Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

Sứ Điệp Từ Trời Ứng Nghiệm: Microchip 666 - Con Chíp 666 đã xuất hiện và Cô Emilott Lantz đã cấy

CẢNH BÁO: MICROCHIP 666 ĐÃ XUẤT HIỆN TẠI SỰ KIỆN CÔNG NGHỆ TỔ CHỨC Ở THỤY ĐIỂN. “ TÔI LÀ MỘT TRONG SỐ NHỮNG NGƯỜI ĐẦU TIÊN GẮN MICROCHIP ” EMILOTT LANTZ 
____________________________ 
Một sự kiện được tổ chức 22/11/2014 vừa qua tại Thụy Điển với tên gọi Hội nghị về Kỹ nghệ số- Internet - và Tương Lai có một điều đặc biệt khiến chúng ta phải chú ý về SỰ BÁO ĐỘNG này. Cô Emilott Lantz (25 tuổi) đến từ Umeå, đã chấp nhận cấy một vi mạch nhỏ xíu vào trong tay chính mình . Theo yêu cầu và mục tiêu của sự kiện, những người tham gia được tiêm một con MICROCHIP hoàn toàn MIỄN PHÍ. Sau ít phút, Emilott Lantz nhảy bật lên vui mừng và rất hào hứng chia sẻ " Tôi không cảm thấy như thể đâylà tương lai hay là hiện tại nữa. Thật kỳ lạ khi mà chúng ta không nhìn thấy điều này sớm hơn " Lantz nói với nhật báo The Local.

" Công nghệ này không phải là mới nhưng chủ đề trở nên nhạy cảm chỉ vì nó được gắn trong cơ thể con người. Tôi không ngạc nhiên mà mọi người nghĩ rằng đó là một vấn đề lớn - nó không phải là phổ biến, nhưng tôi nghĩ rằng nó sẽ phát triển trong thời gian tới. Chúng ta đã thay đổi cơ thể chúng ta, tại sao điều này lại khác ?" Lantz nói thêm. Việc này đã tạo ra những phản ứng trái chiều từ bạn bè và gia đình của Emilott Lantz, một số nói rằng điều này thật ngu ngốc trong khi những người khác cho đó là một ý tưởng tuyệt vời.
► Hannes Sjöblad thuộc nhóm nghiên cứu sinh vật học BioNyfiken cho biết có nhiều bằng chứng cho thấy số lượng người gắn con chip này ở Thụy Điển đang có xu hướng tăng lên rất nhanh. " Đây được xem như một hiện tượng hoạt động ngầm (bí mật) cho đến thời điểm này. Có lẽ có khoảng ít nhất 100 người gắn chip riêng ở Thụy Điển". Chỉ tính riêng tháng qua đã có khoảng 50 người tiến hành “ thủ tục” này. Công nghệ chip trước đây đã từng được sử dụng để theo dõi vật nuôi bằng cách gắn vào cổ của chúng. Và bây giờ là chèn nó trong bàn tay con người. Việc này sẽ giúp chúng ta không cần mang chìa khóa, không cần phải nhớ passwordsmà vẫn mở được cửa hoặc điện thoại…nhờ vào một bộ máy tích hợp thông tin nhỏxíu gắn dưới da. " Có cảm giác rằng Thụy Điển đang bắt đầu nắm bắt công nghệ. Có một lý do rằngđiều này đang xảy ra ở Thụy Điển đầu tiên và không phải bất cứ nơi nào khác.Thụy Điển có một hệ thống theo dõi gắn trong các đầu tiếp hợp công nghệ mới đã được chứng minh và hiện nay đang trong quá trình thử nghiệm " Hannes Sjöblad cho biết thêm.

► KINH THÁNH - SÁCH KHẢI HUYỀN VÀ SÁCH SỰ THẬT ĐÃ ĐỀ CẬP ĐẾN MỘT LOẠI CÔNG NGHỆ VỐN SẼ XUẤT HIỆN TRÊN PHẠM VI TOÀN CẦU TRONG NHỮNG THỜI GIAN CUỐI CÙNG NÀY - CHIP 666.

" XIN ĐỪNG CHẤP NHẬN CON DẤU NÀY BỞI VÌ CÁC CON SẼ BỊ HƯ MẤT ĐỐI VỚI CHA. CON DẤU NÀY SẼ GIẾT CHẾT CÁC CON KHÔNG CHỈ VỀ THÂN XÁC MÀ CÒN VỀ LINH HỒN. HÃY GIỮ MÌNH NẰM NGOÀI VÒNG QUYỀN LỰC NÀY. "

Chúa Đến sẽ không còn Thiên Đàng, Luyện Ngục và Trái Đất. Chỉ còn: "Vương Quốc của Chúa và Hỏa Ngục"

Sự khởi đầu và kết thúc của thế giới sẽ trở nên một (21/04/2014)
Thứ Hai, ngày 21 tháng 04 năm 2014 lúc 15:56

Hỡi con gái yêu dấu của Ta, thật rất khó khăn cho các linh hồn, ngay cả những linh hồn có đức tin hết sức mạnh mẽ, để hòa hợp giữa thế giới mà họ đang sống với thế giới thuộc về Vương Quốc của Ta.

Thế giới, như nó đang hiện có, thì không tương xứng với Vương Quốc của Ta và điều này có nghĩa là những ai trong các con nhận biết Ta và thật lòng yêu mến Ta, đôi khi nhận thấy rằng để sống cuộc sống hằng ngày của các con thì thật là vất vả. Yêu mến Ta có nghĩa là tuân theo những Giáo Huấn của Ta và kêu cầu Ta tha thứ cho tội lỗi của các con. Đây là cách duy nhất để các con có thể trở nên chi thể của Đấng Hằng Hữu. Các con không thể trở thành một thành phần trong Vương Quốc của Ta cho đến khi các con nhận biết Sự Thật và đón nhận SựThật, trong khi tội lỗi vẫn còn tồn tại, thì thế giới sẽ không bao giờ hoàn hảo được. Chừng nào mà nhân loại còn làm mọi điều theo ý chí tự do của chính họ, khi nhân loại luôn bị cám dỗ để đắm mình vào những nhu cầu ích kỷ của chính họ, thì nhân loại sẽ mãi là nô lệ.

Khi các con sống theo Lời Chúa, các con sẽ có khả năng nhận biết thế giới theo đúng bản chất của nó. Các con sẽ chứng kiến điều kỳ diệu là Kỳ Công về Trái Đất mà Cha Ta đã dựng nên. Nhưng, các con cũng sẽ nhận thấy rằng sự yếu đuối của nhân loại đã khiến cho họ xa lìa Thiên Chúa biết bao. Chừng nào mà nhân loại còn xa lìa Thiên Chúa, thì thế giới, như các con biết, sẽ không thể được nâng lên để đạt được Vẻ Huy Hoàng như thuở xưa. Chính vì thế mà các con chỉ có thể tìm được sự bình an đích thực khi Ta ngự đến lần nữa để đem các con vào trong Thiên Đàng của Cha Ta, vốn đã được tạo dựng cho các con từ thuở ban đầu.

