải tội của ngài bị bao vây suốt ngày đêm. Cũng có thể nói cách khác: phép lạ tiêu biểu của ngài là sự hoán cải của những người tội lỗi. Các Linh mục noi gương cha thánh thực thi sứ vụ khó khăn và cao đẹp này. Mỗi lần ban ơn xá giải là Linh mục thấy mình được cộng hưởng trên đường nên thánh.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2015

Tiểu sử Thánh Gioan Vianney

TIỂU SỬ THÁNH GIOAN MARIA VIANNEY

Thánh Gioan Maria Vianney, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1786 tại Lyon nước Pháp và sau bao nhiêu khó khăn gian khổ, Gioan Maria Vianney được chịu chức linh mục và được giao phó nhiệm vụ làm cha sở họ Ars, một giáo xứ vừa nghèo vừa khô khan nguội lạnh. Cha Gioan Maria Vianney đã lãnh nhận giáo xứ này với tinh thần vâng phục cao độ. Ngài quả là vị mục tử gương mẫu. Cuộc đời của ngài là cuộc đời chỉ biết lo cho việc loan báo Lời Thiên Chúa, giải tội, cầu nguyện và hãm mình. Có nhiều lúc, khuôn mặt ngài rạng rỡ khác thường, nhờ tình yêu bắt nguồn từ bí tích Thánh Thể mà ngài đem hết lòng sốt sắng để vừa cử hành, vừa thờ phượng.

Khi mới 8 tuổi ngài mới học đọc và biết viết. Vì nhà nghèo nên được cha sở nuôi dạy, và sau đó đã đưa ngài vào chủng viện. Vào trong chủng viện ngài không học được gì cả.

Ngày kia, một giáo sư thần học, thừa lệnh Đức Giám mục đến khảo sát Vianney xem có đủ khả năng học vấn để tiến tới chức Linh mục không. Nhưng Vianney không thể trả lời câu nào.

Nổi nóng, vị giáo sư đập bàn, nói: “Vianney, anh dốt đặc như con lừa! Với một con lừa như anh, Giáo Hội hy vọng làm nên trò trống gì!”

Vianney khiêm tốn bình tĩnh trả lời: “Thưa thầy, ngày xưa Samson chỉ dùng một cái xương hàm con lừa mà đánh bại 3000 quân Philitinh. Vậy với cả một con lừa này, chẳng lẽ Thiên Chúa không làm được việc gì sao?”

Cuộc cách mạng 1789 bùng nổ khiến thầy Vianney phải bỏ dở việc học. Nhưng sau đó thầy tìm hết cách để tự học dưới sự dìu dắt của cha xứ. Nhưng khổ thay, học mấy cũng chẳng nhớ. May lúc ấy địa phận gặp phải cảnh khan hiếm linh mục nên Vianney được bề trên gọi về để khảo hạch. Và lẽ dĩ nhiên là lần nào Vianney cũng trượt.

Vianney không nản lòng, cứ tiếp tục học. Cuối cùng, bề trên thấy thầy bền chí quá bèn gọi cha xứ đến để hỏi về thầy:

- Thầy có lòng đạo đức không?

- Thưa có.

- Thầy có kính mến phép Thánh Thể?

- Thưa có.

- Thầy có siêng năng lần hạt không?

- Thưa có.

Cha chính quyết định: “Thôi, cho thầy chịu chức vì thầy bền chí, chứ nếu cứ khảo hạch mãi thì không bao giờ đỗ được.”

Như vậy thầy Gioan Maria Vianney được làm Linh mục là nhờ “phép chuẩn.” Vì tuy học hành kém cỏi, đầu óc mù tịt, nhưng nhờ có lòng đạo đức và sự bền chí mà ngài đã được thụ phong Linh mục. Nhưng khi làm Linh mục rồi, Chúa đã ban cho ngài rất nhiều ơn đặc biệt đề cứu các linh hồn, đến nỗi một lần kia, quỷ Satan đã phải nói với ngài: “Nếu trên thế giới có hai đứa như mày thì bọn tao đành phải thất nghiệp mất.”

Nhìn vào “cuốn tự điển cuộc sống” của thánh Vianney, người ta đọc thấy toàn là những chữ: ăn chay, hãm mình, đền tội, khổ hạnh… Nhìn vào gương mặt của ngài, người ta cũng gặp thấy toàn là những nét: gian truân, khắc khổ, lao nhọc, đau thương… Thế nhưng, trong con người ấy lại chói ngời một quả tim luôn tươi vui, từ ái và yêu thương đối với hết mọi người.

Hàng ngày, vào khoảng 12 giờ, cha Vianney rời nhà thờ và trở về nhà xứ để ăn trưa. Đến một giờ, ngài lại vào toà giải tội và ngồi ở đó mãi cho đến tối. Trong khoảng thời gian nghỉ ngơi vắn vòi ấy, cha Vianney phải tranh thủ để làm bao nhiêu công việc. Thường khi ăn cơm bao giờ ngài cũng đứng, vì ngồi thì sợ sẽ kéo dài giờ ra. Vừa ăn xong, ngài vội đi thăm các trẻ mồ côi, các em mẫu giáo… Ai cũng thấy ngài vui tươi âu yếm và sung sướng giữa những tâm hồn đơn sơ ấy. Từ giã các em, ngài rảo bước đến nhà các kẻ ốm liệt; gặp ai dọc đàng, ngài cũng ủi an thăm hỏi. Các gia đình đều mong cha sở đến thăm, vì đối với họ, dường như nơi ngài tàng ẩn một niềm vui không bao giờ cạn. Lúc trở lại nhà thờ ngài thường trao đổi một vài lời vắn tắt, có lúc rất dí dỏm, hài hước với các khách hành hương đang đứng trước sân nhà thờ chờ đến lượt vào toà xưng tội.

Lần nọ, cha Vianney gặp một bà trong xứ đến chào ngài. Biết rõ bà là người thật lắm mồm lắm mép, ăn nói huyên thuyên suốt ngày, ngài liền hỏi:

- Trong suốt năm, có tháng nào con nói ít hơn mọi tháng không?

Bà ta bỡ ngỡ, ấp úng thưa:

- Thưa cha, con thì quen thói rồi, tháng nào cũng nói như nhau cả.

- Không, có một tháng con nói ít hơn, con biết tháng nào không?

Bà ấy ngẩn ngơ:

- Tháng nào thưa cha?

- Tháng Hai dương lịch, vì tháng đó chỉ có 28, 29 ngày thôi.

Ai nấy cười phá lên. Ngài vội vã bước vào toà giải tội.

Lần khác, cha Vianney thấy ở trước sân nhà thờ có một quầy hàng bán chuỗi, tượng ảnh và có cả hình của ngài nữa. Ngài bèn dừng lại, cầm lấy tấm hình của mình đưa lên cao cho mọi ngài xung quanh coi và nói:

- Thiên hạ dại dột thật. Cái hình nhăn nheo như con khỉ khô thế này mà cũng phải mua mất một đồng quan!

Các người chung quanh được dịp cười bể bụng vui vẻ. Cha Vianney cũng cười theo, trả tấm ảnh lại rồi bước vào nhà thờ.

Về sau, Vianney đã trở thành một vị thánh thời danh, thu hút nhiều tâm hồn trở về với Chúa.

Đời sống thánh Gioan Maria Vianney quả là một tấm gương hy sinh vì Chúa và các linh hồn, đúng như lời thánh nhân thường nói: “Hạnh phúc cho một vị linh mục được chết kiệt sức vì phục vụ Chúa và các linh hồn.” Hạnh phúc ấy đã đến với thánh Gioan Maria Vianney vào ngày 2 tháng 8 năm 1859. Thánh nhân lãnh nhận Bí tích Xức dầu bệnh nhân và Bí tích Thánh Thể, ngài cầu nguyện: “Lạy Chúa, Chúa quảng đại quá khi con không đến với Chúa được, thì Chúa đến với con.”Ngày 4 tháng 8 năm 1859, khi vị linh mục đọc kinh cầu nguyện cho người hấp hối đến câu: “Xin các thiên thần Chúa đến rước linh hồn Gioan vào thành thánh Giêrusalem”, thánh nhân trút hơi thở cuối cùng một cách êm ái. Ngài hưởng thọ 73 tuổi; làm cha sở họ Arc được 41 năm.

Tin thánh Gioan Maria Viannê qua đời đã lôi kéo cả một biển người đổ xô về giáo xứ Arc. Đoàn người đông đảo đã đi qua trước xác thánh nhân suốt 48 tiếng đồng hồ.

Đức Giám mục giáo phận đã đến chủ sự Thánh lễ an táng và giảng thuyết: ngài nhấn mạnh rằng bao thế kỷ mới được thấy một cuộc đời linh mục như Thánh Gioan Maria Vianney. Thánh nhân được an táng trong nhà nguyện thánh Gioan Tẩy Giả, bên cạnh toà giải tội mà người ta đã gọi là “phép lạ lớn nhất ở Arc”.

Từ ngày ấy, biết bao nhiêu Hồng Y, Giám mục, linh mục đã đến quỳ cầu nguyện và đặt những cái hôn thành kính lên viên đá mộ thánh nhân. Ngày 31 tháng 5 năm 1925, thánh Gioan Maria Vianney được tuyên Hiển Thánh; và năm 1929, thánh nhân được đặt làm thánh bổn mạng các linh mục chính xứ trên toàn thế giới.

Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, Chúa đã làm cho thánh linh mục Gioan Maria nên một tấm gương tuyệt vời về lòng tận tụy hy sinh của một người mục tử. Vì lời thánh nhân chuyển cầu, xin cho chúng con hằng noi theo lòng bác ái của ngài mà cố gắng đem nhiều anh em về với Đức Kitô để muôn đời cùng nhau hưởng nguồn vinh phúc.

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2015

Thánh Margaret Mary Alacoque - Tông Ðồ Thánh Tâm Chúa Giêsu

Thứ Sáu, Ngày 19 tháng 6-2009

Thánh nữ Margaret Mary Alacoque - Vị Tông Ðồ của Thánh tâm Chúa Giêsu

Sinh ra trong một gia đình bình thường ở vùng Lhautecour ngày 22 tháng 7 năm 1647, Margaret lớn lên trong sự giáo dục đạo hạnh của cha mẹ. Truyện kể rằng ngay từ bé, Margaret đã có lòng sùng kính Phép Thánh Thể cách đặc biệt, và như nhiều bé gái trong các gia đình đạo đức, cô ao ước được đi tu. Tuy nhiên tình trạng sức khỏe làm cho ước vọng này của Margaret ngày càng mờ nhạt. Hơn nữa, cái chết của người cha tốt lành đã làm cho kinh tế gia đình Margaret lâm vào cảnh kiệt quệ, khiến ước mơ trở thành nữ tu của Margaret càng ngày càng xa vời hơn.

