Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 22 tháng 10, 2014

Cánh Đồng Truyền giáo còn đó : Nhiều nỗi lo

Cánh Đồng Truyền giáo còn đó : Nhiều nỗi lo

Bàn chất, đặc tính, nhiệm vụ của Giáo Hội là truyền giáo.
Lời mời gọi của Chúa Giêsu : "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" (Mc 16, 16) vẫn còn văng vẳng bên tai của Giáo Hội hơn 2000 năm qua.

Bước theo con đường Chúa Giêsu đã đi, từ các thánh tông đồ, hạt giống Lời Chúa ngày mỗi ngày được lan rộng khắp nơi. 

Việt Nam, với gần 400 năm hạt giống cũng đã gieo rắc trên mọi nẻo đường. Từ những công khó của các cha Tây ngày xa xưa ấy mà hạt giống Tin Mừng cứ mọc và cứ trổ sinh hoa trái. Thế nhưng, ta cũng nên chăng nhìn lại một chút về nẻo đường truyền giáo, lối sống Tin Mừng để rút tỉa những kinh nghiệm, những bài học để ngày mỗi ngày làm cho Lời Chúa được phát triển thêm như lòng Chúa mong muốn.

Đứng trước những thực trạng của Giáo Hội, nhiều vị chủ chăn đã thao thức mà không còn là thao thức nữa mà là những lời đó đã được phát ra cùng với những hành động cụ thể.

Nhiều Thánh Lễ ở nhiều nơi, Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm giám mục giáo phận Mỹ Tho khi còn ở giáo phận Sài Gòn đã không ngần ngại chia sẻ rằng : "Tôi dừng lại để nhìn chặng đường hơn 30 năm qua, Tổng Giáo phận phát triển rất mạnh, nhiều nhà thờ được xây mới, thậm chí nhiều nhà thờ trong một giáo hạt được xây mới. Thế nhưng, tất cả các nhà thờ đó được xây trên nền nhà thờ cũ chứ không phát triển thêm nhà thờ mới. Trong khi đó dân số tăng gấp nhiều lần nhưng số lượng nhà thờ không tăng. Tôi gợi lên cho anh chị em suy nghĩ nhỏ bé của mình để xin anh chị em thêm lời cầu nguyện cho gia đình Tổng giáo phận Sài Gòn của chúng ta ..."

Thao thức của Đức Cha Phêrô cũng chính là thao thức của Đức Hồng Y G.B, Đức Tổng Phaolô hiện tại và của nhiều vị chủ chăn và của cả đoàn chiên. Bởi lẽ thao thức đó nó ăn sâu vào tâm tư truyền giáo của mỗi Kitô hữu.

Mỗi lần có dịp đi ngang các khu chế xuất, các khu công nghiệp ven giáo phận Sài Gòn như Nhơn Trạch, Sóng Thần, khu đô thị mới phía đại lộ Đông - Tây... ta cảm thấy lòng buồn man mác bởi lẽ những nơi đó không có giáo đường, không có nơi để quy tụ anh chị em giáo dân di dân. Trong hàng ngàn hàng vạn người tìm cách mưu sinh đó có biết bao nhiêu người Công Giáo. Cũng thế, trong nhiều cao ốc, chung cư vùng ven cũng có biết bao nhiêu là anh chị em Công Giáo nhưng rồi ngay cả ngôi thánh đường để họ cần đến thờ phượng Chúa cũng khó khăn.

Nên chăng ta để ý đến những vùng ven, những khu chế xuất, khu công nghiệp ... chỉ cần ngôi nhà thờ đơn sơ, tiền chế để những ngày cuối tuần anh chị em di dân có nơi đến để sinh hoạt phụng vụ, để học hỏi Lời Chúa, để chia sẻ Lời Chúa ... Thiếu hẳn những nơi phụng vụ dành cho anh chị em di dân nghèo ở những vùng ven đô thành phố.