Sự khởi đầu và kết thúc của thế giới sẽ trở nên một. Sẽ không có Thiên Đàng, không có Luyện Ngục và không có Trái Đất - sẽ chỉ tồn tại hai thực thể. Vương Quốc của Ta – nơi mà sự sống sẽ không bao giờ cùng tận - dành cho những ai vốn đang để cho Ta quy tụ vào trong Thánh Tâm Ta, và Hỏa Ngục dành cho những kẻ nào không chịu quay về với Ta.

Tất cả mọi sự sẽ theo như Lòng Thương Xót của Ta và theo Thánh ý của Cha Ta, Đấng yêu thương tất cả con cái của Người. Người muốn cứu rỗi tất cả mọi người thông qua Ta. Ta không thể ép buộc họ bước theo Ta, những kẻ vốn không muốn thuộc về Vương Quốc của Ta hoặc những kẻ khước từ mọi nỗ lực của Ta để mang lại cho họ sự sống vĩnh cửu tuyệt vời và đầy vinh hiển. Đừng bỏ qua Những Lời Van Nài của Ta để cứu giúp những linh hồn đáng thương này.

Chúa Giêsu của các con

Chuyển dịch từ nguồn: thewarningsecondcoming.com

Hỏa Ngục là Đời Đời - Không có Hỏa Ngục Tạm Giam - Không cầu nguyện cho linh hồn và quỷ ở Hỏa Ngục

Hỏa ngục

Hỏa ngục hoặc địa ngục là tình trạng bị trừng phạt ở đời sau, nơi các linh hồn chết khi mắc tội trọng phải chịu đau khổ đời đời cùng với Ác thần và ma quỷ. Sự hiện hữu của hỏa ngục là một thực tế có thật, và là một giáo huấn không thể bác bỏ của Giáo hội Công giáo.
Theo Giáo lý Công giáo, chúng ta không thể kết hiệp với Chúa nếu chúng ta không yêu mến Ngài. Nhưng chúng ta không thể yêu mến Chúa nếu chúng ta mắc tội trọng, vì tội trọng chống lại Thiên Chúa, chống lại tha nhân và chống lại chính chúng ta. Chết khi mắc tội trọng mà chưa ăn năn, chưa chấp nhận lòng thương xót của Chúa, nghĩa là chúng ta vẫn xa cách Ngài mãi mãi, lỗi tại chúng ta đã chọn cách đó. Tình trạng tự loại bỏ mình khỏi Thiên Chúa và đáng nguyền rủa như vậy được gọi là HỎA NGỤC.

Thiên Chúa không muốn ai xuống hỏa ngục. Tuy nhiên, con người có tự do – chúng ta tự do chọn Chúa hoặc từ khước Ngài. Những người từ khước Thiên Chúa trong cuộc sống này thì không thể kết hiệp với Ngài trên trời. Cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói: “Hỏa ngục không là hình phạt do Thiên Chúa bắt phải chịu mà là sự phát triển những tiền đề do con người sắp sẵn từ đời này”.

Thiên Chúa không tiền định cho ai vào hỏa ngục. Vào hỏa ngục là “cố ý xa rời Thiên Chúa (tội trọng), và ngoan cố cho đến cùng” (Giáo lý Công giáo – GLCG).

Tội trọng là gì?

Giáo hội Công giáo dạy rằng tội trọng chưa được ăn năn khi chết sẽ khiến người ta chết đời đời. Nhưng nghĩa chính xác của “tội trọng” là gì? GLCG dạy: “Tội trọng là vi phạm điều nghiêm trọng với ý thức đầy đủ và hoàn toàn ưng thuận”.

GLCG giải thích: “Cẩn thận chọn lựa – nghĩa là biết và muốn – điều gì đó trái ngược với luật Chúa và giữ tới cuối đời là phạm tội trọng. Điều này hủy hoại sự nhân ái trong chúng ta mà không thể được phúc đời đời. Không ăn năn dẫn tới sự chết đời đời”.

Hỏa ngục là đời đời?

Giáo hội xác định rõ ràng sự hiện hữu của hỏa ngục và tính chất đời của nói: “Ngay sau khi chết, linh hồn của những người chết trong tình trạng tội trọng đều vào hỏa ngục, nơi họ chịu hình phạt của hỏa ngục, lửa đời đời”.

Hỏa ngục và đau khổ ở Hỏa ngục thế nào?

Đau khổ khủng khiếp nhất trong hỏa ngục là linh hồn phải xa lìa Thiên Chúa. Chúng ta được tạo dựng cho Thiên Chúa. Sau khi chết, linh hồn hướng về Thiên Chúa với lực rất mạnh, như sao băng rơi xuống đất. Linh hồn khao khát Thiên Chúa, như cá rất cần nước khi nó bị bắt lên bờ. Những mơ ước của tâm hồn khiến chúng ta ray rứt suốt đời (tài sản, quyền lực, vinh dự, niềm vui, thành công,…) vội biến mất như ký ức xa xưa, tiêu tan như sương tan chảy trong ánh nắng.

Nhưng linh hồn phạm tội trọng nhận biết tình trạng của mình, lập tức bị Thiên Chúa phán xét và phải vào hỏa ngục: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó!” (Mt 25:41). Sự từ khước đó khiến chúng ta bị áp đảo – nó thiêu đốt chúng ta theo cách khủng khiếp nhất về thể xác mà không thể tái tạo.

Hãy tưởng tượng khi mẹ của chúng ta nói với chúng ta: “Đi cho khuất mắt tao, mày là đứa con mất dạy! Tao không bao giờ muốn thấy mặt mày nữa!”. Hãy tưởng tượng nỗi đau của một người mẹ khi đứa con không nhìn nhận mình là mẹ. Chúng ta không thể chịu được những nỗi đau như vậy, và khiến nhiều người thất vọng. Hãy so sánh nỗi đau đó với nỗi đau bị Chúa từ khước, chúng ta sẽ cô đơn đến cùng cực, đó là nỗi đau khổ của các linh hồn sau khi chết phải vào hỏa ngục.

Linh hồn bị thiêu đốt trong hỏa ngục sẽ mãi mãi xa lìa Thiên Chúa, mãi mãi bị ray rứt, phải chịu đựng nỗi vô vọng vì không được kết hiệp với Chúa. Linh hồn đó sẽ bị dằn vặt vì nỗi khao khát khôn nguôi, nhưng không bao giờ được thỏa mãn. Linh hồn đó mãi mãi khát vọng Chúa, nhưng chẳng bao giờ được gặp Ngài, vì đó là lỗi của họ đã tự do từ khước Ngài. Chúng ta không thể tưởng tượng nỗi đau khổ đó tới mức nào. Thật khủng khiếp!

