Hiển thị các bài đăng có nhãn Cac Thanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cac Thanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 10, 2014

Bí ẩn xác thánh không hư nát - Quyền năng của Chúa thật vô biên

QUYỀN NĂNG CỦA THIÊN CHÚA

Có những thi thể không bị rữa nát qua thời gian dù không trải qua bất cứ sự can thiệp kỹ thuật nào. Hiện tượng có vẻ đi ngược với quy luật tự nhiên này được gọi là nhục thân bất hoại (incorruptible body).

 
Các tài liệu tôn giáo ghi nhận nhiều trường hợp các vị thánh “nhục thân bất hoại” : Thánh Jean Marie Baptiste Vieanney [Gioan Maria Vianê] (1786-1859) được khai quật năm 1904, xác cũng còn nguyên vẹn. Thánh Francis Xavier [Phanxicô Xaviê] (1506-1552) được chôn cất tại một đảo ở Trung Quốc trong quan tài bằng gỗ. Khoảng 2 tháng rưỡi sau, người ta khai quật mộ ngài để di chuyển, thấy thánh thể vẫn như lúc sống. Hiện nay di hài 400 năm tuổi của ngài vẫn còn nguyên và được lưu giữ tại thành Goa (Ấn Độ).

 

Di hài Thánh Francis Xavier [Phanxicô Xaviê]
Thánh Bernadette (Lourder, Pháp) là một ví dụ điển hình. Bà qua đời ở tuổi 35. Và 30 năm sau đó (1909), vì một nghi lễ tôn giáo, nhà thờ đã khai quật mộ. Đại diện nhà thờ, bác sĩ phẫu thuật và những người chứng kiến đã vô cùng kinh ngạc khi thấy thi thể của bà vẫn nguyên vẹn, dường như đang trong một giấc ngủ dài.










Thánh Bernadette trong quan tài pha lê

Bác sĩ phẫu thuật Tourdan đã ghi lại những gì ông quan sát được: “Cỗ quan tài của bà được mở ra dưới sự chứng kiến của mọi người trong đó có tôi. Di hài của Thánh Bernadette trong trang phục yêu thích của bà không hề có mùi xú uế. Khuôn mặt, bàn tay và cẳng tay lộ ra bên ngoài. Đầu của bà nghiêng sang một bên, miệng hé mở có thể nhìn thấy hàm răng trắng. Hai tay đặt trên ngực, vẫn giữ được lớp da hoàn hảo”. Gia đình của Thánh Bernadette đã làm lễ tắm rửa, thay quần áo và quan tài cho bà. Di hài của bà được đặt vào một vị trí mới sâu trong nhà mồ.

Vào năm 1913, Đức Giáo Hoàng Pius X phong Chân Phước cho Bernadette. Điều này đồng nghĩa với việc mộ của bà được mở ra một lần nữa. Việc này bị gián đoạn đến năm 1919 vì cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Điều kinh ngạc là ở lần khai quật này, di hài của bà vẫn nguyên vẹn.

Năm 1925, Thánh nữ Bernadette được Đức Giáo hoàng Pius XI phong Thánh. Lần thứ ba, mộ bà được mở ra. Di hài được đưa vào một quan tài bằng pha lê cho mọi người chiêm ngưỡng và quàn tại nhà nguyện ở Nhà thờ Lourder cho đến tận ngày nay vẫn còn, nếu có dịp xin mời các bạn đến thăm để được tận mắt chứng kiến.

Hùng hồn không kém là thi hài của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (Đấng triệu tập Thánh Công Đồng Chung Vatican II năm 1962). Ngài qua đời ngày 03/06/1963 khi Công Đồng vẫn đang diễn ra, và sau đó Đức Hồng Y Montini lên ngôi với hiệu triều Đức Thánh Cha Phaolô VI tiếp tục Thánh Công Đồng.