Với lòng yêu mến Ðức Mẹ, Margaret đã tha thiết cầu xin Mẹ giúp đỡ, và hứa với Ðức Mẹ rằng nếu cho cô được khỏi bệnh và gia đình khỏi đói kém thì cô sẽ đi tu. Vào năm lên 17 tuổi, sức khỏe và tình hình kinh tế gia đình khá hẳn lên. Với sức khỏe của tuổi trẻ và chút của ăn của để, Margaret đã quên đi những ước vọng của tuổi ấu thơ, và coi lời hứa với Ðức Mẹ ngày xưa chỉ là lời nói của đứa trẻ con. Cô vui vẻ yêu đời và ăn diện như các thiếu nữa xuân thì khác.

Tuy nhiên, lòng sùng kính Phép Thánh Thể cộng với tâm tình yêu mến Mẹ Maria đã nung nấu tâm hồn Margaret và thôi thúc cô thường xuyên đến nhà thờ cầu nguyện. Một ngày kia, như phép lạ, Margaret cảm nhận được tình yêu vô biên của trái tim cực thánh Chúa Giêsu bị lưỡi đòng đâm thâu qua trên Thánh Giá. Cô nhớ lại những hồng ân mà Chúa đã ban cho bản thân và gia đình cô qua lời khấn xin của cô với Ðức Mẹ. Cô liền bỏ tất cả mọi sự để vào tu Dòng Thăm Viếng.

Trong đời tu trì, cô dành trọn vẹn thời gian cho Thiên Chúa qua những công việc thường nhật của nhà dòng. Cô được nhiều thị kiến thấy Chúa Giêsu tỏ lộ tình yêu của Ngài cho nhân loại qua hình ảnh Thánh Tâm. Ðiều này đã làm cho Bề Trên cũng như nhiều người khác phải quan tâm tìm hiểu, và giáo quyền cũng dành nhiều thời gian để xem xét tính xác thực của những thị kiến mà Margaret đã mô tả. Cuối cùng, mọi người thấy rằng Margaret chính là 'người môn đệ yêu dấu của Thánh Tâm Chúa Giêsú.

Sau một thời gian điều tra kỹ lưỡng, Margaret được phong lên hàng Ðáng Kính của Giáo Hội vào tháng 3 năm 1824. Vào tháng 9 năm 1864, Margaret được phong Chân Phước, và năm 1920, Ðức Giáo Hoàng Bênêđíctô XV đã tôn phong lên hàng hiển thánh. Lễ nhớ hàng năm của thánh nữ vào ngày 16 tháng 10. Hiện nay ở Paray-le-Monial (Pháp) vẫn còn mộ của thánh nữ ngay trong ngôi nhà nguyện mà thánh nữ đã nhiều lần được thị kiến Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Minh Hoàn

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2015

Lễ hai thánh tử đạo Phêrô và Phaolô

Hai thánh tử đạo Phêrô và Phaolô

LỄ THÁNH PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ TÔNG ĐỒ

(Mt 16,13-19)

Nhờ hồng ân Thiên Chúa, ngày 29 tháng 6 hằng năm, cả Giáo hội vũ hoàn kính nhớ đặc biệt và mừng trọng thể cùng lúc lễ hai thánh tử đạo Phêrô và Phaolô, những cột trụ của Giáo hội phổ quát Chúa Kitô. Theo truyền thống, Giáo hội không bao giờ mừng vị này mà bỏ vị kia, nhưng luôn mừng kính với lòng biết ơn hai chứng nhân vĩ đại của Chúa Kitô, và đồng thời tuyên xưng long trọng về một Giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo, và tông truyền.

Phêrô có tên gốc là Simon, người Galilê làm nghề chài lưới, sống ở Capharnaum bên hồ Tibêria. Phaolô có tên là Saolê, người Do thái lưu vong, sinh tại Tarsô miền Tiểu Á bởi cha mẹ là người thế giá, có quyền công dân Rôma. Cuộc đời của hai ông bị đảo lộn từ khi gặp Đức Kitô.

Thánh Phêrô, thủ lãnh các Tông Đồ, con người say mê Chúa Kitô, đã xứng đáng nghe lời này : « Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy » (Mt 16, 18). Trên tảng đá này, Chúa sẽ xây dựng đức tin mà Phêrô tuyên xưng. Phêrô lấy từ « tảng đá », chứ không phải tảng đá lấy từ Phêrô. Phêrô, ngư phủ miền Galilêa, ít học, đã lập gia đình, theo Thầy Giêsu ngay từ buổi đầu sứ vụ, là người sau khi đã vượt qua những ngày đen tối của cuộc Thương Khó của Chúa Kitô, sẽ có trách nhiệm củng cố anh em trong đức tin và chăn dắt đoàn chiên của Chúa (x. Mt 16, 13-19). Còn thánh Phaolô, người Pharisêu sốt sắng, có nhiều điều để tự hào, về gia thế, học thức, về đời sống đạo hạnh. Ông chưa hề gặp mặt Ðức Giêsu tại thế, ông bách hại những người tin Chúa Kitô. Nhưng khi gặp Đức Kitô Phục Sinh với biến cố ngã ngựa trên đường Damas, ông trở nên tông đồ của ơn cứu rỗi đến từ đức tin, là « dụng cụ ưu tuyển » để mang Tin Mừng đến cho các dân tộc (x. Cv 9, 1-22).

Cả hai đều được Ðức Giêsu gọi, Phêrô được gọi lúc ông đang thả lưới bắt cá nuôi vợ con. Phaolô được chính Đức Giêsu Phục sinh gọi khi ông hung hăng tiến vào Ðamas, đang làm tông đồ không biết mỏi mệt của dân ngoại (x. Cv 9, 1-22). Cả hai đã từ bỏ tất cả để theo Chúa. Tất cả của Phêrô là gia đình và nghề nghiệp. Tất cả của Phaolô là những gì ông cậy dựa vênh vang. Bỏ tất cả là chấp nhận bấp bênh, tay trắng.

Cả hai đều đã từng có lần vấp ngã. Vấp ngã bất ngờ sau khi theo Thầy như Phêrô, trong phút giây quá tin vào sức mình. Ngã ngựa bất ngờ và trở nên mù lòa như Phaolô, trong lúc tưởng mình sáng mắt và đi đúng hướng. Vấp ngã nào cũng đau và in một dấu không phai mờ. Vấp ngã bẻ lái đưa con người đi vào hướng mới. Phaolô là chiếc bình được tuyển chọn, Phêrô giữ chìa khóa Nước Trời ; cho dù người này là ngư phủ, người kia là kẻ bách hại. Phaolô đã bị đánh cho mù, cuối cùng thấy rõ hơn ; Phêrô đã chối Chúa, sau tin vững vàng. Phaolô đã chọn tin vào Chúa Kitô sau khi phục sinh. Phêrô vị dân chài thay vì thả lưới bắt cá, nay trở thành kẻ lưới người ta.

Chương trình mầu nhiệm của Chúa Quan Phòng dẫn đưa Phêrô tới Roma, nơi đây ngài đổ máu như chứng tá sau cùng và cao cả nhất của đức tin và của lòng mến đối với Thầy chí Thánh « Lạy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy» (Mt 16, 17). Như vậy ngài đã chu toàn sứ mệnh trở nên dấu hiệu của lòng trung thành với Chúa Kitô và của sự hiệp nhất tất cả Dân Chúa.

Phần Phaolô, trong hành trình truyền giáo, không ngừng rao giảng Chúa Kitô bị đóng đanh và lôi kéo nhiều nhóm người Á Châu và Âu Châu trở về với Chúa. Sau khi qua Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, ngài đến Roma. Và chính ở đây, ngài được phúc tử đạo để làm chứng cho Chúa Kitô. Chính ngài đã nói lên trong bài đọc thứ hai Thánh lễ hôm nay rằng : « Chúa đã gần gũi tôi và ban sức mạnh cho tôi, để qua tôi, việc rao giảng sứ điệp Tin Mừng được thực hiện và để các dân ngoại được nghe biết đến ». (2Tm 4, 17-18)

Phêrô và Phaolô đều yêu Ðức Giêsu cách mãnh liệt, vì họ cảm nhận sâu xa mình được Người yêu mến. « Này anh Simon, anh có mến Thầy không? Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy » (Ga 21,16). Cả Phaolô cũng yêu Ðấng ông chưa hề chung sống, vì Người là « Con Thiên Chúa, Ðấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi » (Gl 2, 20). Phaolô đã không ngần ngại khẳng định: « Không gì có thể tách được chúng ta ra khỏi Tình Yêu của Ðức Kitô » ( Rm 8, 35.39)

Cả hai vị Tông Đồ đều hăng say rao giảng, bất chấp muôn vàn nguy hiểm khổ đau. Phêrô đã từng chịu đòn vọt ngục tù (x. Cv 5,40), còn nỗi đau của Phaolô thì không sao kể xiết (x. 2C 11, 23-28) ; «Tôi mang trên mình tôi những thương tích của Ðức Giêsu » (Gl 6, 1-7).

Cả hai hạnh phúc trong việc giữ gìn giáo lý tinh tuyền, nhưng cái phúc tử đạo còn hạnh phúc hơn. Nơi dương gian, vinh quang chỉ là ước muốn ; chốn thiên đàng mọi sự thật nhãn tiền. Tiếng các ngài đã vang đến tận cùng trái đất, và thông điệp loan đi tới chân trời góc bể. Khắp nơi vang tiếng ngợi khen các ngài ; các tín hữu nhẩm đi nhắc lại chiến thắng khải hoàn của các đấng.

Thật là hữu ích khi nhắc lại cho chúng ta vinh quang tử đạo của các hai đấng. Phaolô bị chặt đầu, Phêrô bị đóng đinh cắm đầu xuống đất. Hình thức tử đạo thật mầu nhiệm. Phêrô không dám chịu đóng đinh giống Thầy mình. Đó không phải là ông từ chối tử đạo, nhưng ông sợ nhận lấy cái chết giống Đấng Cứu Thế. Cả hai vị đã chết như Thầy, đã lấy máu mình mà làm chứng: thánh Phêrô bị dẫn đến nơi ông chẳng muốn (x. Ga 21, 18), chịu đóng đinh chết; thánh Phaolô đã chiến đấu anh dũng cho đến cùng, bị chém đầu; đã đổ máu ra làm lễ tế (x. 2Tm 4, 6). Thánh Phêrô được chôn cất ở chân đồi Vaticano; thánh Phaolô được an táng bên đường Ostiense.