Giáo hội dạy chúng ta rằng có sự hành hạ bởi lửa trong hỏa ngục – lửa này không như lửa trần gian, mà lửa thiêu đốt cả linh hồn và thân xác (vì thân xác chúng ta sẽ tái kết hợp với linh hồn vào ngày tận thế). Hãy tưởng tượng nỗi đau đớn và nỗi thống khổ đó như lấy lửa đốt tay chúng ta chỉ 1 phút thôi, chắc hẳn chúng ta không thể chịu nổi. Hãy tưởng tượng “lửa đau khổ” đó mạnh hơn lửa trần gian hàng triệu lần, không chỉ thiêu đốt trong 1 phút, mà thiêu đốt đời đời.

Nhưng có một nỗi đau khác sẽ làm linh hồn đau khổ trong hỏa ngục, đó là sự dằn vặt khôn nguôi vĩnh viễn làm linh hồn đau khổ – chính linh hồn đó nhận biết sự bội bạc và tội lỗi của mình. Hãy tưởng tượng nỗi đau khổ khi nhận biết niềm hạnh phúc vô cùng khi được ở trước Tôn Nhan Chúa trên trời, nhưng vì tội lỗi và sự tự do của mình mà linh hồn phải chịu hành hạ đời đời.

Dĩ nhiên chúng ta không thể tưởng tượng được sự hành hạ đời đời, nhưng linh hồn sa hỏa ngục phải mãi mãi chịu sự kiềm chế của Satan, ác thần và ma quỷ. Chúng ta sẽ phải đối diện với Satan, và mãi mãi nguyền rủa hắn. Chúng mai mỉa chúng ta và nguyền rủa chúng ta – và cùng với chúng, chúng ta cũng sẽ nguyền rủa Thiên Chúa và phỉ báng Ngài với cách tồi tệ nhất. Các linh hồn sa hỏa ngục không thể yêu thương, và không có gì khác ngoài sự ghen ghét.

Làm sao biết có Hỏa ngục?

Chúng ta biết có hỏa ngục vì chính Chúa Giêsu đã xác định như vậy. Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật, chứ không chỉ là thánh nhân hoặc tiên tri. Ngài chứng tỏ thần tính của Ngài qua các phép lạ: Làm cho người chết sống lại, và làm những điều mà những người bình thường không thể làm. Đặc biệt là Ngài chứng tỏ thần tính của Ngài khi Ngài phục sinh – chỉ có Thiên Chúa mới khả dĩ làm vậy, kiểm soát cả sự sống và sự chết.

Các tông đồ và các môn đệ là những nhân chứng của sự kiện này, và Kinh Thánh đã ghi lại các chứng cớ đó. Liệu họ có bị lừa không? Họ có là những người nói dối và thêu dệt những chuyện chết đi rồi sống lại? Không thể như vậy, với lý do đơn giản là họ đã chết để làm chứng sự thật này. Liệu bạn có dám chết vì điều dối trá? Họ đã hết lòng tin vào sự phục sinh của Chúa Giêsu, và tin cho đến chết.

Chúa Giêsu là Thiên Chúa, nhiều lần Ngài đã nói rằng CÓ HỎA NGỤC, vì thế hỏa ngục phải có thật! Trong Kinh Thánh, Chúa Giêsu đã nói về hỏa ngục hơn 50 lần! Ngài nói cho chúng ta biết về “lò lửa”, nơi người ta “phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 13:42). Ngài nói với chúng ta về hỏa ngục với “lửa không hề tắt” (Mc 9:43). Ngài giải thích cho chúng ta biết rằng hỏa ngục là nơi đau khổ đời đời, không thể rút lại hoặc giảm bớt đau khổ, như trong dụ ngôn “phú hộ và Ladarô” (Lc 16:19-31).

Chúa Giêsu đã cảnh báo chúng ta về sự tức giận, chê bai và chửi bới tha nhân, vì liên quan hỏa ngục:“Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt” (Mt 5:22).

Việc làm gương xấu liên quan hỏa ngục: “Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, rồi quăng chúng vào lò lửa; ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 13:41-42).

Chúa Giêsu nói thẳng: “Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt” (Mc 9:43).

Các tông đồ cũng nói tới hỏa ngục nhiều lần trong Tân ước, đề cập Hỏa ngục là “nơi u ám tối tăm” (2 Pr 2:17), “cảnh huỷ diệt tiêu vong” (1 Tm 6:9), “sự hư nát” (Gl 6:8), “chỗ chết” (Rm 6:21), “cái chết thứ hai” (Kh 2:11), “hồ lửa” (Kh 20:14), và nhiều cách nói khác...

Trong Cựu ước, có hơn 30 lần nói tới hỏa ngục. Chẳng hạn: “Khốn thay dân tộc nào dám đứng lên chống lại giống nòi tôi! Đức Chúa toàn năng sẽ trừng phạt chúng trong ngày Người xét xử. Người sẽ khiến lửa thiêu, khiến giòi bọ rúc rỉa thân xác chúng. Chúng sẽ phải than khóc và đau khổ muôn đời!” (Gđt 16:17). Hoặc: “Hãy xa ra, đừng tiến lại gần, vì ta quá thánh đối với ngươi. Những điều đó khiến cơn giận Ta bừng lên như lửa cháy suốt ngày” (Is 65:5).

Tại sao Thiên Chúa thương xót lại tạo Hỏa ngục với hình phạt đời đời?

Hỏa ngục là nơi Thiên Chúa trừng phạt chúng ta vì tội lỗi chúng ta đã phạm. Đó là tình trạng đau khổ mà chính chúng ta đã tự do chọn lựa khi còn sinh thời: Chọn Chúa hoặc bỏ Chúa. Những người từ khước Chúa khi sinh thời và chết mà không ăn năn sám hối, tức là tự kết án mình và tự làm khổ mình vì quyết định riêng. Hỏa ngục không là hình phạt do Thiên Chúa bắt phải chịu, nhưng đó là ý muốn tự do của chúng ta mà thôi.

Thiên Chúa vô cùng tốt lành và nhân hậu. Ngài muốn chúng ta kết hiệp với Ngài trên trời. Thật vậy, thậm chí Ngài còn sai Con Một Giêsu đến thế gian chịu chết vì chúng ta, để chúng ta có cơ hội vào Nước Trời. Nhưng có điểm quan trọng phải ghi nhớ: Chúng ta hoàn toàn được tự do chọn lựa cách sống. Chúng ta tự do chọn Chúa hoặc bỏ Chúa. Thiên Chúa không nhẫn tâm, không hề muốn ném chúng ta vào lửa hỏa ngục.