Thi hài của ĐTC John XXIII được đặt ngay bên dưới chân bàn thờ chính của Đền thờ thánh Phêrô để dân chúng chiêm ngắm


38 Năm sau ngày ngài băng hà, Tòa Thánh tiến hành các thủ tục tôn phong Chân Phước cho ngài, khi mở quan tài để kiểm tra thì phát hiện xác chết của ngài không hề mảy may hư nát và thối rữa. Thời gian sau, ngài được tôn phong Chân Phước (Beautification).

Hiện nay, thi hài của ĐTC Gioan XXIII đã được đưa lên đặt trong 1 quan tài bằng pha lê bên dưới bàn thờ chính của Đền thờ Thánh Phêrô để dân chúng có thể kính viếng và chiêm ngắm. Nét mặt ngài vẫn giữ nguyên sức sống và cơ thể không hề bị tẩm ướp bằng bất cứ loại hóa chất nào. Hầm mộ cũ trước đây nơi đặt quan tài của ngài bây giờ đã được thế chỗ bằng quan tài của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.

Thi hài Đức Thánh Cha John XXIII
Khoa học đang tìm lời giải
Các tài liệu tôn giáo nhìn chung đều cho rằng hiện tượng các vị thánh đạt tới nhục thân bất hoại là do sức mạnh siêu nhiên của Thiên Chúa, hoặc tu luyện đến độ gột rửa sạch mình đến mức cơ thể không thể bị phân hủy.

Các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục nghiên cứu hiện tượng này, nhưng theo một hướng khác tuy nhiên vẫn chưa có lời giải. Một giả thiết được đưa ra là trong những điều kiện môi trường, vật chất khá đặc biệt (như nhiệt độ, độ ẩm, yếm khí), vi khuẩn bị tiêu diệt làm quá trình phân rã theo tự nhiên không thể thực hiện. Nhưng xem ra giả thiết này không phù hợp, vì khi họ đưa xác các Thánh ra điều kiện môi trường bình thường, nó cũng không bị hư nát.


Di hài Thánh Vincent de Paul [Vinhsơn Phaolô]

Cho đến nay, chưa có cơ sở nào để giải thích hiện tượng nhục thân bất hoại. Hiện tượng này đang bị bao phủ bởi một bức màn kỳ ảo, và tất cả vẫn đang là giả thiết. Khoa học đang đau đầu khi tiếp cận với các thế lực của siêu nhiên.


Di hài Thánh Catherine Laboure (1806-1876)
Nữ thánh Klara của thành phố Assisi
Bà Thánh thành Assisi, sinh năm 1194. Khấn trọn đời lúc 18 tuổi. Lập dòng Klarissinen khó nghèo,và khiêm nhường. Sau này Mẹ và em gái của bà cung vào tu tại đây. Ngay khi còn sinh tiền nhà dòng của bà đã được phát triển khắp mọi nơi trong và ngoài nước ý. Bà mất ngày 11.8.1253. Thân xác vẫn còn tồn tại yên nghỉ tại nhà thờ của thành Assisi.

Nữ Á Thánh Anna Maria Taigi
Sinh Ngày 29.5.1769 tai Siena (Italy). Mất ngày 9.6.1837 tại Rôma.

Anna Maria Taigi đã được nhận ơn tiên tri của chúa 25 năm liền. Bà mẹ của 7 người con đã thị kiến thấy một vòng hào quang quanh mặt trời, trong tâm điểm của mặt trời bà thấy được mọi chuyện quá khứ, vị lai của nhân
Trong cuộc sống của bà, bà sống cuộc đời ăn năng đền tội và chay tịnh
Anna Maria Taigi mất khi 68 tuổi tại Rôma và được Đức Giáo Hoàng Benedikt XV phong á thánh vào ngày 30.5.1920.