Hội Thánh hôm nay vẫn cần những Phêrô và Phaolô mới, dám bỏ, dám theo, dám yêu, dám sống và dám chết cho Ðức Kitô và Tin Mừng. Hội Thánh vẫn cần những chiếc cột và những tảng đá. Với lòng ngưỡng mộ biết ơn các ngài, chúng ta quyết một lòng trung thành với đức tin đã lãnh nhận.

Lạy Nữ Vương Các Thánh Tông Đồ, cầu cho chúng con.
Thánh Phêrô và thánh Phaolô, cầu cho chúng con. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2015

Thánh Giuse Số 4: Bạn Đức Mẹ, Cha Nuôi Con Thiên Chúa

Ngày 04 - Thánh Cả Giuse được chọn làm bạn Ðức Mẹ , 
cha nuôi Chúa Giêsu

Đức Chúa Trời đã thương chọn thanh niên Giuse làm bạn đời của đức Nữ trinh Maria để hoàn thành chương trình cứu rỗi trần gian.

Khi đã biết bào thai trong lòng Ðức Mẹ là chính con Thiên Chúa , Thánh Giuse đã hết sức trân trọng, chu toàn sứ mạng cao cả này. Người phụ giúp Ðức Mẹ tại hang Belem, đưa con qua Egyt lánh nạn, đưa về Nagiaret, tìm con trong đền thờ, chịu khó làm ăn nuôi hai mẹ con chí thánh.

Hội thánh đã tuyên xưng Thánh Cả Giuse là tôi tớ rất trung thành và khôn ngoan, mà Thiên Chúa đã đặt lên coi sóc gia đình thánh này.

Nguyện xin Thánh Cả Giuse giúp chúng con noi gương Người làm trọn bổn phận Chúa đã trao phó trong bậc chúng con, xứng đáng tôi tớ trung thành của Chúa, đáng Chúa thưởng công đời này đời sau cùng thánh Cả.

Truyện thánh - Thánh Phanxicô Salesiô lập Dòng tu

Đừng kể rất thánh Ðức Mẹ , thì thánh Phanxicô de Sale giám mục không kính mến thánh nào hơn Thánh Cả Giuse . Người ăn chay trước lễ kính thánh Cả, và chính lễ thì làm lễ trọng cùng giảng để ngợi khen thánh cả là bạn Ðức Mẹ đồng trinh, cha nuôi Chúa Giêsu , là gương khiêm nhường, trong sạch, vâng ý Thiên Chúa . Thánh giám mục nói: vì Thánh Cả Giuse có nhân đức và lòng ngay thật, nên Thiên Chúa đã chọn Người làm bạn Ðức Mẹ và cha nuôi Chúa Giêsu , trao phó 2 mẹ con cho Người trông coi.

Khi thánh giám mục này lập dòng Thăm viếng, người chọn Thánh Cả Giuse làm quan thầy dòng, khuyên những ai vào dòng phải nhận Thánh Cả Giuse làm cha, làm quan thầy và phải kính mến Người cách riêng. Người còn xây một nhà thờ kính Thánh Cả Giuse , dâng cho Người cuốn sách viết về "Dẫn đàng kính mến Chúa".

Ta nên noi gương thánh giám mục Phanxicô mà trông cậy kính mến Thánh Cả Giuse hết lòng và khuyên người ta kính mến trông cậy Người nữa. Điều này rất đẹp lòng Ðức Mẹ và Chúa Giêsu .

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2015

Thánh Giuse Số 3: Thiếu nữ bệnh gần chết được cứu nhờ Thánh Cả Giuse

Ngày 03 - Thánh Cả Giuse càng thêm tuổi càng khôn ngoan

Khi cậu Giuse còn trẻ, cậu đã có lòng kính mến Thiên Chúa Yavê hết lòng hết sức, vâng phục ngoan thảo với cha mẹ và thầy dậy, hiền hòa tử tế với bạn bè, lịch sự với người xóm làng.

Người càng thêm tuổi hơn bao nhiêu, càng thêm khôn ngoan, nhân đức hơn bấy nhiêu. Người sống thinh lặng, ham thích cầu nguyện, xa lánh chuyện đời, muốn giữ linh hồn thân xác trong trắng.

Dù làm nghề mộc vất vả, nhưng Người không bỏ giữ mọi điều luật dạy, cầu nguyện sáng tối và chăm chỉ đi nghe sách Thánh ở hội đường ngày Sabbat. Người vâng lời các bề trên để kết bạn cùng đức Nữ trinh Maria, chăm chỉ làm ăn nuôi dưỡng con Đức Chúa Trời.

Xin Thánh Cả Giuse giúp chúng con biết noi gương lành Người để lại mà hãm mình, xa lánh tội lỗi, ham thích cầu nguyện và làm việc lành phúc đức cho đời sau.

Truyện thánh - Thiếu nữ bệnh gần chết được cứu

Làng Montignac nước Pháp, có một thiếu nữ phải bệnh bao tử 2 năm rưỡi. Bệnh kì lạ, khi ăn uống thức nào xong liền ói ra ngay, dù là một hớp nước lã, cũng không giữ được. Cô gầy yếu đến nỗi, không ngồi lên, không đi lại được, đêm ngày chỉ nằm bằn bặt một chiều.

Cha mẹ cô mời nhiều thày thuốc nổi tiếng, họ cho cô uống nhiều thuốc lắm, nhưng bệnh cô không giảm, lại càng gia tăng. Cô Maria nằm chờ chết, vì cô quá yếu nhược.

Nhưng lúc gần chết, cô sực nhớ đến thánh Cả Giuse, là Đấng thương giúp kẻ yếu liệt và hòng chết, nên cô thiết tha cầu xin Người thương cứu cô. Cô khấn rằng: Lạy Thánh Giuse là Đấng hay thương kẻ bệnh nặng không thuốc chữa, nếu Người cho con được khỏi bệnh này, con xin khấn dâng một lễ kính Người nơi bàn thờ, chính ngày dâng lễ, con sẽ xưng tội, rước lễ tạ ơn Người.

Cô khấn xong, thấy trong mình bắt đầu chuyển bệnh, sau ba ngày, cô được khỏi hẳn, chẳng khác gì cô chưa bị bệnh bao giờ.

Để chứng minh cho mọi người biết quyền phép Thánh Cả Giuse, những người chức việc trong làng Mongtinhac đã kí giấy làm chứng ngày 10 tháng 11 năm 1870 rằng: "Cô Maria đã được khỏi bệnh nhờ sự bầu cử của Thánh Cả Giuse quyền thế".

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2015

Quỉ dữ rất sợ Tên Thánh Cả Giuse

VUI BUỒN ĐẮP ĐỔI TRONG NHÀ NAGIARET

(Thánh Giuse qua đời)

Chúa Giêsu Kitô đã không ngừng hoàn thiện hóa Mẹ Maria, nên sau cuộc đi dự lễ Đền Thánh Giêrusalem về, Chúa đã dùng một thị kiến để ban cho Mẹ những ánh sáng mới về lề luật mà Con Người đến đem cho thế gian. Chúa Giêsu tỏ mình cho Mẹ cách uy quyền của bậc Thầy chí thánh, nói rằng Mẹ đã tiếp nhận được những của đầu mùa của ân sủng, vì Mẹ phải là Đấng Đồng Công với Người, chia sẻ công việc Người làm và cả thập giá Người chịu. Quả thế, phải như vậy mới hợp lẽ, vì Adong thứ nhất đã có Evà là đồng phạm, Adong thứ hai là Chúa Giêsu Kitô cũng phải có Mẹ Maria là Evà mới làm Mẹ Đồng công để cứu chuộc loài người.

Vì thế, Chúa mặc khải cho Mẹ những mầu nhiệm tuyệt vời về những công trình Người sẽ làm ở trần gian. Mẹ Maria nhận thức được rất phân minh toàn thể Giáo Hội chiến đấu theo trật tự các biến cố nối tiếp nhau xảy ra, suốt từ khi tạo thành vũ trụ cho tới ngày Ngôi Hai Nhập Thể, cũng như diễn tiến từ đó cho tới tận thế, và cả ở thiên đàng đời đời.

Mẹ lại được biết rõ cả các nhiệm tích Chúa Giêsu sẽ lập, những hiệu quả các nhiệm tích ấy sinh ra. Đặc biệt hơn hết đó là việc lập Nhiệm Tích Thánh Thể đã làm Mẹ ngây ngất thán phục và mến yêu. Sấp mình xuống đất, Mẹ hát lên nhiều thánh ca chúc tụng tán dương những vẻ lộng lẫy của phép Thánh Thể, nhưng Mẹ cũng than vãn vì những thiếu sót, những tục hóa mà Thánh Thể sẽ phải chịu. Mẹ hết sức khát khao để được rước chịu Thánh Thể ấy. Và ngay từ bấy giờ, Mẹ đã dọn mình sẵn sàng, và xin Con Mẹ cho Mẹ được phúc chịu lễ ngay khi Chúa vừa lập Thánh Thể sau này.

Chúa lại cho Mẹ biết rõ những huấn giới của Giáo Hội, cũng như các lễ tiết Giáo Hội sẽ lập ra. Ngay từ đó, Mẹ đã bắt đầu mừng các lễ ấy cùng với các thiên thần hầu cận Mẹ.

Tất cả những chân lý ấy, Mẹ đều nhìn thấy trong Linh Hồn Con chí thánh Mẹ. Mẹ thực hành các huấn giới và các lời khuyên trong giáo lý của Chúa sẽ dạy sau này cách hoàn thiện vượt rất cao trên sự hoàn thiện của các tông đồ, các vị tử đạo, các vị đồng trinh và toàn thể các thánh. Chúa thường nói trước mặt Mẹ rằng: "Ôi thánh giá hạnh phúc, khi nào ngươi mới tiếp nhận Ta vào tay ngươi; khi nào ngươi mới đỡ lấy tay Ta để nó rộng mở mãi mà đón tiếp các tội nhân? Ước chi tội nhân đến với Ta. Ta sẵn sàng ôm ấp họ. Và, hỡi những ai công chính, hãy đến với Ta: các con cháu Adong, Ta mời gọi tất cả các con".