Thật vậy, Thiên Chúa trở nên “yếu đuối” trước ý muốn tự do của chúng ta. Ngài không thể ép chúng ta yêu mến Ngài, phục vụ Ngài, và kết hiệp với Ngài trên trời. Chúng ta tự do từ bỏ Ngài. Chúng ta tự do muốn sống không cần Ngài – cả đời này và đời sau. Khi sống đối lập với Thiên Chúa, chúng ta tự kết án mình và tách rời khỏi Ngài trong đời sau.

Chân phước Gioan Phaolô II, trong lần tiếp kiến chung ngày 28-7-1999, nói rõ về điểm này: “Thiên Chúa vô cùng tốt lành và là Cha nhân hậu. Nhưng nhân loại, được mời gọi tự do đáp lại Ngài, có thể chọn cách từ khước tình yêu và sự tha thứ của Ngài, như vậy thì tự tách mình khỏi Ngài mãi mãi và không muốn kết hiệp với Ngài. Vì tình trạng bi thảm này mà giáo lý Công giáo giải thích khi nói về sự kết án đời đời hoặc hỏa ngục. Đó không là hình phạt đời đời do Thiên Chúa bắt phải chịu mà là do nhân loại tạo ra lúc sinh thời. …Theo nghĩa thần học, hỏa ngục là cái khác: Đó là hậu quả của tội lỗi, nó chống lại chính người đã vi phạm. Đó là tình trạng của những người từ khước lòng thương xót của Chúa, ngay cả trong giây phút cuối đời. Hỏa ngục cho thấy tình trạng của những người tự ý tách khỏi Thiên Chúa, Đấng là Nguồn Sống và Nguồn Vui”.

Cũng trong lần tiếp kiến chung đó, Chân phước Gioan Phaolô II giải thích: “Do đó, sự kết án đời đời không do Thiên Chúa, vì với lòng thương xót vô biên, Ngài chỉ có thể muốn cứu độ các thụ tạo của Ngài. Đó là những thụ tạo gần gũi với tình yêu của Ngài. Sự kết án là do tách khỏi Thiên Chúa, nhân loại tự ý chọn và cố chấp tới lúc chết. Sự phán xét của Thiên Chúa xác nhận tình trạng này”.

Thế nào là thái độ đúng đắn với Hỏa ngục?

Kinh Thánh nói: “Trí tôi đã học hỏi được nhiều điều khôn ngoan, tích luỹ được bao nhiêu kiến thức; tôi đã chú tâm phân biệt đâu là khôn ngoan, tri thức, đâu là điên rồ, khờ dại. Ngay cả việc này nữa, tôi nhận thấy đó cũng chỉ là công dã tràng” (Gv 1:16-17). Sẽ là vô cùng điên rồ và ngu xuẩn, nếu chúng ta sống hoàn toàn khinh suất và dửng dưng đối với thực tế về hỏa ngục.

HỎA NGỤC CÓ THẬT. Chúa Giêsu đã nói rõ ràng. Trong nhiều cuộc mặc khải đã được Giáo hội chuẩn nhận, nhiều vị thánh và nhiều nhà thần bí đã chứng tỏ sự hiện hữu thật của hỏa ngục, và đã thuật lại sự khủng khiếp của hỏa ngục. Kính sợ Chúa, sợ tách rời Ngài trong sự sống đời sau, đó là bắt đầu khôn ngoan.

Cạm bẫy của ma quỷ là thuyết phục người ta rằng hỏa ngục chỉ là trò đùa, là lỗi thời, chứ chẳng có nơi nào như thế trong xã hội tiến bộ ngày nay. Chúng ta nên sống với con mắt tâm linh chăm chú vào phần thưởng Nước Trời, và thực sự nhận biết án phạt đời đời.

Trong cuốn “The 7 Habits of Highly Effective People” (Bảy Thói Quen của Những Người Sống Hiệu Quả – loại sách bán rất chạy), tác giả Steven Covey viết: “Chúng ta nên luôn bắt đầu bằng sự kết thúc trong trí óc”. Để sống tâm linh hiệu quả, có thể chúng ta cần lời khuyên của Covey và mỗi ngày bắt đầu sống với “sự kết thúc trong tâm trí” – nghĩa là chú ý vào Quê Trời, nhận thức về hỏa ngục, cố gắng tránh lửa đời đời.

Giáo huấn Công giáo về Hỏa ngục

Bạn có bao giờ tự hỏi xem đời mình sẽ kết thúc ở đâu? Điều gì sẽ xảy ra với linh hồn sau khi bạn chết? Sự chết không là vấn đề vui để nói tới, nhưng đó là một thực tế không thể né tránh, sớm muộn gì rồi chúng ta cũng phải đối diện. Cuộc đời này là thời gian thử thách, là nền tảng xác nhận tình yêu của chúng ta dành cho Chúa. Cuối cùng, tất cả chúng ta đều phải chấm dứt cuộc sống này. Ai cũng phải chết, cách này hay cách khác. Điều cuối cùng xảy ra với mỗi người là: Chết, chịu phán xét, vào Nước Trời hoặc Hỏa ngục.

Chết là hồn lìa khỏi xác. Thân xác sẽ hư nát nhưng linh hồn bất tử phải trình diện Chúa. Đó là phán xét riêng. Linh hồn được thấy cả cuộc sống của mình – mọi tư tưởng, lời nói, hành động, thiếu sót,... Đã sống thế nào? Chết trong ơn nghĩa Chúa hay chết trong tội trọng? Đức Kitô sẽ có phán quyết dành cho linh hồn – Nước Trời, luyện ngục, hoặc hỏa ngục!

Chúa Giêsu đã cho biết hỏa ngục là nơi có “lửa không hề tắt” (Mc 9:43, Mt 5:22 & 29; Mt 10:28). Và Ngài xác định: “Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, rồi quăng chúng vào lò lửa; ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 13:41-42).

Hỏa ngục hiện hữu đời đời. Đó là nơi có thật và khủng khiếp. Ở đó, nhiều linh hồn bị kết án “tù chung thân đời đời” – đó là những người đã từ khước tình yêu Chúa khi họ còn sống trên thế gian, họ không hòa giải với Chúa, không thạt lòng ăn năn sám hối những động thái sai trái của mình, họ chết khi còn mắc tội trọng.

Hỏa ngục như thế nào? Chẳng ai biết chính xác vì chưa có ai vào đó rồi về kể lại. Nhưng chúng ta biết chắc đó là nơi có lửa đời đời – vì Chúa Giêsu đã nói vậy. Đó là trạng thái mà những linh hồn bị kết án chịu đau khổ cùng cực. Hình phạt ở hỏa ngục gấp đôi: Đau khổ về ý thức và đau khổ về mất mát.