Thánh Johannes Bosco (Don Bosco)
Tên thật là Giovanni Bosco, sinh ngày 16.08.1815 tại Becchi ở Piemont (Norditalien), thụ phong Linh mục năm 1841.
Lúc sinh tiền Ngài đã thành lập nhà dòng Salêsiêng (Salesianer) 1859, chuyên chăm sóc các thanh thiếu niên bụi đời, huấn nghệ và học hỏi Lời Chúa.Ngài có ơn tiên tri, và được coi như thánh sống.
Năm 1866 xây nhà thờ Salesianer và mộ ngài cũng nằm tại đây (31.01.1888). Hiện nay xác Ngài được bỏ vào lòng kính để mọi người có thể thăm viếng cầu nguyện.

Có rất nhiều trường hợp các Thánh khác xác không thối rữa và hư nát, ngược lại còn bốc mùi của hương hoa hồng như thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Thánh Martinô de Porrés...nhưng không liệt kê ra ở đây vì chưa kiếm thấy tài liệu hình ảnh, Peter sẽ post ngay khi kiếm được ảnh chứng thực như các ảnh trên.

 

Thứ Hai, 29 tháng 9, 2014

Tất cả các thánh và các thiên thần đang cảm nhận Cơn Hấp Hối của Ta, vì Thời Cuối đã đến gần

Thứ Bảy, ngày 16 tháng 3 năm 2013, lúc 12:40 chiều.

Hỡi con gái yêu dấu của Ta, giờ đây những ai không chịu đón nhận Chén Đau Thương của Ta đang cảm nhận một cách hết sức mạnh mẽ cơn giận điên cuồng, sự tức giận và nỗi sợ hãi.

Hỡi con gái của Ta, cơn giận điên cuồng của Satan nhằm chống lại những Thông Điệp này, sẽ nhanh chóng gia tăng và hắn sẽ thực hiện mọi nỗ lực để tố cáo con.

Con phải chấp nhận đau khổ, vì con đã ưng thuận vâng theo Thánh Ý của Ta. Vì vậy, hỡi con gái của Ta, con phải giữ thinh lặng khi những tiếng gào thét của con thú và của những linh hồn đáng thương mà hắn lợi dụng để tấn công các con, vẫn tiếp tục. Ta muốn nói với tất cả những môn đệ yêu dấu trung thành của Ta rằng – hãy kiên vững. Hãy cúi đầu vâng phục trong khiêm hạ và dâng sự hy sinh của các con cho linh hồn những ai không đón nhận Tặng Ân Sự Thật.

Những kẻ chịu trách nhiệm trong việc xâm nhập vào Giáo Hội của Ta trên trái đất đã chọn thời điểm Mùa Chay để cố ý xúc phạm Ta, Chúa Giêsu của họ, Đấng đã phải chịu chết vô cùng đau đớn để cứu linh hồn họ.

Những kẻ đi lại trong những nơi quyền lực ở Rôma đã bị tàn phá khủng khiếp đến nỗi dấu chỉ mạnh mẽ nhất mà người ta có thể thấy được là sự hỗn loạn, vốn sẽ diễn ra khi chúng tuân theo sự điều khiển của tên lừa đảo. Ở Rôma, người ta sẽ chứng kiến sự hỗn loạn, vô trật tự, chia rẽ và mâu thuẫn khắp mọi nơi. Sự hỗn loạn đến từ Satan vì nó không đến từ Thiên Chúa.

Cơn giận dữ đến từ tên ác quỷ và người ta có thể cảm nhận được cơn giận điên cuồng của hắn khi Ánh Sáng của Ta chiếu tỏa trên con cái Thiên Chúa. Hãy cho mọi người biết rằng khi chúng tấn công những người khác với bản chất hết sức độc ác, nhân Danh Ta, thì chính sự Hiện Diện của Ta đã khiến cho chúng phản ứng như vậy.

Chỉ có Ta, Chúa Giêsu Kitô, và các tín hữu của Ta mới là mục tiêu của sự ngược đãi khủng khiếp ấy và vì thế, khi các con không thể chịu nổi sự ngược đãi, thì hãy đọc lời cầu nguyện ngắn này:

“ Lạy Chúa Giêsu, con xin chia sẻ nỗi đau với Chúa, con cầu xin Chúa ban Ơn Chúa Thánh Thần cho những kẻ thù nghịch con và những kẻ gây đau thương cho Chúa. Amen.”