Nhưng mặc dầu Chúa cầu nguyện, mặc dầu Chúa chịu nạn chịu chết, cũng rất nhiều người tự lên án phạt mình, cho nên ngay bấy giờ chúa đã phải chịu một cơn hấp hối dài dặc và đau đớn; trong cơn hấp hối ấy, Chúa thường bị tắm trong một trận mướt mồ hôi pha máu. Người Mẹ rất cảm thương của Chúa cũng vì đó mà bị gươm sắc thâu qua Trái Tim. Mẹ quì lau Máu thánh ấy một cách kính cẩn và yêu đương tuyệt vời. Mẹ hợp nhất với lời Con chí thánh mẹ cầu nguyện, mặc lấy thái độ của Con và kêu lên một giọng than van đau đớn: "Hỡi con cái loài người, sao các con lại ít hiểu biết tình yêu của Đấng Sáng Tạo các con đến thế! Đấng Sáng Tạo đã thà đổ Máu mình ra cho các con, hơn là muốn các con hư mất...Lạy Chúa cao cả, ai còn có thể cứng lòng và tự nên thù địch của mình, để không hàng phục tình thương nhân từ của Chúa nữa?...Hỡi con cháu Adong, hãy bội bạc với chính thân Mẹ đây! Ước chi Mẹ được đem mạng sống Mẹ mà kéo tất cả các con thoát khỏi cảnh mù tối đang vây phủ các con...".

Tuy nhiên, cũng có nhiều lần Mẹ được thấy Con chí thánh Mẹ phát quang rực rỡ vinh hiển như sau này Chúa biến hình trên núi Tabôrê, có rất nhiều thiên thần mặc hình người vây quanh, hát lên những ca khúc chúc tụng nhịp nhàng hoà điệu. Mẹ tham hưởng rất linh động vào những hứng thú hoan lạc thiên đàng ấy, đến nỗi có lần Mẹ ngất xỉu, các thiên thần phải nâng đỡ Mẹ. Những lần Mẹ được dự thính những cuộc đàm đạo giữa Cha hằng hữu và Con rất yêu dấu Người, tâm tình Mẹ còn tràn lan vui mừng không thể tả. Những đặc ân ấy luôn luôn bùng thêm ngọn lửa thiêng thiêu đốt cung thánh linh hồn Mẹ.

Cuộc đời Mẹ cứ thế, qua đi giữa những xúc cảm muôn vàn trạng thái, cho tới khi Mẹ lên ba mươi ba tuổi. Đó là tuổi hoàn bị, tuổi phát triển đầy đủ. Khi Đức Nữ Đồng Trinh Rất Thánh tới tuổi này, thân xác Mẹ trở lên mĩ lệ, thể hiện được lý tưởng hoàn thiện, làm cho cả thiên thần và cả loài người phải ca tụng. Tuổi ấy tương tự tuổi 33 của Chúa Giêsu một cách lạ lùng, với cùng những đường nét, cùng một nước da như Chúa, nhưng khác một điều là Con của Mẹ hoàn hảo hơn hết trong nam giới, còn Mẹ lại hoàn hảo nhất trong nữ giới. Rồi từ đó, suốt cuộc đời Mẹ, Mẹ vẫn giữ y nguyên trạng thái của tuổi 33, không đổi thay chút nào, Mẹ cảm tạ Thiên Chúa vì đặc ân này. Và Mẹ càng được biết là Chúa ban như vậy để duy trì mãi nơi Mẹ sự tương tự Con chí thánh Mẹ, Mẹ càng hân hoan thỏa nguyện.

Thánh Giuse bệnh nạn và qua đời: Nhưng ở trần gian, không có cuộc đời nào không vướng buồn sầu. Cuộc đời của Mẹ Maria từng gian khổ đã nhiều, đến nay lại vương mang mối sầu vĩnh biệt. Thánh Cả Giuse tuổi chưa cao mấy, nhưng mà những vất vả lao nhọc và những đau khổ thường xuyên đã xoi mòn Thánh Cả. Mẹ Maria rất cảm thương nói với Bạn mình: "Thầy đã từng lao nhọc để nuôi tôi và Chúa Giêsu nhiều rồi, tôi hết lòng tạ ơn Thầy. Nhưng đến nay, bệnh tật của Thầy không cho Thầy được tận tụy như vậy nữa. Xin Thầy nghỉ ngơi để tôi làm việc thay vào chỗ Thầy". Thánh Cả cảm động đến rơi lệ, phải hàng phục lời xin ấy. Dụng cụ làm nghề mộc, Người liền đem tặng cho các bạn nghèo tất cả, để trong nhà không có một vật nào thừa thãi. Từ khi nghỉ làm việc, Thánh Cả chỉ hoàn toàn chăm chú chiêm niệm và đạt tới đỉnh thánh thiện cao nhất, vượt trên tất cả loài người, chỉ kém có một mình Mẹ Maria.

Từ đó, Mẹ Maria bắt đầu làm việc nhiều hơn trước, nhiều khi phải làm cả trong đêm khuya. Mẹ chuyên về nghề kéo sợi gai và len. Vì Mẹ luôn luôn thích sống âm thầm, nên Mẹ nhờ một người láng giềng đem bán sợi, rồi mua về cho Mẹ những cái cần dùng. Quả thật, Thiên Chúa có thể làm cách khác để nuôi sống Thánh Gia, nhưng Người muốn treo cao cho thế gian gương mẫu cần lao của Mẹ.

Mặc dầu bận bịu như thế, Mẹ cũng không bớt săn sóc, lo liệu cho người Bạn Đồng Trinh đáng kính của Mẹ tất cả những ân cần. Thiên Chúa càng ưu ái Thánh Cả, càng dành cho Thánh Cả nhiều vinh quang, Thánh Cả càng phải đau khổ. Trong suốt 8 năm đằng đẵng, Thánh Cả bị đóng đanh vào thánh giá của nhiều thứ bệnh rất đau đớn, nào là nóng lạnh cao độ, nào là nhức đầu như búa giáng, nào là phong thấp cấp tính buốt nhức ở khắp thân thể. Đồng thời, Thánh Cả còn phải chịu một cơn đau khổ khác, một đau khổ ngọt ngào nhưng thật kịch liệt: đó là tình yêu mến Thiên Chúa nung đốt Người, ném Người vào trong những hứng khởi rất mạnh mẽ, đến nỗi tinh thần rất trong sạch của Người có thể gỡ tung cả những trói buộc thể xác, nếu Chúa không ban ơn đặc biệt để giữ Người khỏi chết.

Mẹ rất thánh thấu hiểu tâm hồn Thánh Cả. Mẹ rất hân hoan có một Bạn Đường rất thánh và rất được Chúa yêu thương, nên Mẹ đã hết sức ca tụng thán phục những tư tưởng cao siêu của Thánh Cả, đức nhẫn nại vững vàng của Thánh Cả, giữa biết bao nhiêu đau khổ mà Người chịu không hề hé môi phàn nàn, không hề thốt ra một tiếng thở than. Không bao giờ Người đòi hỏi một an ủi nào. Mà thực ra, cũng chẳng thể có được cơ hội nào để đòi hỏi, vì Mẹ Maria là vị nữ y tá thần linh, luôn luôn đến bên Người lúc Người cần được an ủi. Mẹ nâng đỡ Người trong lúc già yếu, và đôi khi còn ra lệnh cho thức ăn phải bổ sức cho Người nữa. Thánh Giuse cảm tạ Mẹ không hết lời.

Trong 3 năm cuối cùng đời Người, ba năm Người phải chịu những đau khổ rất cực, Mẹ ngày đêm không hề rời xa Người một bước. Khi nào Mẹ cần phải vắng mặt, Chúa Giêsu lại thay chỗ Mẹ, cho nên đã và sẽ không bao giờ có một bệnh nhân nào được phục vụ kỹ lưỡng, được an ủi và được nâng đỡ như Thánh Cả Giuse. Cũng không thể nói được tâm hồn tri ân của Thánh Cả đã xúc động nhường nào, đã tỏ một niềm kính tôn khiêm hạ nhường nào, đã đốt cháy thêm tình yêu tha thiết nhường nào đối với Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Rất cảm thương Bạn Đồng Trinh của mình, có khi Mẹ Maria cầu xin Chúa cho mình được chịu đau đớn thay Thánh Cả. Có khi thấy đau khổ Thánh Cả chịu quá khốc liệt, Mẹ đã xin Chúa Giêsu vui lòng cho Mẹ ra lệnh cho đau khổ ngưng hành hạ Thánh Cả; chúng vâng lời trong một ngày hay hơn nữa tùy sự đẹp lòng Chúa. Có khi Mẹ nói với các thiên thần tăng thêm nghị lực cho Thánh Cả; lúc đó, các vị ấy hiện thành người rạng ngời đẹp đẽ, đàm đạo với Thánh Cả về Thiên Chúa, hát lên những ca khúc hân hoan hoặc tấu lên những điệu nhạc thiên quốc để giải khuây cho Thánh Cả.

Khi Mẹ thấy ngày cuối cùng của Thánh Cả đã gần đến, Mẹ đi tìm Chúa Giêsu mà nói: "Ôi Con là Chúa và là con của Mẹ, Mẹ xin Con đến giúp cho Giuse là tôi tớ của Con được hưởng một cái chết đẹp mắt Con, cũng như cuộc sống công chính của Người đã vui lòng Con: Xin cho Người được niềm an ủi chắc chắn hưởng phần thưởng đời đời". Chúa Giêsu đáp: "Vâng, thưa Mẹ, Con sẽ giúp cho cha Giuse của Con. Con sẽ không làm cho ai được hạnh phúc như Người đâu. Trong các bậc đại thần của nước Con, Cha Giuse sẽ chiếm một địa vị rất cao cả, thiên thần và loài người đều phải thán phục ca tụng".