Đau khổ về ý thức vì “lửa không hề tắt”, nhưng đó là lửa chúng ta không thể biết. Đó không là lửa như chúng ta thấy trên thế gian. Chúng ta gọi là “lửa” vì phàm ngôn chỉ diễn tả được như vậy. Lửa chúng ta biết ở thế gian chỉ là “gió mát” so với lửa ở hỏa ngục.

Chị Lucia, lúc đó mới 10 tuổi, lớn nhất trong ba trẻ được Đức Mẹ hiện ra tại Fatima (Bồ Đào Nha), đã diễn tả thị kiến về Hỏa ngục mà Đức Mẹ cho thấy: “Tia sáng tỏa ra từ tay Đức Mẹ như xuyên qua trái đất, và chúng tôi thấy một biển lửa. Trong biển lửa đó là ma quỷ và các linh hồn như những cục than đỏ nóng rực, trong suốt và đen hoặc đỏ với dạng con người nổi bồng bềnh trong đó... giữa những tiếng rên la thảm thiết vì đau khổ và vô vọng khiến chúng tôi sợ hãi. Ma quỷ khác biệt với những dạng thú vật khủng khiếp, nhưng chúng trong suốt như những cục than đỏ nóng rực”.

Thánh tiến sĩ Teresa Avila đã được Chúa cho thị kiến về hỏa ngục, bà mô tả: “Một hôm, khi tôi đang cầu nguyện, bất ngờ tôi vào hỏa ngục. Tôi nghĩ lối vào như một lối hẹp, như lò lửa, rất tối tăm và tù túng. Nền như đầy nước hôi thối, và có nhiều loại ghê tởm nhìn như rắn rết. Ở phía cuối có khoảng không thăm thẳm mà tôi thấy mình bị nhốt chặt. Nhưng cảnh tượng đó còn dễ chịu so với những gì tôi cảm thấy. Không còn cách nào khủng khiếp hơn. Tôi cảm thấy lửa trong linh hồn tôi, tôi không thể diễn tả được. Đau khổ thể xác quá đỗi ghê gớm... thật là vô cùng và không ngừng... Tôi bất lực trong vô vọng... Tôi cảm thấy ngột ngạt... Không có ánh sáng và mọi thứ chìm trong sự tối tăm. Tôi không thể diễn tả nó như thế nào, dù không có ánh sáng nhưng có thể thấy mọi thứ gây ra đau khổ...”.

Nếu đau khổ về ý thức là điều khủng khiếp thì đau khổ về mất mát còn tệ hại hơn nhiều. Những linh hồn sa hỏa ngục bị tước mất Thiên Chúa và xa cách Ngài mãi mãi. Con người được tạo dựng cho Thiên Chúa nhưng nay con người không bao giờ có thể đạt được những gì được tạo nên cho mình, và đó là đau khổ khủng khiếp nhất mà linh hồn phải chịu. Thiên Chúa là tình yêu và Thiên Chúa là mẫu mực của con người.

Con người cố gắng xác định theo khuôn mẫu Chúa nhưng những người trong hỏa ngục bị tước mất Thiên Chúa và cảm thấy không yêu thương mà chỉ ghen ghét. Vì không đạt được những gì được tạo nên cho mình, con người tự xé nát. Chẳng lạ gì khi hỏa ngục đầy ma quái với cảnh “khóc lóc và nghiến răng”, vì đó sự tuyệt vọng vô cùng.

Thánh Teresa nói tiếp: “...Không gì có thể so sánh với sự đau khổ của linh hồn, sự bức xúc, sự ngột ngạt và ưu phiền quá mạnh đến nỗi tôi không thể diễn tả được... linh hồn tự xé nát... Tôi không thể diễn tả lửa nội tâm và sự thất vọng lớn hơn những sự hành hạ và đau đớn ghê gớm nhất”.

Linh hồn sa hỏa ngục không ngừng bạo lực với chính mình mà không mong gì giảm bớt. Họ không thể giao tiếp với nhau. Trong hỏa ngục không có cách nào có thể nối kết họ hoặc giúp họ xích lại gần nhau. Họ không thể cởi mở với các bạn đau khổ khác vì sự ghen ghét xiềng xích họ khiến người này tách rời người khác. Mỗi linh hồn đều mãi mãi cô đơn, ghét chính mình và ghét người khác vì họ chỉ cảm thấy ghen ghét mà thôi!

Mỗi linh hồn sa hỏa ngục đều nổi loạn trong “vùng lửa” của mình, muốn thoát khỏi mình và thoát khỏi người khác với lòng ghen ghét cực mạnh: Ích kỷ, bất lực, đau khổ, khiếp sợ, vô vọng. Đó là tình trạng vô vọng vĩnh viễn, vì hỏa ngục là cuối cùng và không thể thay đổi được.

Ma quỷ có thật, láu cá, ranh ma, mánh khóe, thủ đoạn, dối trá,... Nó sẽ làm mọi cách để quyến rũ chúng ta để chúng ta sập bẫy thủ đoạn của nó. Tuy nhiên, Thiên Chúa không đòi hỏi những gì quá sức chúng ta. Ngài không đòi hỏi chúng ta phải yêu thương và trung thành tuyệt đối, vì Ngài biết chúng ta là phàm nhân yếu đuối. Ngài cho chúng ta ý chí và sự tự do, nếu chúng ta thường xuyên cầu xin ơn Chúa, Ngài sẽ làm cho chúng ta mạnh mẽ khi chống lại cái xấu.

Thiên Chúa là Đấng tốt lành và yêu thương, Ngài xứng đáng được chúng ta trung thành. Một khi nhận biết giá chúng ta phải trả nếu chúng ta tự tách khỏi tình yêu của Chúa và biết hỏa ngục thế nào, liệu chúng ta có bao giờ dám làm điều xấu dù chỉ một lần hay không? Chắc hẳn là không. Nhưng không thể chỉ nói suông, quan trọng là phải HÀNH ĐỘNG tích cực!

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ) - Thanhlinh

Mail của bạn đọc cám ơn Linh Mục Đồng Trung

Kinh thua qui vi. Mot so anh chi em chung con theo doi Su Diep Tu Troi tu nam 2012 toi nay nhung chi biet cau nguyen va lo so nhieu ! Đồng thời chúng con thắc mắc sao khong có một Đang nào lên tiếng để an tâm là thật và được an ủi. 


Khi nhan duoc bai giang cua Cha Daminh Dong Trung, chung con mung roi le va ta on Chua Me...
Va hom nay con xin phep duoc bay to long biet on Cha va xin Chua va Me On Cuu Roi ban cho Cha va Qui Vi suc khoe va can dam de nang do su hen nhat cua chung con. Va cung xin Qui Vi ban cho chung con Su Diep Hot moi ngay qua email gius...@gmail.com. Con cũng xin Quí vị rộng tình tha thứ có sự kém văn hóa của con.