Mối bất hòa sẽ tiếp diễn và tất cả các thánh và các thiên thần trên Thiên Đàng đang cảm nhận Cơn Hấp Hối của Ta, vì Thời Cuối đã đến gần.

Hãy bám chặt vào Ta, Chúa Giêsu của các con, và hãy đặt trọn niềm tín thác vào Ta khi Ta hình thành Đạo Binh Còn Sót Lại nhằm chuẩn bị cho trận chiến đáng sợ để giành lấy các linh hồn trong thời gian sắp tới.

Chúa Giêsu của các con

Chuyển dịch từ nguồn: thewarningsecondcoming.com

Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014

Thánh Grêgôriô Cả

Trong cuộc đời Thánh Grêgôriô Cả, sự nghiệp sau nổi tiếng hơn sự nghiệp trước. Ngài là trưởng thánh bộ Rôma trước khi 30 tuổi. Năm năm sau đó, ngài từ chức, sáng lập sáu đan viện trên các phần đất của ngài ở Sicilia và chính ngài là một tu sĩ dòng Biển Ðức (Benedictine) ở Rôma.
 Sau khi thụ phong linh mục, ngài là một trong bảy phó tế của đức giáo hoàng, và ngài còn giữ chức vụ sứ thần tòa thánh ở Constantinople, Ðông Phương. Sau đó ngài được gọi về làm đan viện trưởng, và vào lúc 50 tuổi, ngài được chọn làm giáo hoàng bởi hàng giáo sĩ và giáo dân Rôma.
Ngài thẳng tính và kiên quyết. Ngài cách chức các linh mục bất xứng, cấm không được lấy tiền khi phục vụ, và ngài lấy tất cả quỹ riêng của đức giáo hoàng để chuộc các tù nhân bị phe Lombard bắt, săn sóc những người Do Thái bị bách hại và các nạn nhân của nạn dịch tễ cũng như nạn đói kém. Ngài rất lưu tâm đến việc trở lại của nước Anh nên đã sai 40 đan sĩ của ngài đến hoạt động ở đây. Ngài nổi tiếng vì những cải cách phụng vụ, và củng cố sự tôn trọng học thuyết. Người ta đang tranh luận xem có phải chính ngài là người chịu trách nhiệm phần lớn nhạc bình ca (Gregorian) hay không.
Thánh Grêgôriô sống trong giai đoạn luôn luôn có bất hòa vì sự xâm lăng của phe Lombard và vì những tương giao khó khăn với Giáo Hội Ðông Phương. Khi Rôma bị tấn công, chính ngài là người đến chất vấn vua Lombard.
Một sử gia Anh Giáo đã viết: "Không thể nào tưởng tượng được những gì sẽ xảy ra trong thời Trung Cổ--thật lộn xộn, vô trật tự--nếu không có triều đại giáo hoàng; và nói về giáo hoàng của thời trung cổ, vị cha chung đích thực là Ðức Grêgôriô Cả."
Cuốn sách của ngài, Cách Chăm Sóc Mục Vụ, nói về nhiệm vụ và đặc tính của môät giám mục, đã được đọc trong bao thế kỷ sau khi ngài chết. Ngài diễn tả vị giám mục chính yếu như một y sĩ mà nhiệm vụ chính là rao giảng và duy trì kỷ luật. Trong các bài giảng thực tế của ngài, Thánh Grêgôriô có tài áp dụng phúc âm hàng ngày vào nhu cầu đời sống của giáo dân. Ðược gọi là "Cả", Thánh Grêgôriô được nâng lên một vị trí ngang hàng với Thánh Augustine, Thánh Ambrôsiô và Thánh Giêrôme như một trong bốn vị tiến sĩ nòng cốt của Giáo Hội Tây Phương.