Suốt 9 ngày trước khi Thánh Cả trút hơi thở cuối cùng, Chúa Giêsu và Mẹ luôn luôn túc trực bên cạnh Đấng Thánh cao cả. Theo lệnh Chúa, cứ mỗi ngày ba lần, các thiên thần hát cho Thánh Cả nghe những thánh ca chúc tụng. Có những hương thơm kỳ diệu bổ sức cho Thánh Cả; hương thơm này, cả những người ở ngoài nhà ngửi thấy cũng được mạnh sức thêm. Suốt ngày hôm trước khi lìa trần, Thánh Cả tham hưởng một cuốc xuất thần; Người được nhìn thấy Yếu Tính Thiên Chúa, các nhiệm về Chúa Ba Ngôi, về ơn Nhập Thể và Cứu Chuộc, về Giáo Hội chiến đấu, và về kho tàng các Nhiệm Tích làm giầu cho Giáo Hội. Thiên Chúa cũng ủy Thánh Cả làm tiền hô của Chúa Giêsu dưới u ngục. Khi ra khỏi thị kiến đó, gương mặt Người mĩ lệ chói ngời và linh hồn của Người hoàn toàn được thần hóa. Người xin Mẹ Maria Bạn khả tôn của Người chúc lành cho, nhưng Mẹ lại xin Chúa Giêsu chúc lành cho Người thay mình. Còn phần Mẹ, Mẹ nài xin Thánh Cả chúc phúc cho mình, vì Thánh Cả là gia trưởng, và hôn bàn tay chai cứng vì làm việc phục vụ Thánh Gia của Thánh Cả. Thánh Cả xin Mẹ tha thứ cho những khuyết điểm có thể Người đã phạm trong khi phục vụ Mẹ, Người nói: "Đức Nữ được chúc phúc hơn hết mọi người nữ; cả thiên thần và loài người hãy ca tụng Đức Nữ; ngợi khen Chúa Ba Ngôi qua Đức Nữ đời đời! Tôi hi vọng được hưởng dung nhan Đức Nữ trên quê trời vĩnh cửu". Nói những lời ấy xong, Thánh Cả cảm tạ Chúa Giêsu vì tất cả các ơn và các ân cần Chúa dành cho mình, rồi cố gắng quì xuống trước mặt Chúa. Nhưng Chúa Giêsu rất hiền từ nâng Thánh Cả lên, ôm lấy Người trong vòng tay Chúa. Thánh Cả dựa đầu trên tay Chúa, và thốt lên những lời sau cùng này: "Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, là Con Chúa Cha hằng hữu, Sáng Tạo và Cứu Chuộc loài người, xin Chúa tha cho con những lỗi lầm con đã phạm trong cuộc sống chung với Chúa. Xin nhận lời con cảm tạ Chúa vì Chúa đã chọn con làm Bạn đường của Mẹ Chúa. Xin hãy làm cho vinh quang của Chúa trở nên niềm tri ân của con đời đời". Chúa Giêsu chúc lành cho Thánh Cả rồi nói: "Thưa cha, xin cha an nghỉ trong ân sủng Cha trên trời của Con và trong ân sủng của Con. Xin cha đi báo tin cho các thánh ở u ngục biết: ngày giải thoát của họ đã gần". Lúc Chúa nói dứt lời, Thánh Cả Giuse trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay của Chúa. Chúa liền khép mắt cho Người. Các thiên thần đang có mặt bên Chúa Giêsu và Mẹ Maria hát lên nhiều ca khúc chào mừng linh hồn Thánh Cả, và dẫn đưa linh hồn Thánh Cả vào u ngục. Các thánh trong ngục tổ tiếp rước Thánh Cả rất tưng bừng vì nhận thấy vinh quang tuyệt vời giãi chiếu từ Thánh Cả.

Mặc dầu Thánh Cả Giuse mang nhiều bệnh tật lâu ngày, nhưng cái chết của Người không phải là hậu quả của bệnh nạn, của những đau khổ Người chịu, nhưng là hiệu quả và khởi thắng của tình yêu nhiệt liệt hằng nung nấu Người mến yêu Thiên Chúa.

Đức Trinh Nữ Rất Thánh, trong trường hợp buồn đau này, vẫn giữ được một phong thái cao cả, một vẻ bình thản vững vàng. Đau khổ vì mất người thân yêu, nhưng Mẹ vẫn lo liệu tất cả những gì liên hệ đến cuộc mai táng Người Bạn Đường đồng trinh cao quí của Mẹ. Mẹ không muốn cho một bàn tay nào động chạm đến thi thể của Thánh Cả. Để bảo vệ cho đức đoan trang cực đại của Đức Nữ Vương những người đồng trinh, Thiên Chúa đã mặc cho thi thể Thánh Cả một ánh rực rỡ chỉ để người ta thấy được gương mặt thôi. Một số người được mùi hương êm dịu tỏa ra từ thi hài Thánh Cả lôi cuốn, đến xem, đã thấy Thánh Cả đẹp đẽ mềm mại y như còn sống. Thi thể Thánh Cả được an táng với một tang lễ thông thường; một số bà con, bạn hữu và đông đảo dân chúng tiễn đưa Người lần cuối cùng. Dẫn đầu đám tang đơn sơ ấy là Chúa Giêsu Cứu Thế, Mẹ rất thánh của Người và rất đông thiên thần.

Sau cuộc an táng đầy đau buồn ấy, Mẹ Maria đến sấp mình xuống trước Mặt Chúa Giêsu, khiêm nhượng thưa: "Con Mẹ, Bạn Thánh đồng trinh của Mẹ vì thánh thiện, nên đã giữ được Con ở lại bên Người và Mẹ. Bây giờ Người qua đi, nhưng xin Con đừng vì đó mà không cho Mẹ được ở với Con, mặc dầu Mẹ bất xứng. Con đừng bỏ Mẹ, và xin cho Mẹ được làm tôi tớ Con như trước". Chúa Giêsu nhắc lại cho Mẹ lời Người đã hứa với Mẹ trước là sẽ ở với Mẹ cho tới khi đi giảng Tin Mừng.

Tuy nhiên, lời hứa bảo đảm đó không làm Mẹ bỏ được nỗi đau buồn tự nhiên gây ra do cái chết của Người Bạn Đường đồng trinh mà Mẹ rất kính yêu ấy. Chúa đã đem bàn tay toàn năng và yêu thương của Người mà sáng tạo nên Thánh Cả Giuse với tất cả những hồng ân cân xứng với chức Bạn Đường đồng trinh Người Mẹ sinh ra Con Một của Chúa ở trần gian. Việc kỳ diệu này đã bắt đầu ngay từ khi thể xác Thánh Cả hình thành trong lòng thân mẫu Người. Chúa đã gồm tất cả những tinh hoa tinh túy nhất của tính tình mà tạo nên phần tâm lý của Thánh Cả, khiến nên Thánh Cả có một tâm tính diệu kỳ, gồm bằng những phẩm chất cao quí nhất, thanh nhã nhất. Tâm tính tốt lành ấy như là một thửa đất phì nhiêu Chúa dọn sẵn để gieo rắc vào những hạt giống thánh đức siêu nhiên. Dựng thai đến tháng thứ bảy, Thánh Giuse được ơn thoát khỏi nguyên tội và tình dục, nên suốt đời không bao giờ Thánh Giuse cảm nghiệm một xúc động xấu nào. Lúc sinh ra, Thánh Cả là một thơ nhi rất mĩ miều, mang lại cho cha mẹ và thân nhân một niềm vui khác thường, giống như niềm vui Gioan Tiền hô mang lại khi sinh ra. Lên ba tuổi, Thánh Cả đã được ơn sử dụng trí năng hoàn toàn, với một tri thức thiên phú, một cách suy niệm tuyệt vời và các nhân đức mỗi ngày một tăng triển. Nhất là nhân đức khiết tịnh của Người thật là cao cả, sáng ngời, vượt trên cả đức khiết tịnh của những vị luyến thần cao cả nhất. Không bao giờ có một hình ảnh hay một ấn tượng nào tục tằn lọt được vào quan năng của Thánh Cả, vì lẽ Người phải có chính sự trong trắng hơn thiên thần để đồng cư với Đức Nữ Vương Đồng Trinh. Ngoài những đức tính và nhân đức Thiên Chúa ban riêng cho Thánh cả tự bẩm sinh ấy, Thánh Cả còn có những nhân đức và thánh thiện tập thành trong suốt cuộc đời dài sáu mươi năm cộng thêm mấy ngày nữa của Người. Thánh Cả Giuse kết hôn với Mẹ Maria lúc Người lên mười ba (13) tuổi, chung sống với Mẹ hai mươi bảy (27) năm. Lúc Thánh Cả Giuse qua đời, Mẹ Maria lên bốn mươi mốt tuổi sáu tháng (41,6), và Chúa Giêsu lên gần hai mươi (20) tuổi.

Không kể đức khiết tịnh ngời chói nói trên, Thánh cả còn có đủ mọi nhân đức ở một cấp độ sung mãn hoàn toàn, nhất là đức ái, mến Chúa yêu người, vì Thánh Cả được đặt ở ngay đầu nguồn của mạch nước hằng sống vọt lên tới sự sống đời đời, ấy là Chúa Giêsu Kitô.

Một lý do nữa để Thiên Chúa không yêu thương một vị thánh nào bằng yêu thương Thánh Cả Giuse, vì Thánh Cả giúp công vào việc ban ơn Cứu Chuộc và thánh hóa cho loài người. Cho nên hết mọi người đều có bổn phận phải chúc tụng và tôn kính Thánh Cả. Thiên Chúa đã ban cho Thánh Cả rất nhiều đặc ân để Thánh Cả cứu trợ những ai đến xin Thánh Cả cầu bầu. Đặc biệt là Thánh Cả hay ban xuống 7 ơn này:

1/ơn lướt thắng những chước cám dỗ trái nghịch đức khiết tịnh,

2/ơn được sám hối từ bỏ đường tội lỗi,

3/ơn tôn sùng Mẹ Đồng Trinh Rất Thánh Maria,

4/ơn được khỏe mạnh phần xác,

5/ơn được an ủi nâng đỡ lúc sầu khổ,

6/ ơn được chết lành,

7/ và ơn được có người thừa tự trong các gia đình công giáo.

Quỉ dữ rất sợ Tên Thánh Cả Giuse.

Lời Mẹ nhắn nhủ:

Hỡi con, con hãy hết sức tôn kính và mến yêu Phúc Âm, là sách miêu tả cuộc đời và giáo lý của Con Chí Thánh Mẹ. Phúc Âm phải được đặt vào tâm hồn con làm ngọn đèn cháy sáng và hướng dẫn nó. Khốn cho những ai khinh chê Phúc Âm! Họ sẽ dần dần trở nên xấu xa hơn những người dân ngoại không biết Phúc Âm là gì; còn những ai nếm hưởng và hòa mình với Phúc Âm sẽ tìm được hạnh phúc cho mình cả về tinh thần lẫn vật chất.

Họ cũng lại tìm được sự sống và sức mạnh trong các nhiệm tích; hằng ngày con phải cảm tạ Chúa vì đã lập ra các nhiệm tích đó. Nhận lãnh các nhiệm tích đó, nhất là phép Thánh Thể, cách bất xứng, thật là một tội quái dị chừng nào! Không những phải khóc vì người ta tục hóa nhiệm tích Thánh Thể, mà còn vì người ta bất kính trước Thánh Thể và bỏ bê không đến viếng Thánh Thể nữa.

Hỡi con, con hãy suy cho kỹ rằng việc thi hành đức ái đối với bệnh nhân là một việc nhân đức đẹp lòng Thiên Chúa nhất, và hữu ích cho các linh hồn nhất. Con phải vừa giúp đỡ vừa đem hết khả năng đoán trước những nhu cầu và ước muốn của họ, đem những lời xây dựng mà khuyến khích họ, tỏ những dấu ý nhị mà an ủi họ, cầu chúc họ được giảm bớt chút ít khi đau đớn mà không mất lợi ích lớn lao nhất do những đau khổ sinh ra. Nhất là khi bệnh đã tới lúc gần chết, càng phải gia tăng niềm thông cảm và tận tâm hơn nữa, vì họ sắp phải quyết liệt nghe nhận bản án Chúa đã ra cho nguyên tổ. Lúc ấy, ma quỉ như những con chó sói đói mồi, hợp lực lại, đem hết xảo quyệt và sức mạnh mà tấn công linh hồn. Chúng xui linh hồn khoan giãn không trở lại, chối bỏ các nhiệm tích, giấu kín tội lỗi đã phạm, và không muốn cải đổi, chấm dứt một cuộc đời tội lỗi. Trong giây phút quyết định ấy, rất ít người công chính khỏi quỉ dữ hung hãn tấn công.