Ta chú tâm nhiều đến truyền giáo. Đúng nhưng theo tôi cũng đừng quên sứ mạng tái truyền giáo nơi những giáo xứ lâu năm.

Vì kế sinh nhai, vì hoàn cảnh của gia đình và của cả xã hội, nhiều gia đình đã phai dần với những sinh hoạt của xứ nhà ... và tìm đến xứ nào đó và có thể bỏ luôn vì mặc cảm, vì sự thiếu quan tâm của cha xứ, thiếu sự cộng tác giữa hai bên. Nếu ta can đảm ngồi lại thống kê ở những giáo xứ hiện tại, ta sẽ thấy con số không nhỏ giáo dân không còn tha thiết với xứ nhà. Có khi là sự hiểu lầm, có khi là sự giận hờn không đáng có giữa cha xứ và con chiên, có khi là vì lý do này lý do nọ để rồi con chiên tản mác khắp nơi.

Vấn đề lớn nữa mà tôi cảm nhận theo cái cảm của cá nhân là về Giáo Lý, về Lời Chúa, về những giáo huấn của Giáo Hội về xã hội, về những thông tin trong Giáo Hội, giáo phận, giáo xứ ... dường như bị bỏ ngõ ...

Có một số cha lên tòa giảng dành quá nhiều thời gian cho bài giảng ... cũng chỉ vì ngài không soạn sẵn và không tìm được ... bãi đáp.

Giáo dân phần bận bịu với công việc, phần mệt mỏi với cuộc sống ... đến với Chúa lẽ ra nhận được những bài chia sẻ có thể là ngắn gọn nhưng đủ ý đủ nghĩa của bài Tin Mừng thì lại nhận được những bài giảng ... không hề soạn hay trèo lên mạng lấy của người khác. Vì bài giảng dài, đơn điệu để rồi họ đến với Thánh lễ cho qua lần qua lượt chứ không cảm nhận được niềm vui của Tin Mừng.

Nếu như bài giảng có ý nghĩa, bố cục và sinh động thì giáo dân dễ nhớ và dễ đem bài Tin Mừng đó sống sau Thánh Lễ. Linh mục phải chú tâm bài giảng để giáo dân biến cuộc sống của mình thành Thánh Lễ nối dài ...

Tôi không có ý chê trách hay phản bác ai nhưng nhìn thấy thực trạng của Giáo Hội không khỏi chạnh lòng.

Nên chăng ngồi lại với nhau để nâng dậy đời sống của Giáo Hội. Cần chấn chỉnh ngay từ những ngày còn ở ghế nhà trường, ở môi trường đào tạo. Có như thế, các vị chủ chăn trẻ mới có đủ khả năng, tài lực, trí lực và nhất là đạo đức để loan báo Tin Mừng.

Truyền giáo còn đó nhiều nỗi lo : Lo về nơi thờ phượng cần được nhân rộng, lo về nhân sự được đào tạo sâu, lo về con chiên bổn đạo cần phải hiệp thông sâu xa với chủ chăn, lo về kiến thức Giáo Lý cũng như Tin Mừng cần phải được truyền bá sâu hơn rộng hơn ...

Xin Chúa Thánh Thần thổi luồng gió mới trên Giáo Hội Việt Nam để cánh đồng truyền giáo của Giáo Hội được lan rộng và thu được nhiều lúa về cho Chủ Chăn như lòng Chúa mong muốn.

Khánh nhật truyền giáo 2014 
Micae Bùi Thành Châu

Thứ Ba, 30 tháng 9, 2014

Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đồng trinh tiến sĩ hội thánh - Bổn mạng các nước truyền giáo

Ngày 1/10

  

Thánh Têrêxa trong Hài Đồng Giêsu sinh ngày 2 tháng giêng năm 1873 tại Alencon, nước Pháp. Ngài là con thứ chín của hai ông bà Louis Martin và Xélie Guérin. 