Lời Bàn

Thánh Grêgôriô thích là một đan sĩ, nhưng ngài sẵn sàng phục vụ Giáo Hội trong các phương cách khác khi được yêu cầu. Ngài đã hy sinh những sở thích của ngài trong nhiều phương cách, nhất là khi làm Giám Mục Rôma (Giáo Hoàng). Một khi được kêu gọi để phục vụ công ích, Thánh Grêgôriô đã dùng hết khả năng để chu toàn nhiệm vụ.

Lời Trích

"Nói cho cùng có lẽ không khó để người ta từ bỏ của cải, nhưng chắc chắn là thật khó để từ bỏ chính mình. Khước từ những gì mình có là chuyện nhỏ; nhưng khước từ cái tôi của mình, đó mới thật đáng kể" (Thánh Grêgôriô, Bài Giảng về Phúc Âm).

Thứ Năm, 28 tháng 8, 2014

Thánh Gioan Tẩy Giả Bị Chém Ðầu

Hạnh Các Thánh

29/08/2014
29 Tháng Tám
Lời thề khi say sưa của một vị vua coi thường danh dự, một điệu vũ mê hoặc và một con tim hận thù của hoàng hậu đã đưa đến cái chết của Thánh Gioan Tẩy Giả. Vị ngôn sứ vĩ đại nhất đã chịu chung số phận như nhiều ngôn sứ khác trong Cựu Ước: bị tẩy chay và tử đạo. "Tiếng kêu trong sa mạc" không ngần ngại lên án kẻ có tội, và dám nói lên sự thật. Tại sao ngài làm như vậy? Ngài được gì khi hy sinh mạng sống mình?
Nhà cải cách tôn giáo này đã được Thiên Chúa sai đến để chuẩn bị dân chúng đón nhận Ðấng Thiên Sai. Ơn gọi của ngài là một hy sinh cách vị tha. Chỉ có một quyền năng mà ngài công bố là Thần Khí Thiên Chúa. "Tôi làm phép rửa cho các người với nước để giục lòng sám hối, nhưng Ðấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi. Tôi không đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho các ngươi trong Thánh Thần và lửa" (Mátthêu 3:11). Phúc Âm kể cho chúng ta biết có nhiều người theo Gioan để tìm kiếm hy vọng, có lẽ vì nóng lòng chờ đợi Ðấng Thiên Sai. Gioan không bao giờ tự nhận cho mình cái vinh dự giả dối khi dân chúng tuốn đến với ngài. Ngài biết ơn gọi của mình là sự chuẩn bị. Khi đã đến lúc, ngài dẫn các môn đệ đến với Chúa Giêsu: "Hôm sau, ông Gioan lại có mặt ở đó với hai môn đệ của ông và khi thấy Ðức Giêsu đi ngang qua, ông nói: 'Ðây là Chiên Thiên Chúa.' Hai môn đệ nghe nói, liền đi theo Ðức Giêsu" (Gioan 1:35-37)
Chính Gioan Tẩy Giả là người đã chỉ đường đến Ðức Kitô. Ðời sống và cái chết của Gioan là để hy sinh cho Thiên Chúa và loài người. Lối sống đơn giản của ngài thực sự là lối sống tách biệt khỏi vật chất thế gian. Tâm hồn của ngài đặt trọng tâm ở Thiên Chúa và lời mời gọi ngài nghe được từ Thần Khí Thiên Chúa đã đánh động tâm hồn ngài. Tin tưởng ở ơn Chúa, ngài đã can đảm nói những lời kết tội hoặc kêu gọi sám hối, vì sự cứu độ.

Lời Bàn

Mỗi người đều có một ơn gọi mà họ phải lắng nghe. Không ai có thể lập lại sứ vụ của Thánh Gioan, và tất cả chúng ta đều được kêu gọi đến một sứ vụ riêng biệt. Ðó là vai trò làm chứng nhân cho Ðức Giêsu của mỗi một Kitô Hữu. Bất cứ hoàn cảnh nào trong đời sống, chúng ta được mời gọi để trở nên môn đệ của Ðức Kitô. Qua hành động và lời nói, người khác sẽ nhận thấy chúng ta đang sống trong niềm vui khi tin nhận Ðức Giêsu là Chúa chúng ta. Chúng ta không bị gò bó bởi sức mạnh hạn hẹp của chính chúng ta, nhưng chúng ta có thể tìm thấy sức mạnh từ ơn cứu độ bao la của Ðức Kitô.