Hỡi con, hằng ngày con hãy cầu xin Thiên Chúa toàn năng hủy diệt những trận đánh mà hỏa ngục quyết chiến với những người hấp hối. Cả khi con không ở gần bệnh nhân, con cũng hãy truyền cho ma quỉ phải tránh xa họ, vì ở đây có Thiên Chúa là Đấng mà con phải nhân danh Người để đánh đuổi bọn quỉ cám dỗ điên đảo ấy đi.

Thánh Giuse, Bạn Thánh Đồng Trinh của Mẹ là một vị thánh được đặc ân không bị ma quỉ quẫy nhiễu khi Người vào giờ lâm chung. Chúng cũng muốn đến gần Người, nhưng chúng lại cảm thấy một sức mạnh đánh bật ra mà chúng không thể cưỡng; các thiên thần liền xô chúng xuống những vực thẳm tối tăm của chúng. Bạn Thánh Mẹ ở trên trời cầu xin điều gì, Chúa ban xuống cho trần gian ngay, mà còn thêm xuống nhiều ân sủng khác nữa. Những kẻ bị trầm luân sẽ phải khóc lóc chua xót vì đã vô phúc không chạy đến cầu xin Thánh Cả Giuse.
Trích Thần Đô Huyền Nhiệm

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2015

Tháng Kính Thánh Giuse: Tên Rất Thánh Thánh Giuse

Ngày 02 - Tên rất thánh Thánh Cả Giuse

Giuse là tên Thiên Chúa soi sáng cho cha mẹ đặt cho con.

Giuse, theo thánh Bênađô giải nghĩa, là thêm lên, là dư dật.

Không kể tên Giêsu Maria, chẳng có tên nào phù giúp, cứu chữa người ta bằng tên Giuse. Thiên Chúa đã ban ơn riêng cho tên cực trọng này. Khi kêu tên thánh Giuse, kẻ lo buồn được vui mừng, kẻ bị ma quỉ cám dỗ được mạnh sức chống trả, kẻ mắc nguy hiểm xác hồn được thoát khỏi, kẻ đang lâm tử được chết lành.

Lạy Thánh Cả Giuse , chúng con dốc lòng kêu Tên Người khi còn khỏe mạnh, nhất là khi chúng con đang trong giờ sắp ra khỏi đời này.

Truyện thánh - Hai tu sĩ khỏi đắm tầu

Xưa có 2 thầy dòng thánh Phanxicô khó khăn vượt biển đến ngang xứ Frandria, thì gặp bão biển, tầu vỡ ra tan nát. 300 người trong tầu chìm xuống chết đuối cả, còn 2 thầy dòng may vớ được tấm ván, thì bám lấy, nổi lênh đênh trên mặt nước 3 ngày 3 đêm. Sóng giữa biển hằng giùa đi giùa lại, đưa lên đưa xuống luôn mãi, biết 2 thầy dòng ấy kinh khiếp sợ hãi cùng cheo leo liều mình chết là thế nào?

Nhưng 2 thầy ấy không ngã lòng, mà trông cậy vững vàng, cùng sốt sắng kêu van ông thánh Giuse, xin Người cứu chữa mình.

Hai thầy dòng chẳng trông cậy uổng công, vì đến ngày thứ 3, khi 2 thầy đã mệt nhọc hết sức, thì thấy một cụ già uy nghi tốt lành hiện ra trên đầu ván, yên ủi cho khỏi sợ hãi, lại lấy tay mình đẩy tấm ván vào bãi cát mà nói rằng:

- Ta là ông thánh Giuse, vì chúng con có lòng kính mến tôn kính ta, thì ta nghe lời chúng con cầu xin. Vậy từ nay chúng con phải năng suy ngắm 7 sự đau đớn cùng vui mừng của ta, thì chúng con sẽ được nhiều ơn lành.

Nói bấy nhiêu lời xong, thánh cả Giuse liền biến đi.

Hai thầy dòng quì gối xuống bãi cát ngợi khen, tạ ơn Thánh Cả Giuse hết lòng, rồi về nhà kể lại sự tích lạ này cho cả nhà Dòng nghe.

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

Nguồn Gốc Tháng Kính Thánh Giuse

- Người khởi xướng việc tôn sùng Thánh Giuse trước tiên trong Giáo Hội là Đức Hồng Y Patricio Daily. Ngài đã chép sách để cổ võ cho mọi người tin tưởng tôn kính Thánh Cả.

- Thế kỷ 12, thánh Bênađô, thánh Tôma Aquinô, thánh Bonaventura, rao giảng về Thánh Cả Giuse.

- Thế kỷ thứ 15, nhà thần học Gerson Trường Đại Học Paris, đã tiếp tục việc cổ động này. Trong Hội Nghị thành Constantinô, trước mặt đông đủ các vị Sứ Thần Tòa Thánh, các Thần Học Gia.... Ông đã thuyết trình một bài rất hùng hồn về thế lực và lòng nhân lành của Thánh Cả Giuse. Kết quả Hội Đồng đã tôn nhận Thánh Giuse là Đấng Bảo Trợ Đại Hội.

- Thế kỷ thứ 16, bà Thánh Têrêsa Mẹ cổ động lòng sùng kính Thánh Cả. Bà Têrêsa đã dùng chính đời sống mình để làm gương khuyến khích các chị em trong Dòng. Bà quả quyết rằng :"Chưa bao giờ tôi kêu cầu Thánh Cả Giuse mà Ngài không giúp đỡ tôi. Nhất là việc nhờ Ngài tu sửa lại Dòng Kín". 

- Thế kỷ 17, giám mục Bossuet tại nước Pháp đọc diễn văn ca ngợi Thánh Giuse gây tiếng vang tới Rôma, Đức Ubarnô 8 đã nâng lễ thánh Giuse lên bậc lễ buộc trong nước Pháp.

- Tại nước Austria (Áo), vua Leopoldo nhiệt liệt ca tụng Thánh Giuse, đã xin Tòa thánh cho lập lễ Hôn phối thánh Giuse với Đức Mẹ để ghi ơn thánh Cả đã cho sinh con nối dòng và chiến thắng quân Turkey.

- Thế kỉ 19, năm 1870, Đức Piô 9, theo đề nghị của các nghị phụ Công đồng Vatican I, đặt Thánh Giuse làm Đấng Bảo trợ Giáo hội và truyền mừng lễ ngày 19 tháng 3 hàng năm trọng thể .

Năm 1889, Đức Lêô 13 ra thông điệp về Lòng tôn kính Thánh cả Giuse và truyền lấy tháng Ba hàng năm tôn kính Ngài. (Châu Thủy, Thánh Giuse trong Phúc âm, NSTTĐM, 1989, trang 148-150)

Đức Piô 11 tuyên xưng Thánh cả là Mẫu gương đời lao công. Và Đức Thánh Cha Piô 12 đã đặt Thánh Giuse làm chủ các gia đình.

Những việc làm kính Thánh Cả:

1. Hàng ngày : Năng nguyện tắt: "GiêsuMariaGiuse con mến yêu, xin cứu rỗi các linh hồn", và dâng mình cho ba Đấng. Cầu xin cùng Thánh cả lúc gặp khó khăn hoặc cơn cám dỗ.

Tối trước khi đi ngủ, đọc kinh Thánh Giuse bầu cử, hay đọc 7 kinh Lạy Cha, 7 kinh Kính Mừng, kính nhớ 7 sự vui mừng và đau khổ của Ngài, kính Ngài và xin ơn chết lành.

2. Hàng tuần : Ngày Thứ Tư kính Thánh Cả, làm thêm việc lành tùy hoàn cảnh: như đọc thêm kinh, đọc sách về Thánh Cả, hãm mình, làm việc bác ái, dự lễ.

3. Tháng Ba: sửa sang bàn thờ gia đình, thêm hoa nến để kính Ngài. 

Trong dịp trước lễ kính Thánh Giuse (ngày 19 tháng 3), nên làm tuần 3 ngày dọn mình mừng lễ Ngài cho long trọng, xưng tội, rước lễ, xin lễ, tôn kính Ngài.

Ngoài ra còn nhiều việc sùng kính khác như đeo ảnh trong mình, bày tượng ảnh trong nhà, lập đài nơi khu xóm, cất đền nơi xứ đạo, tôn Ngài làm quan thầy Hội đoàn, phát hành báo chí, internet, phổ biến tranh ảnh, bài hát.... kính Ngài nữa.

Truyện thánh - 
Con trai được cải hóa, nhờ mẹ và các em cầu nguyện.

Gần thành Granôpoli, nước Pháp, có một gia đình 5 người. Ông chồng chết sớm. Mẹ con làm ăn nuôi nhau. Bà mẹ có lòng đạo đức, luôn lấy lời nói gương sáng khuyên bảo các con. Hai cô em thì ngoan, còn ông anh cả đi học xa ở Paris thì ôi thôi: phần xác thì ốm đau, phần hồn thì bê bối đủ điều, khô khan tội lỗi. Hắn không cầu nguyện, không dự lễ, mà khi thấy mẹ và các em cầu nguyện, hắn lại chê bai. Ba mẹ con hằng khuyên nhủ và kêu xin Chúa cải thiện hắn, nhưng vô ích, hắn cứng đầu hơn đá.

Mọi năm nhà này cứ tới tháng Ba là làm việc kính Thánh Cả Giuse. Năm ấy mẹ bảo hai con sốt sắng hơn để cầu nguyện cho người anh khô khan, tội lỗi được ơn cải thiện đời sống.

Hôm trước ngày mùng một, mẹ con trang hoàng bàn thờ Thánh Cả với hoa nến đẹp đẽ. Người anh đi đâu về thấy bàn thờ đã dọn thì hỏi: dọn làm gì? Mẹ trả lời:

- Mai là tháng Thánh Giuse, mẹ và các em có ý kính Người hơn mọi năm để cầu xin cho con được ơn ăn năn cải thiện trở về cùng Chúa, sốt sắng giữ đạo.

Con cả nghe vậy cười lớn và lắc đầu, tỏ vẻ khinh thường.