Chung con xin tam biet va mong hoi am cua Qui vi moi dau ngay.

Xin cam ta.

Nguy to rồi: Anh quốc: 2.000 phần tử cực đoan gia nhập nhóm khủng bố IS

Anh: 2.000 phần tử cực đoan gia nhập nhóm khủng bố IS
Khánh Hiền

Tờ Telepraph (Anh) đưa tin, giới chức Anh đang lo ngại những phần tử cực đoan đang rời Anh để tới các trại huấn luyện khủng bố của IS tại Syria và Iraq tăng cao đột biến. Số lượng lên đến 2.000 người.
Trước đó, theo báo cáo, số lượng chiến binh Jihad người Anh ở thủ phủ Hồi giáo của Iraq và Levant cùng các nhóm khủng bố khác vào khoảng 500 người.

Tuy nhiên, ông Khalid Mahmood, nghị sỹ Công đảng của Birmingham Perry Barr (một đơn vị bầu cử với phần lớn là người Hồi giáo) cho rằng con số thực tế còn cao hơn gấp bốn lần. 
Ông Khalid Mahmood – Nghị sỹ Hồi giáo đầu tiên của Anh

Giới chức Anh đang lo ngại những phần tử cực đoan đang rời Anh để tới các trại huấn luyện khủng bố của IS.

Theo minh chứng từ một thông tin trên trang mạng xã hội tuần trước thì có khoảng 20 chiến binh Jihad người Anh đang gia nhập lực lượng khủng bố ISmỗi ngày.

Ngày 22/11 đã ghi nhận thêm hai người Briton (người Anh bản xứ), Abu Abdullah al Habashi, 21 tuổi và Abu Dharda, 20 tuổi đều đến từ London đã hy sinh khi chiến đấu ở Syria.

Chính phủ từ chối bình luận về việc những người Briton đã bị bắt ở biên giới Anh có liên hệ tới khủng bố ở Syria càng làm tăng thêm nghi ngại rằng con số này rất nhỏ.Cả hai người đều được cho là đã chết ở biên giới thị trấn Kobane nơi các chiến binh Kurdish đang chiến đấu chống lại lực lượng IS với sự hỗ trợ của không quân Mỹ.

Theresa May, Bộ trưởng Nội vụ Anh, trong một nỗ lực kiềm chế với sự đe dọa của khủng bố, đã đưa ra các biện pháp trong Dự thảo Anh ninh và chống khủng bố với yêu cầu các công ty internet lưu giữ dữ liệu để cảnh sát xác định các tên khủng bố đã âm mưu tấn công trên mạng. 

Bà Theresa May – Bộ trưởng Bộ Nội vụ

Nhưng ông Mahmood cho rằng Bộ Nội vụ đã thất bại trong việc làm giảm số lượng chiến binh Jihad người Anh đi lại qua cửa khẩu Anh.

Tờ Telepraph đã thu thập các minh chứng chứng minh ít nhất bốn người Hồi giáo đã bị chính phủ và các bên liên quan tịch thu hộ chiếu vẫn rời được Anh trong những tháng gần đây.

Theo ước tính có ít nhất 250 chiến binh người Anh đã trở về từ Syria và Iraq, 30 người trong số đó đã bị bắt làm tăng thêm nghi ngờ về con số chiến binh Jihad đang gia tăng trên các đường phố.

Cục Anh ninh Anh cho rằng khoảng 35 người Briton, chủ yếu đứng về phía IS đã bị giết ở Syria và Iraq.

Hội đồng người Hồi giáo ở Anh đại diện cho 2,8 triệu người Hồi giáo nước này đã buộc tội chính phủ vì không thể làm giảm số lượng người có khả năng trở thành chiến binh Jihad rời đất nước.
Theo ngaynay

Đức Hồng Y Robert Sarah được cử làm tổng trưởng Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích

Đặng Tự Do - Theo Vietcatholic

Sáng thứ Hai 24 tháng 11, Đức Thánh Cha đã chủ toạ cuộc họp với các viên chức cao cấp trong giáo triều Rôma để thảo luận về những cải tổ trong giáo triều. Cuộc họp đã kéo dài trong 3 giờ. 

Cha Federico Lombardi, giám đốc Phòng Báo Chí Tòa Thánh cho biết cuộc họp đã quy tụ hầu hết các vị tổng trưởng và các chủ tịch của các Hội Đồng Tòa Thánh. 

Đức Giám Mục Marcello Semeraro, thư ký của Hội đồng các Hồng Y, đã mở đầu cuộc thảo luận. Ngài đưa ra những thay đổi đã được đề xuất liên quan đến cấu trúc của các cơ quan tại Vatican. 

Trong một diễn biến có liên quan, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cử Đức Hồng Y Robert Sarah, Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Cor Unum (Đồng Tâm), làm tổng trưởng Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích. Hội đồng Giáo hoàng Cor Unum, Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hoà Bình được tin là sẽ được sát nhập vào các cơ quan khác.

Đức Hồng Y Sarah là người Guinea sẽ thay thế Đức Hồng Y Antonio Cañizares Llovera, là người đứng đầu bộ này từ tháng 8 năm 2008 cho đến khi ngài được bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Valencia, Tây Ban Nha.

Đức Hồng Y Sarah, 69 tuổi, được thụ phong linh mục vào năm 1969 và đã trở thành vị giáo sĩ cao nhất tại Guinea vào năm 1979.

Năm 2001, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm ngài làm Tổng thư ký của Thánh Bộ Truyền giáo. Năm 2009, ngài đã tiến hành một cuộc thanh tra tông tòa tại Cộng hòa Trung Phi dẫn đến việc tái cấu trúc lại hàng giáo phẩm tại quốc gia này.

Năm 2010, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 bổ nhiệm ngài làm Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Cor Unum, là cơ quan cung cấp viện trợ nhân đạo thay mặt cho Đức Giáo Hoàng. Với chức năng đó, Đức Hồng Y Sarah nhấn mạnh tầm quan trọng của một căn tính Công Giáo mạnh mẽ trong viễn tượng Phúc âm hóa của các tổ chức bác ái Công Giáo.