Lời Trích

"Họ đến gặp Gioan và nói: 'Thưa thầy, người đã ở với thầy bên kia sông Giođan, và được thầy chứng thực, bây giờ ông ấy đang làm phép rửa, và mọi người đều đến với ông ấy." Gioan trả lời: 'Không ai có thể nhận được gì mà không do trời ban. Chính anh em làm chứng là tôi đã nói: tôi không phải là Ðấng Thiên Sai, mà chỉ là kẻ được sai đến trước Người. Ai cưới cô dâu, người ấy là chàng rể; người phù rể đứng ở đó thì vui mừng hớn hở vì được nghe tiếng nói của chàng rể. Như vậy niềm vui của tôi đã được trọn vẹn. Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi" (Gioan 3:26-30).
Trích từ NguoiTinHuu.com

Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2014

Ngày 16/8: Thánh Stêphanô, Hungary


Người Hung, gốc từ Á Châu, đã tiến vào lập cư trên bờ sông Danuble. Họ sống bằng chiến tranh cướp bóc, và dữ tợn như thú hoang. Vào đầu thiên niên kỷ này, Geysa, con cháu dòng Attila cai trị họ.
Hầu tước Geysa cưới Sarolta, một thiếu nữ Công giáo và dưới ảnh hưởng của nàng, ông đã trở lại đạo Công giáo. Nữ hầu tước rất nhiệt thành với đạo. Tương truyền rằng thánh Stêphanô đã báo cho bà biết rằng người con bà trông đợi sẽ được Thiên Chúa chúc phúc và sẽ tiêu diệt ngẫu tượng trong xứ. Vì lòng sùng kính thánh tử đạo, bà thêm tên Stêphanô vào sau tên Vaik của con trẻ. Mười năm sau, Geysa xin thánh Ađalbert rửa tội cho con trẻ và mời các nhà truyền giáo đến. Stêphanô được trao cho các nhà thông thái và thánh thiện giáo dục. Mười năm tuổi ngài đã chia sẻ với cha trách nhiệm trị nước và 22 tuổi ngài kế nghiệp cha sau khi ông qua đời.
Lên cầm quyền chính, thánh Stêphanô tìm thỏa hiệp với các lân bang và hiến thân cải hóa toàn dân. Nhưng các lãnh Chúa theo ngẫu tượng bất mãn vì việc phóng thích nô lệ đã coi dân Hungari là dân phản loạn. Stêphanô chuẩn bị chiến tranh bằng lời cầu nguyện và sám hối cùng thi hành việc bố thí. Trên kỳ hiệu dẫn đầu binh đội, ngài trưng hình thánh giá Martinô và Grêriô. Thắng trận ngài cho xây tại chỗ là Vesprem một tu viện kính thánh Martinô.
Để chinh phục các thần dân cứng cỏi ngài chạy đến các tu sĩ Cluny. Từ các tu viện, chính các tu sĩ mở mang văn hóa cho xứ sở do các trường học cạnh tu viện. Thánh Stêphanô còn đề ra một chương trình ngoạn mục, ngài sai sứ giả sang triều yết Đức Giáo Hoàng Sylvester III, xin nhận Hungari vào số các quốc gia Kitô giáo và phong vương cho ngài. Đức Giáo Hoàng gởi cho ngài một triều thiên và một thánh giá vàng, ban cho ngài đặc ân dành cho các tông đồ. Thánh Stêphanô được công nhận là vua và tông đồ. Thánh Astrik đã phong vương cho vua năm 1001. Một thời gian sau ngài đã hoàn thành được 10 giáo phận với một tòa tổng giám mục tại Esztergem. Rất có lòng tôn sùng Đức Mẹ, ngài xây một thánh đường nguy nga kính Mẹ tại Székes-Féhéwaz.