Ngày mùng một, hai, ba, khi mẹ và 2 em quì gối làm việc kính Thánh Cả, thì cậu con ngồi xa xa cười mẹ và các em mê tín dị đoan.

Nhưng từ ngày 7, 8 trở đi, nó không cười nhạo nữa, nhưng ngồi yên lặng coi bộ suy tư lắm. Đến ngày mùng 10, hắn làm dấu Thánh giá và thỉnh thoảng gặt nước mắt trộm vụng kẻo có ai thấy và thở dài kêu thầm: Lạy Ông Thánh Giuse, xin thương linh hồn tôi.

Đến ngày 15, nó đến thú thật với mẹ rằng: Từ khi con bỏ Đức Chúa Trời, con bối rối lo âu luôn luôn. Nhờ dịp này, con quyết ăn năn cải thiện đời sống, xin mẹ cùng 2 em cầu nguyện để con được ơn cải thiện thật lòng.

Anh ta cầu nguyện và xét mình vài ba ngày, rồi đi tìm linh mục xưng tội rước lễ sốt sắng.

Từ ngày ấy trở đi, anh ta sống đạo rất tốt, làm gương cho các em và làm mẹ vui lòng lắm.

Sau 3 năm, anh ta mắc bệnh nặng, và được chết lành êm ái trong tay Thánh Cả Giuse Bổn mạng của anh ta.
Theo Tinmung.net

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

Ðức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa

Ðức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa
Thánh Tômasô quả quyết: “Chức Mẹ Thiên Chúa là một chức vô cùng cao cả, loài người chẳng tìm chức nào trọng hơn. Thiên Chúa dù toàn năng cũng không thể dựng nên chức nào trọng hơn chức ấy”.

Thiên Chúa có thể dựng nên trời cao hơn, đất mênh mông hơn, nhưng không thể dựng nên Mẹ cao trọng hơn Ðức Mẹ được. Ðức Mẹ đã hiểu thấu ơn rất trọng đó, nên khi gặp Bà thánh Isave, Người đã ca tụng rằng: “Thiên Chúa toàn năng đã ban cho tôi một chức cao trọng”.

Xưa nay ta đã kính trọng Mẹ Chúa thế nào? Ta mang áo hay đeo ảnh Ðức Mẹ, tỏ lòng tôn kính Người chăng? Có vào hội Mâncôi, có siêng năng lần hạt chăng? Những ngày lễ Ðức Mẹ ta có làm việc lành, xưng tội rước lễ, lần hạt và dâng mình cho Ðức Mẹ chăng? Trong những ngày rước tượng Mẹ ngày dâng hoa kính Mẹ, ta có thông công sốt sắng làm những việc ấy không? Ta có ra sức bắt chước các nhân đức của Mẹ, ở khiêm nhường, giữ lòng thanh sạch, hết lòng mến Chúa yêu người chăng?

Nếu chưa bao giờ ta làm những việc ấy, đó là dấu ta chưa đủ lòng yêu mến Mẹ cho xứng chức Mẹ Thiên Chúa.

Lạy Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, chức Mẹ thật cao cả vô cùng quí trọng. trên trời dưới đất trừ Thiên Chúa Ba Ngôi, chẳng có ai trọng hơn Mẹ. Xưa nay chúng con chưa đủ lòng mến yêu Mẹ. Nhưng từ nay chúng con quyết định hết lòng tôn sùng cậy trông Mẹ. Chúng con ra sức bắt chước Mẹ, ở khiêm nhường, giữ lòng sạch sẽ, hết lòng Mến Chúa yêu người. Xin Mẹ cho chúng con thêm lòng mến yêu và noi gương Mẹ đến trọn đời.

Thánh Tích

Phạm đến ảnh Đức Mẹ bị phạt liền

Các thánh dạy: có nhiều khi Chúa dung thứ cho những kẻ phạm đến Chúa, nhưng chẳng dung thứ cho kẻ phạm đến Ðức Mẹ.

Năm 1649, quân đội Ðức chiếm đóng một làng nhỏ bên nước Pháp. Có mấy người lính chơi bời suốt đêm, một trong những người ấy thua bạc tức giận, chửi rủa mọi người. Thấy một ảnh Ðức Mẹ treo trên tường, liền nói nhiều điều phạm đến Ðức Mẹ, rồi xé rách ảnh và giầy đạp dưới chân.

Bỗng chốc nó bị ngã vật xuống, cả thân co quắp đau đớn, vật vã suốt đêm ngày. Ðến ngày thứ 5, quân lính nhổ trại, người ta vực anh ta lên ngựa. Dọc đường anh ta bị ngã, miệng sùi bọt, răng cắn lại, được một lát thì chết khốn nạn. Người ta đều tin thật anh bị Chúa phạt vì đã xúc phạm đến Ðức Mẹ.
Trích: Sách Tháng Đức Bà

Thứ Hai, 19 tháng 1, 2015

Tên cực thánh Ðức Mẹ

Tên cực thánh Ðức Mẹ
Trên trời dưới đất, đừng kể tên Chúa Giêsu, thì chẳng có tên nào trọng, đáng kính và linh ứng cho bằng tên Ðức Mẹ. Thánh Giêrônimô nói rằng: “Tên Maria chẳng phải cha mẹ hay người thế gian đặt cho Người, nhưng chính Thiên Chúa soi lòng ông thánh Gioakim và bà thánh Anna đặt tên ấy cho Mẹ Maria”.

Maria, một tên rất linh thiêng. Nghe tên Maria, các thánh trên trời đều vui mừng, ma quỉ đều khiếp sợ Người, thế gian được cậy trông.

Tên Maria là võ khí hiệu lực, là thuẫn vững chắc, bênh chữa ta khỏi thù địch hãm hại hồn xác.

Biết bao kẻ vượt biển bị gió bão như vùi dập, biết bao kẻ sắp rơi vào tay kẻ cướp, quân thù, đã thoát khỏi tai nạn ấy, vì đã tin tưởng kêu tên Maria. Biết bao kẻ sắp xiêu lòng trước những cơn cám dỗ mãnh liệt, đã được ơn cứu thoát, vì đã tin tưởng kêu tên Maria. Trên giường bệnh, trong cơn hấp hối, người ta được mạnh sức cậy trông lòng Thương xót Chúa, khỏi mắc mưu quỷ cám dỗ, vì đã tin tưởng kêu tên Mẹ Maria.

Lạy Mẹ rất Thánh Maria! Tên Mẹ quyền phép chừng nào! Tên Mẹ có quyền mở cửa thiên đàng, đóng cửa hỏa ngục, Tên Mẹ có quyền buộc trói ma quỷ, và ban mọi ơn lành cho người thế. Chúng con quyết từ nay năng tin tưởng kêu tên Mẹ. Chúng con đã thoát bao cơn nguy hiểm, đã chống trả được bao chước cám dỗ, đã tránh được nhiều tội, và được nhiều ơn lành xác hồn, tất cả đều nhờ Mẹ.

Thánh Tích

Bên nước Italia có một thiếu nữ đang đi đường giữa một nơi xa vắng, tình cờ gặp một tên cướp. Tên cướp ấy có tiếng là hung hãn, đã cướp của cùng giết nhiều người.

Giữa lúc bơ vơ không ai cứu chữa, cô sợ hãi khiếp kinh. Giáp mặt cô, tên cướp bảo rằng: “Cô hãy nghe ta, bằng không ta sẽ giết”.

Trong cơn nguy khốn, cô chợt nhớ đến Ðức Me, liền kêu tên cực trọng Maria, cô lạy tên cướp và xin vì Ðức Mẹ mà tha cho mình.

Tên cướp nghe nói đến Maria thì dừng lại, nghĩ một lúc rồi bảo cô ta:

“Ðược, vì Ðức Mẹ mà ta tha chết cho cô, nhưng xin cô nhớ cầu cùng Ðức Mẹ cho ta với”.

Ta xem tên cực trọng Ðức Mẹ linh ứng dường nào, tên cướp định hãm hại cô gái, nhưng vừa nghe tên cực thánh Ðức Mẹ liền đổi lòng, chẳng những tha cho cô ta, mà lại đưa cô ta qua quãng đường cheo leo ấy nữa.
*********************

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015

Tại sao gọi là Lễ Hiển Linh hay Lễ Ba Vua?

Tại sao gọi là Lễ Ba Vua?
Hôm nay phụng vụ kính lễ Hiển linh. Tuy nhiên nhiều người vẫn quen gọi là lễ Ba vua? Danh xưng nào chính xác hơn?

Thế còn tại sao gọi là lễ Ba Vua? 

Như vừa nói, trong lễ Hiển linh (epiphania), phụng vụ mừng ba biến cố mà Chúa Giêsu xuất hiện cho nhân loại. Tuy nhiên, biến cố thứ nhất (nghĩa là tỏ hiện cho các đạo sĩ) thu hút sự chú ý của dân gian hơn, bởi vì gắn liền với lễ Giáng sinh, mang theo hình ảnh của hài nhi Giêsu sinh ra tại hang đá Bê-lem. Bên cạnh tượng Thánh nhi nằm trong máng cỏ giữa con bò và con lừa, người ta đặt tượng Đức Mẹ, thánh Giuse; xa hơn chút nữa là các mục đồng được các thiên thần gọi đến hang đá. Mãi hơn 10 ngày sau, người ta mới thêm một tốp nữa gồm có ba vua từ phương xa đến thờ lạy Chúa, mang theo lễ phẩm là vàng, nhũ hương, mộc dược. Vì thế gọi là “lễ ba vua”. 

Ba ông là Vua của những nước nào vậy? 

Chúng ta cần phải phân biệt đâu là nền tảng Kinh thánh, và đâu là truyền kỳ dân gian. Bản văn Tin mừng theo thánh Matthêu 2,1 nói rằng: “Khi Đức Giêsu ra đời tại Bê-lem, miền Giuđê, thời vua Hêrôt trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem”. Bản văn nói đến các nhà “chiêm tinh” chứ không phải là “vua”, và cũng không xác định con số là bao nhiêu vị. Nhiều bức hoạ cổ thời vẽ hai, bốn, sáu, tám, và thậm chí có nơi tăng đến số 12 (có lẽ cho cân xứng với 12 chi tộc Israel). Tuy nhiên, vào thế kỷ III, ông Origène đã nói đến 3 vị, và truyền thuyết này dần dần lan rộng trở thành phổ thông từ thế kỷ V. 

Con số 3 có ý nghĩa gì không? 