Thứ Ba, 25 tháng 11, 2014

Đức Giáo Hoàng Phanxicô: nói về gia đình, không có chuyện bảo thủ hay cấp tiến, gia đình là gia đình

Vũ Văn An 11/17/2014 - Vietcatholic

Hôm nay 17 tháng Mười Một, tại Vatican, Đức Phanxicô đã khai mạc hội luận liên tôn về tính bổ túc nam nữ do Thánh Bộ Giáo Lý Đức tin và một số cơ quan đầu não của Tòa Thánh đứng ra tổ chức và phối hợp, với sự tham dự của nhiều đại diện các Giáo Hội anh em và đại diện các tôn giáo lớn trên thế giới. 
Đức Giáo Hoàng Phanxicô (ảnh minh họa)
Trong diễn văn khai mạc, Đức GH nói rằng gia đình là một sự kiện nhân học, chứ không phải là một điều gì đó có tính ý thức hệ, nên không thể là bảo thủ hay cấp tiến được. 

Nói tới tính bổ túc nam nữ, ngài cho rằng nó không phải là một hạn từ buột miệng ra mà nói chơi được. Trái lại suy tư về nó là suy tư về chính các hòa điệu năng động hiện diện trong chính tâm điểm của mọi tạo vật. Hạn từ hòa điệu chắc chắn là một hạn từ quan yếu. Mọi tính bổ túc đều do chính Tạo Hóa tạo nên, do đó, Tác Giả hoà điệu đã thực hiện sự hòa điệu này. 

Ngài cho rằng tính bổ túc nam nữ là “gốc rễ của hôn nhân và gia đình. Vì gia đình đặt cơ sở trên hôn nhân là trường học đầu tiên nơi ta học cách đánh giá cao các hồng phúc của ta và của người khác, và là nơi, ta thủ đắc được nghệ thuật sống hợp tác”. 

Theo ngài, nói chung, gia đình cung cấp nơi chính yếu để ta vươn tới sự cao cả khi ta biết cố gắng thể hiện khả năng trọn vẹn của ta trong việc sống nhân đức và đức ái. Gia đình tạo ra căng thẳng, nhưng nó cũng cung cấp cho ta khuôn khổ để giải quyết các căng thẳng này.

Trong ngữ cảnh trên, tính bổ túc nam nữ không phải là một ý niệm đơn giản hóa trong đó, các vai trò và mối tương quan giữa hai giới tính được ấn định dứt khoát trong một khuôn mẫu đơn nhất và tĩnh tụ. Nó mang nhiều hình thức khi mỗi người đàn ông và người đàn bà đóng góp phần khác biệt của mình, sự phong phú bản thân, đặc sủng bản thân của mình, vào cuộc hôn nhân của họ và vào việc dưỡng dục con cái. Tính bổ túc lúc đó trở thành sự phong phú lớn lao. Nó không những là điều tốt mà còn là điều đẹp nữa. 

Ngài cho biết tiếp: hôn nhân và gia đình ngày nay đang gặp khủng hoảng. Chúng ta đang sống trong một nền văn hóa tạm bợ, trong đó, càng ngày càng có nhiều người không muốn bước vào hôn nhân như một cam kết công khai nữa. Sự biến đổi về phong thái và luân lý này đôi khi tự đắc cho mình đại diện cho tự do, nhưng thực ra đem lại biết bao tàn phá tâm linh và vật chất cho vô số con người, nhất là những người nghèo khổ nhất, yếu thế nhất. 

Điều trên đòi ta phải tạo ra một “sinh thái nhân bản mới”. Người ngày nay nói nhiều tới việc bảo vệ sinh thái tự nhiên và tỏ ra rất chậm chạp trong việc nhìn nhận rằng môi trường xã hội của ta cũng đang bị đe dọa một cách trầm trọng.

Bởi thế điều cần thiết đầu tiên là phải cổ vũ các rường cột nền tảng vốn nâng đỡ một quốc gia, đó là các sự thiện không có tính vật chất. Gia đình là nền tảng của việc sống chung và là phương thuốc chống lại việc phân mảnh xã hội. Con cái có quyền được lớn lên trong một gia đình có cha có mẹ với khả năng tạo ra một môi trường thích hợp cho đứa trẻ phát triển và trưởng thành về xúc cảm. Đó chính là lý do khiến Đức GH nhấn mạnh trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng rằng việc đóng góp của gia đình cho xã hội là điều không thể thiếu; nó vượt lên trên cảm xúc và các nhu cầu tạm bợ của vợ chồng. 

Ngài kêu gọi các vị tham dự hội luận nhấn mạnh tới một chân lý nữa về hôn nhân. Đó là: chỉ có cam kết liên đới, trung thành và yêu thương vĩnh viễn mới đáp ứng được các khát vọng sâu xa nhất của trái tim con người. 

Ngài cũng yêu cầu các vị giúp người trẻ để họ đừng đầu hàng thứ môi sinh tạm bợ đầy chất độc hiện nay, trái lại trở thành những nhà cách mạng, biết can đảm lên đường tìm tình yêu chân thực và lâu bền, ngược lại khuôn mẫu thông thường. 

Ngài nói rằng: chúng ta đừng để mình sa vào cái thế bị các ý niệm chính trị lung lạc. Vì theo ngài gia đình là một sự kiện nhân học, như trên đã nói, một sự kiện có liên hệ tới xã hội và văn hóa. “Ta không thể lên đặc điểm cho nó dựa trên các ý niệm hay quan niệm ý thức hệ. Ta không thể nghĩ tới các ý niệm bảo thủ hay cấp tiến. Gia đình là gia đình. Nó không thể qui kết bằng các ý niệm ý thức hệ. Gia đình hiện hữu tự nó. Nó là một sức mạnh tự nó".

Ngài kết luân: “tôi cầu xin cho hội luận của qúy vị sẽ là một gợi hứng để mọi người tìm cách hỗ trợ và củng cố sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà trong hôn nhân, hiểu như một thiện ích độc đáo, tự nhiên, nền tảng và tươi đẹp cho con người, cho cộng đồng và toàn bộ xã hội”.

Inés San Martín của tờ Crux, khi loan báo về tin này, nhận định rằng: Đức Phanxicô bênh vực viễn kiến truyền thống của Giáo Hội về đời sống gia đình, một tháng sau cuộc họp thượng đỉnh các giám mục Công Giáo cũng về gia đình. 

Trong THĐ vừa nói, các vị giáo phẩm khắp thế giới đã tranh luận về việc Giáo Hội Công Giáo phải cởi mở đến đâu đối với các liên hệ không hợp truyền thống như các vụ kết hợp đồng tính, nhưng cho biết rõ sẽ không có thay đổi gì về tín lý. 

Nay Đức Phanxicô tỏ ra không khoan nhượng trong việc bênh vực gia đình, coi nó như dây nối kết suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà, sẵn sàng chào đón con cái. 

Inés San Martín cũng cho hay đây là bài diễn văn thứ hai trước công chúng của Đức Phanxicô kể từ lúc kết thúc THĐ. Bài diễn văn thứ nhất được ngỏ với Phong Trào Schoenstatt ngày 27 tháng Mười, trong đó, ngài cũng nhấn mạnh rằng gia đình đang gặp khủng hoảng. 