Lòng bác ái của thánh Stêphanô còn vượt ra ngoài biên giới Hungari. ngài thiết lập nhiều nhà thương và tu viện ở Roma, Constantinople và Giêrusalem, cũng như các nhà cho khách hành hương Hungary. Trong lãnh thổ mình, ngài ra các sắc luật chống lại tội ác và lộng ngôn. Rất nghiêm khắc với những người lỗi luật Chúa, ngài lại rất nhân hậu đối với những bất công ngài lãnh chịu. Ngài ân cần săn sóc các người nghèo khổ, để hiểu rõ thực trạng, ngài hay tàng hình đi tìm kiếm họ. Một lần bọn ăn xin xô tới hành hạ ngài và cướp của. Tiếng đồn vang xa, các lãnh chúa cười nhạo ngài, nhưng ngài càng hiến thân cho người cùng khốn nhiều hơn nữa. Người ta nói rằng: ngài được ơn chữa bệnh và nói tiên tri. Đêm kia có tiếng bên trong giục ngài sai người tới tin cho dân vùng biên giới rút lui khỏi làng mạc của họ để khỏi bị tấn công. Sự việc xảy tới, vì được báo trước kịp thời, dân chúng được cứu thoát.
Conrad, tấn vương Germany muốn xâm chiếm Hungary với một đội quân hùng hậu. Stêphanô truyền cho binh lính ăn chay cầu nguyện. Binh đoàn của Conrad bị lạc giữa rừng cây, đầm lầy sông lạch, không thể tiếp tế được mà phải lui binh. Stêphanô toàn thắng mà không phải chiến đấu. Thánh vương ao ước thanh bình, đã phải chiến đấu nhiều để bảo vệ thần dân. Ngài chiến đấu ở Balan, cùng Balkan. Dầu chiến thắng ngài không ngừng cầu nguyện cho dân khỏi thảm họa chiến tranh. Thắng được hoàng tử Transyvania, ngài thả tự do cho ông và chỉ đòi điều kiện là ông cho phép các nhà truyền giáo đến xứ ông. Sự thánh thiện của Stêphanô đã khuất phục được tất cả thủ địch lẫn những người thán phục ngài.
Các thử thách lớn lao hoàn tất việc thánh hóa nhà vua. Ngài đã lập gia đình với nữ công tước Gisèle, con gái vua Henry II, bá tước miền Bavière. Hoàng hậu Gisèle là người đạo đức đã giúp vua Stêphanô rất nhiều. Nhưng chẳng may con cái họ đều qua đời lúc tuổi còn xanh. Còn một mình hoàng tử Emeric sẽ kế nghiệp cha nhưng lại tử nạn trong một tai nạn lúc đi săn. Thánh Stêphanô vượt cùng mọi đau đớn bằng cách nhiệt tâm với bổn phận. Ngài đã chịu bệnh trong một thời gian dài, lại còn bị ghen tương ám hại. Theo một tường thuật, các lãnh Chúa giận dữ và sự công thẳng của ngài đã tìm cách sát hại ngài. Kẻ sát nhân lận dao trong áo lẻn vào phòng ngài. Nhưng khi vừa thấy ngài, hắn bỗng hối hận và tự thú ý định tội ác của mình. Vua chỉ nói: hãy giải hòa với Chúa và đừng sợ bị tôi trả thù.
Ngày lễ Mông Triệu 15 tháng 8, thánh Stêphanô qua đời và được mai táng trong đền thờ Đức Bà ở Székes-Féhéwaz.
Thánh Stêphanô có lòng nhân hậu với nhiều người, cách đặc biệt là với kẻ hại mình. Xin cho mỗi chúng ta cũng biết noi gương Ngài sống quảng đại với tha nhân. Để qua cung cách hành xử của mỗi chúng ta, Chúa sẽ dùng để hoán cải nhiều tâm hồn.
(tổng hợp)