Trước kia hai ông bà đã có ý nguyện dâng mình phục sự Chúa trong tu viện mà không thành. Bù lại, năm người con còn sống đều đã hiến thân theo đời sống tu trì. Khi sinh ra Têrexa, mẹ Ngài đã nói : - Tôi chỉ ao ước có nhiều con để dẫn chúng về trời. 

Nhưng khi mới lên bốn, Têrêxa đã mất mẹ, bà chết vì căn bệnh ung thư. Nhưng được sự dịu hiền của người cha đã bao bọc thánh nữ suốt quãng thời thơ ấu. Một buổi chiều, níu tay cha, Têrêxa chỉ nhìn lên trời mà nói : - Cha ơi ! xem kìa, tên con đã được viết trên trời. 

Dù còn nhỏ từ tuổi lên ba, Ngài nhớ rằng mình đã không từ chối Chúa điều gì. Ngài đã cố sửa tính cứng đầu, ích kỷ và hay thay đổi. Lúc lên mười, Ngài ngã bệnh nặng. Nhưng Ngài đã thấy tựơng Đức Trinh Nữ mỉm cười với mình và cơn bệnh biến mất. 

Têrêxa luôn nghĩ tới những sự trên trời, Ngài nói rằng: Chúa Giêsu đã chết trên thánh giá để cứu rỗi các linh hồn, nhưng thật đáng buồn khi có rất nhiều người không đáp lại lời mời gọi của Chúa. Bởi thế, thánh nữ đã cầu nguyện và thống hối để đưa các linh hồn về trời. Có một kẻ cướp tên là Pranzini bị kết án tử hình. Thánh nữ đã tự ý cầu nguyện cho hắn được ơn hối cải. Ngài còn xin một dấu chỉ chứng tỏ hắn hối cải. Và rồi, tên cướp đã từng từ chối sự giúp đỡ của linh mục, lúc lên đoạn đầu đài, bỗng quay nhìn thánh giá và hôn ba lần. 

Từ nhỏ đã quyết nên thánh, Têrêxa muốn được sớm tận hiến cho Chúa. Mười lăm tuổi, Ngài đã ước ao được gia nhập dòng kín. Không được phép, Ngài hành hương đi Roma để xin phép Đức giáo hoàng, Đức Leo XIII đã chỉ trả lời : - Nếu Chúa muốn. 

Đức giám mục Bayyeux đã cho phép Ngài vào dòng ngay. Nơi đây đã có ba người chị của Ngài. Nhận được tên Têrêxa Của Chúa Giêsu Hài Đồng, Ngài thêm và của Thánh Nhan. Ngày khấn dòng, Ngài cầu nguyện : - Ôi Chúa Giêsu, con xin ơn bình an và tình yêu vô bờ bến. Xin cho con được tử đạo trong lòng hay nơi thân xác, hay tốt hơn, được tử đạo cả hai. 

Chính nhờ "đường con thơ tin tưởng và phó thác" mà thánh nữ đạt đến tuyệt đỉnh thánh thiện và hoàn tất ơn gọi sống tình yêu và đau khổ, Ngài đã : - Quyết không bỏ qua một hy sinh nhỏ bé nào. 

Ngài đã chịu bề trên hiểu lầm và đối xử một cách nghiêm khắc, chịu giá lạnh và hy sinh liên tục, Ngài bị trách mắng bất công, bị thử thách đủ loại, mà chỉ đáp lại bằng nụ cười. Người ta chỉ gặp thấy nơi Ngài thứ ánh sáng an bình và không thể đoán biết nổi những đau khổ mà dường như Ngài muốn dấu cả Chúa nữa : 

- Con cố gắng mỉm cười khi phải đau khổ... để Chúa nhân lành như bị lừa bởi dáng vẻ bề ngoài, cũng không biết rằng: con phải đau khổ nữa. 