Hội luận lần này hội tụ tới 350 chuyên viên thuộc 14 tín ngưỡng khác nhau và nhiều Giáo Hội Kitô Giáo khác. Phát biểu trong hội luận này, Đức HY Gerhard Muller cho rằng “con cái có quyền tự nhiên và cố hữu được có một người cha và một người mẹ sống với chúng”. 
Trên bình diện thần học, ngài cho rằng khi các dị biệt giới tính bị quên lãng, thì khó có thể hiểu được sợi dây phu thê giữa Thiên Chúa và dân của Người. 

Đề cập tới bản chất liên tôn của hội luận, Đức HY hỏi rằng: tính bổ túc giữa người đàn ông và người đàn bà có ý nghĩa gì đối với mối liên hệ giữa con người và Thiên Chúa? Câu hỏi này chính là câu hỏi mà mỗi truyền thống văn hóa và tôn giáo của ta được mời gọi trả lời. 

Ngài Jonathan Sacks, nguyên giáo sĩ trưởng Do Thái của Vương Quốc Thống Nhất (Anh) và Khối Thịnh Vượng Chung, thì trình bày lịch sử việc gắn bó có đôi; ông định nghĩa đa hôn là biểu thức tối hậu của bất bình đẳng. Ông định nghĩa hôn nhân như một giao ước yêu thương và tín thác, thực hiện được điều mà riêng một trong hai người không thực hiện được. Ông bênh vực việc bảo vệ dây nối kết nam nữ, cho rằng hôn nhân tan vỡ tạo ra một hình thức nghèo nàn mới: gia tăng số trẻ em rối loạn về ăn uống, bị bạo hành, tự tử, trầm cảm, lo lắng, và thất vọng. 

Nói tới các cặp đồng tính, ông cho hay: “việc cảm thương những ai quyết định sống cách khác không được cản trở ta tiếp tục bênh vực định chế có tính nhân bản hóa hạng nhất của lịch sử này”. 

Cuối bài diễn văn khai mạc của ngài, Đức Phanxicô loan báo một tin vui: “Tôi muốn xác nhận, nếu Chúa muốn, tháng Chín năm 2015, tôi sẽ tới Philadelphia nhân Cuộc Gặp Gỡ Các Gia Đình Thế Giới Lần Thứ 8”.

Sự hiện diện của Đức Phanxicô sẽ thống nhất hóa chúng ta

Tin trên khiến Đức TGM Charles Chaput của Philadelphia hết sức hân hoan. Ngài có lời tuyên bố sau đây:

“Hôm nay là một ngày vui lớn đối với TGP ta, đối với Thành Phố ta, đối với Khối Thịnh Vượng Chung của ta và đối với xứ sở ta! Quả là một đặc ân được hiện diện trước mặt Đức Thánh Cha vào sáng hôm nay tại Rôma khi ngài công bố với thế giới rằng ngài sẽ hiện diện với ta tại Philadelphia vào năm tới nhân Cuộc Gặp Gỡ Các Gia Đình Thế Giới. 

“Giây phút này quả là giây phút lịch sử và hân hoan để tất cả chúng ta cùng chia sẻ. Nó là lời đáp trả cho biết bao lời cầu nguyện của không biết bao nhiêu người từng cầu xin Chúa dẫn Đức GH Phanxicô tới Philadelphia, nó là đỉnh cao của nhiều tháng trời hy vọng mong chờ, và đã làm nên trọn niềm tin tưởng của tôi rằng Đức Thánh Cha sẽ ban ơn cho chúng ta bằng sự hiện diện của ngài vào năm tới. Nó sẽ đánh dấu cuộc viếng thăm đầu tiên của ngài tới Hiệp Chúng Quốc Mỹ Châu trong tư cách giáo hoàng và ngài sẽ là vị giáo hoàng thứ tư, chỉ mới thứ tư thôi, tới thăm quốc gia chúng ta. Không lời lẽ nào có thể diễn tả đủ nỗi vui mừng quá lớn của tôi trước tin tức hết sức đáng chào đón này và tôi biết rõ rất nhiều anh chị em cũng chia sẻ cảm xúc này. Tất cả các cảm xúc này đều có nguồn gốc chung: tình yêu chân thực của Chúa Giêsu Kitô tràn ngập tâm hồn ta. 

“Đặc điểm nổi bật trong thừa tác vụ của Đức GH Phanxicô vốn là một tình yêu chân chính đối với mọi người có thiện chí và ngài luôn duy trì một tập chú sắc bén đối với nhiều thách đố da dạng mà các gia đình hiện đang đối phó khắp hoàn cầu. Tôi vốn yêu và thán phục ngài từ những ngày chúng tôi gặp nhau lần đầu tại THĐ về Mỹ Châu hồi năm 1997. Tôi biết rằng các đặc sủng, sự hiện diện và tiếng nói của Đức Thánh Cha sẽ lên năng lực cho cuộc tụ tập của chúng ta. Bất kể các dị biệt về tuyên tín, hàng tỷ người trên khắp thế giới vốn đã bị lôi cuốn về phía vị giáo hoàng này. Cuộc tụ tập của ta tại Philadelphia được mở ra chào đón mọi người có tâm hồn quảng đại. Nó có sức mạnh biến đổi, một cách tích sực sâu xa, không chỉ tinh thần sống Kitô Giáo trong vùng ta, mà của toàn bộ cộng đồng ta. Nó sẽ là giây phút không giống bất cứ giây phút nào khác. 

“Như tôi đã nói nhiều lần trước đây, sự hiện diện của Đức GH Phanxicô sẽ đem tất cả chúng ta, người Công Giáo cũng như người không Công Giáo, lại với nhau một cách thống nhất và chữa lành hết sức lớn lao. Giờ đây, chúng ta hết lòng chờ mong Đức GH tới Philadelphia vào tháng Chín năm tới. Chúng ta sẽ sẵn sàng và chào đón ngài một cách hân hoan với đôi tay giang rộng và những trái tim đầy cầu nguyện! Tất cả chúng ta hãy cất cao lời cảm tạ Thiên Chúa toàn năng vì hồng phúc Đức GH Phanxicô và vì quyết định tới Philadelphia của ngài”.

Việc công bố trên quả có ý nghĩa, vì Toà Thánh thường có thói quen chỉ công bố lịch trình tông du một tháng trước mà thôi. Người ta tin chắc, nhân dịp này ngài sẽ tới đọc diễn văn tại trụ sở LHQ tại New York và tại quốc hội liên bang Hiệp Chúng Quốc Mỹ Châu tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Rất có thể ngài cũng sẽ thăm vùng biên giới Mỹ-Mễ Tây Cơ, nơi thường xuyên xẩy ra thảm trạng nhập cư bất hợp pháp.