Số 3 có thể giải thích vừa theo nghĩa đo lường toán học, vừa theo nghĩa biểu tượng. Trước tiên là theo nghĩa toán học. Thánh Matthêu (chương 2 câu 10) nói đến 3 lễ phẩm mà các ông mang đến: vàng, nhũ hương, mộc dược. Người ta suy đoán rằng nếu có 3 lễ phẩm thì hẳn là phải có ba người: nếu ít hơn thì cồng kềnh (không lẽ một ông phải vác ba món quà?), nhiều hơn thì cũng kỳ (chẳng lẽ có người đi tay không!). Theo nghĩa biểu tượng. Trong Cựu ước, người ta nói đến ba thiếu niên cương quyết không chịu bỏ đạo mặc dù bị vua Nabucođonosor doạ bắt bỏ trong lò lửa. Ba nhà chiêm tinh của chúng ta cũng thế: họ can đảm lên đường đi tìm vua dân Do thái, bất chấp những khó khăn của hành trình, và kể cả nguy cơ bị vua Hêrôt ám sát. 

Thánh Matthêu nói đến các nhà chiêm tinh, tại sao ba nhà chiêm tinh lại biến thành ba vua? 

Theo các nhà chú giải Kinh thánh, các nhà “chiêm tinh” không phải là các ông thầy bói đâu, nhưng có thể so sánh như các nhà thiên văn, và cách riêng ở bên Ba-tư, họ thuộc hàng ngũ tư tế, làm cố vấn cho nhà vua về y khoa và thiên văn. Truyền thống dân gian gọi họ là “các vua” bởi vì móc nối với các lễ phẩm được nói ở thánh vịnh 72 câu 10 “Từ Tharsis và hải đảo xa xăm, hàng vương giả sẽ về triều cống. Cả những vua Ả-rập, Saba, cũng đều tới tiến dâng lễ vật. Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thảy đều phụng sự”. Thực ra thánh vịnh 72 nói đến các vua chúa Ả-rập và Saba đến yết kiến vua Salomon vì khâm phục tài trí khôn ngoan của ông. Nhưng các Kitô hữu áp dụng cho các vua từ tứ phương đến thờ lạy Chúa Giêsu. 

Làm sao mà có chuyện “tứ phương thiên hạ”, đang khi mà thánh Matthêu chỉ nói đến những nhà chiêm tinh đến từ phương Đông? 

Trong tư tưởng thánh Matthêu, phương Đông chắc chắn không phải là Trung Hoa Việt Nam, mà chỉ là những nước nằm ở bên kia bờ sông Giorđanô, và các giáo phụ cho rằng có thể là từ Ba tư hoặc Ả-rập. Thánh Augustinô đã giải thích các đạo sĩ từ phương Đông như là “hoa trái đầu mùa của muôn dân sẽ được lãnh ơn cứu độ” (Sermo 200,1: PL 38,1028). Nhưng mãi đến thế kỷ XIII mới phát sinh truyền thống nói đến ba vua tượng trưng cho ba châu lục Âu, Á, Phi, thuộc ba dòng dõi của ông Noe: Sem, Cam, Japhet (St 10,1). Từ đó ta thấy ông vua da trắng, da vàng, da đen. Tưởng cũng nên biết là khi mới khám phá châu Mỹ, người ta cũng muốn thêm một ông vua da đỏ nữa, nhưng tục lệ này không được phổ biến cho lắm. 

Ba vua không chỉ tượng trưng cho ba châu lục, mà còn có tên riêng nữa phải không? 

Đúng thế. Từ thế kỷ VII, ba ông được đặt tên là Balthasar vua Ấn độ, Melchior vua Ba tư, Gaspar vua Ả-rập. Ta thấy các tên này không có màu sắc gì của châu Á và châu Phi cả! Chưa hết đâu, lưu truyền dân gian còn muốn rằng sau khi đã thờ lạy Chúa Giêsu, ba ông trở về Ba Tư. Về sau khi thánh Tôma tông đồ đi truyền giáo, ngài đã gặp lại ba ông và đã tấn phong giám mục cho họ, và cử họ đi loan báo Tin mừng. Cả ba được phúc tử đạo, thi hài được tôn kính ở Ba tư, rồi sau đó chuyển về Milanô (Italia), và từ cuối thế kỷ XII được hoàng đế Federicô I đem qua nhà thờ chánh toà Colonia (Đức). 

Như vậy phần lớn chuyện ba vua là do truyền thống dân gian dựng nên. Còn thánh Matthêu muốn nói gì khi kể chuyện các nhà chiêm tinh đến thờ lạy Chúa? 

Thánh Matthêu gói ghém nhiều sứ điệp trong đoạn Tin mừng mà phụng vụ công bố trong ngày lễ Hiển Linh. Như đã nói, thánh sử không nói đến các vua đến thờ lạy Hài nhi Giêsu, nhưng là các nhà chiêm tinh đi tìm thờ lạy Đức Giêsu là vua, như câu hỏi mà các ông đã đặt ra cho triều đình Hêrôđê: “Đức Vua của dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Ngài”. Các ông đi bái lạy Đức Giêsu như là Vua. Các giáo phụ giải thích ý nghĩa của 3 phẩm vật dâng tiến - vàng, hương, mộc dược - như là việc tuyên xưng ba phẩm tính của Người: vàng vì là vua, hương vì là Thiên Chúa, mộc dược như là con người hay chết. Tuy nhiên có lẽ thánh Matthêu không đi xa như vậy. Điểm chính mà thánh sử muốn nhắm tới đó là cho thấy rằng các dân ngoại từ phương xa đã biết nhìn nhận đức Giêsu là vua Mêsia, đang khi mà dân Do thái thì thờ ơ lãnh đạm, thậm chí còn muốn tìm cách thủ tiêu Người nữa.

Nhưng vua Hêrôđê đâu có giết được Chúa Giêsu? 

Đúng vậy. Thánh Matthêu cho chúng ta biết rằng một thiên sứ đã hiện ra báo tin cho ông Giuse, và ông đã đưa Đức Mẹ và hài nhi Giêsu lánh nạn sang Ai cập. Tuy nhiên, điều xảy ra vào lúc giáng sinh ra như đã tiên báo số phận tương lai của Đức Giêsu: Ngài sẽ bị dân tộc của mình tẩy chay (Mt 21,42-43), nhưng các dân ngoại sẽ chấp nhận Tin mừng. Mặt khác, ra như thánh sử cũng biện minh phần nào thái độ của dân Do thái, đó là sự hiểu lầm của họ. Vua Hêrôđê nghe nói có một vị vua mới sinh ra, và ông lo ngại cho ngai báu của mình sẽ bị lung lay. Nhưng Đức Giêsu không phải là Vua theo nghĩa chính trị đâu. Ngài làm Vua theo nghĩa khác, vua Mêsia. 

Làm sao các nhà chiêm tinh biết được có vua Mêsia giáng trần? 

Qua dấu của ngôi sao. Nói cho đúng, chuyện một ngôi sao lạ như là điềm của một vĩ nhân giáng trần không phải là xa lạ trong lịch sử các dân tộc. Tuy nhiên, có lẽ thánh sử Matthêu không dựa vào lịch sử các tôn giáo cho bằng dựa vào chính truyền thống của dân Do thái. Từ đoạn văn sách Dân số (24,17) nói đến “một ngôi sao sẽ xuất hiện từ nhà Giacóp và vương trượng từ Israel”, các rabbi đã chú giải trong sách Targum như thế này: “Một vị vua sẽ chỗi dậy từ nhà Giacóp, và một vị cứu tinh từ nhà Israel”. Vào thời Tân ước, nhiều người gọi Đấng Mêsia như là ngôi sao nhà Đavít, như chúng ta thấy vết tích nơi sách Khải huyền chương 22,16. Trong lịch sử Kitô giáo, đã có nhiều cuộc tranh luận về bản chất của ngôi sao xuất hiện cho các nhà chiêm tinh: phải chăng đó là một sao chổi, hay một ngôi sao nào khác thường? Phải chăng ngôi sao trên bầu trời, hay chỉ là ngôi sao trong tâm hồn của các nhà chiêm tinh (nghĩa là hiểu theo nghĩa bóng)? Thánh sử Matthêu không nói rõ điều đó, mà chỉ ghi nhận rằng: các nhà chiêm tinh từ phương xa đã nhìn nhận Đức Giêsu là vị cứu tinh, và họ lên đường đi tìm kiếm để thờ lạy; còn chính các luật sĩ sống ở Giêrusalem cầm Kinh thánh trên tay, biết rằng Đức Mêsia sẽ giáng sinh tại Belem, nhưng họ không bận tâm tìm kiếm thờ lạy. Hình như bài học này vẫn còn giá trị cho cả chúng ta: chúng ta tự hào vì mình đã tin Chúa, biết Chúa, nhưng chẳng buồn tìm kiếm thờ lạy yêu mến Ngài; đang khi những người ngoại đạo thì lại gần gũi Chúa hơn bởi vì họ không ngừng tìm chính đạo và tuân giữ. 

Nguồn: Đaminh VN

Nếu chỉ phân tích từ ngữ Hán Việt, thì quả thực là khó nói. “Hiển linh” là gì? Trong Từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn Ngữ học xuất bản, “Hiển linh” (động từ) được định nghĩa là: “thần thánh tỏ rõ sự linh thiêng, theo mê tín”. Từ điển Việt Nam do ông Thanh Nghị xuất bản năm 1958 cho rằng “hiển linh” là tĩnh từ, có nghĩa là: “linh thiêng, rõ ràng”. Xem ra đó cũng là ý kiến của ông Lê Thanh, tác giả cuốn Tiếng nói nôm na (1999): hiển linh là “rất linh thiêng, thiêng liêng lộ rõ ra bằng sự thật”. Dù hiểu “hiển linh” như động từ hay tính từ đi nữa, thì chẳng qua cũng là dịch bởi danh từ gốc Hy-lạp epiphania, có nghĩa là sự “hiện ra, bày tỏ”. Tân ước dùng từ này để nói đến việc Thiên Chúa đã xuất hiện (tỏ lộ, mặc khải) cho nhân loại ở nơi Đức Giêsu (Lc 1,79; Tt 2,11; 3,4), hoặc là việc Đức Kitô sẽ xuất hiện trong vinh quang ngày tận thế (2Tm 4,8; Tt 2,13). Phụng vụ (cách riêng là bên Đông phương) nói đến ba cuộc tỏ hiện của Chúa Giêsu: thứ nhất cho các đạo sĩ; thứ hai tại sông Hòa giang; thứ ba tại tiệc cưới Cana. Dù ba biến cố cách xa nhau hơn 30 năm trường, nhưng đều nhằm bày tỏ thiên tính của Đức Giêsu, đặc biệt vào chặng đầu của mầu nhiệm Nhập thể. Cả ba biến cố đều được ghi lại trong Phúc âm, và được tóm lại trong Điệp ca Magnificat Kinh chiều lễ Hiển linh.