Lạnh lẽo Ngài không chà tay, đau chân Ngài chú ý kẻo chân đi khập khiễng, Ngài âm thầm thực hiện những việc giúp đỡ phiền hà nhất. Một chị bạn làm bể chiếc bình, nhưng Ngài bị la rầy mà Ngài vẫn cúi đầu nhận lỗi. Một chị bạn đã găm kim vào da thịt Ngài khi giúp Ngài đội khăn mà Ngài vẫn cám ơn không hề kêu trách. Một nữ tu già kỳ chướng cần được sự giúp đỡ, Têrêxa tận tụy phục vụ bà và chỉ mỉm cười đáp lại những phiền trách của bà. 

Người ta hỏi Ngài :- Chị nói thế nào là ở như một trẻ thơ trước mặt Chúa ? 

Ngài trả lời : - Là khiêm tốn đón chờ mọi sự bởi Chúa nhân lành, như một trẻ thơ chờ đón tất cả bởi tay cha nó. Mọi sự khác chẳng quan hệ gì. 

Thật viễn vông khi muốn vài chục người chung quanh quí chuộng. Tôi chỉ mong được yêu thương ở trên trời bởi vì chỉ ở trên đó mới hoàn hảo mà thôi. 

Ngài không đòi được soi sáng nữa, khiêm tốn và phó thác, Ngài tin rằng: - Tôi không mơ ước được thấy Chúa và các thánh của Ngài như nhiều người khác ao ước được nhìn thấy và thấu hiểu mọi sự, mà chỉ muốn ở lại trong cuộc sống đức tin. 

Giáo thuyết rất đơn sơ, nhưng sâu sắc của Ngài được nuôi dưỡng không ngừng bằng những suy ngắm và được trình bày trong cuốn MỘT TÂM HỒN. Chị Ngài, mẹ ANÊ thời đó, đã truyền cho Ngài viết lại những ký ức này. Sợ rằng việc này "làm phân tâm", nhưng vì vâng lời Ngài đã thực hiện. Thế là chúng ta có được một sứ điệp khôn sánh về đức khiêm hạ, sức mạnh tình yêu và phó thác. Con người muốn bé nhỏ ấy lại có những ước muốn vô cùng. - Con thấy mình có ơn gọi làm chiến sĩ, làm linh mục, làm tông đồ, làm tiến sĩ và chịu tử đạo. 

Và Ngài lại chỉ thực hiện những hy sinh nhỏ, được biến nên trong sáng bởi tình yêu đại độ. - Một phương thế để nên trọn lành ư ? Con chỉ biết có tình yêu. 

Tháng 6 năm 1894, có triệu chứng đầu tiên thánh nữ bị bệnh lao. Dầy vậy Ngài vẫn tiếp tục các bổn phận và không tìm cách giảm bớt một công tác nào. Không hiểu biết, người ta trách Ngài biếng nhác. Hơn nữa, Ngài còn bị thử thách nặng nề trong tâm hồn. Ngập chìm trong tăm tối, Ngài như bị mất đức tin, nhưng vẫn dũng cảm trung thành với Chúa. Khi người ta mang đến một ly thuốc đỏ đẹp Ngài nói: 

- Ly thuốc nhỏ này, người ta tưởng là đầy rượu ngon, thực sự chưa bao giờ tôi đã phải uống một thứ thuốc nào đắng hơn. Đó là hình ảnh đời tôi. Dưới mắt người khác nó đầy màu sắc vui mắt, người ta tưởng tôi uống một thứ rượu ngon ngọt, nhưng thực sự nó là thuốc đắng. 

Sau những đau đớn dữ dằn, Ngài nói : Con không hối hận vì đã hiến mình cho tình yêu 

Khi sắp từ trần, Ngài hứa : - Trên trời con sẽ làm mưa hoa hồng xuống. 

Ngày 30 tháng 9 năm 1897 Ngài qua đời tại phòng bệnh dòng kín Lisieux. Ngày 17 tháng 5 năm 1925 Ngài được tôn vinh lên hàng các thánh.