Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

Đức Phanxicô: Kinh Koran là cuốn sách hòa bình, những vụ khủng bố không phải là Hồi Giáo

ĐGH FRANCIS: KINH KORAN LÀ MỘT CUỐN SÁCH HÒA BÌNH, NHỮNG VỤ KHỦNG BỐ KHÔNG PHẢI LÀ HỒI GIÁO. CHÚNG TA PHẢI ĐỐI THOẠI GIỮA NHỮNG NGƯỜI TÔN GIÁO THUỘC CÁC NGUỒN GỐC KHÁC NHAU - NHỮNG LỜI NGÔN SỨ ĐÃ ỨNG NGHIỆM !
Trong cuộc họp báo trên chuyến bay trở về từ Thổ Nhĩ Kỳ chiều ngày 30/11/2014, trả lời nhiều câu hỏi của các ký giả báo chí khi được đặt câu hỏi, ĐGH cho biết ông hiểu được rằng tại sao những người Hồi Giáo lại bị xúc phạm nhiều ở các nước phương Tây và tôn giáo họ bị đánh đồng với chủ nghĩa khủng bố: " Đúng vậy, đứng trước những vụ khủng bố, không những ở vùng Trung Đông, nhưng cả tại Phi châu nữa, người ta phản ứng và nói: "Hồi giáo không phải như vậy! ”. Bao nhiêu tín hữu Hồi giáo cảm thấy bị xúc phạm vì những hành vi khủng bố nhân danh Hồi giáo như thế! Koran là một cuốn sách hòa bình, là một sách ngôn sứ hòa bình. Những vụ khủng bố không phải là Hồi giáo. Tôi tin như thế, và người ta phải nói thành thực rằng không phải mọi tín hữu đạo Hồi là những kẻ khủng bố, cũng như không thể nói mọi Kitô hữu là những người cực đoan, vì trong Kitô giáo cũng có những người cực đoan. Trong mọi tôn giáo đều có những nhóm nhỏ như vậy!"
► ĐGH FRANCIS VIẾNG ĐỀN THỜ HỒI GIÁO VỚI ĐỊA VỊ LÀ MỘT NGƯỜI HÀNH HƯƠNG

Giải thích về ý nghĩa sự kiện ngài giữ thinh lặng cầu nguyện 2 phút đồng hồ khi viếng Đền Thờ Xanh của Hồi giáo, ĐGH giải thích " Tôi đến Thổ Nhĩ kỳ như một người hành hương, chứ không phải như một du khách. Tôi đến đó với lý do chính là mừng lễ thánh Anrê Tông đồ và chia sẻ với Đức Thượng Phụ Bartolomeo. NHƯNG KHI TÔI ĐẾN ĐỀN THỜ HỒI GIÁO, TÔI KHÔNG THỂ NÀO TỰ NHỦ: ”A, BÂY GIỜ TÔI LÀ DU KHÁCH! ”. Tôi đã viếng Đền thờ tuyệt vời, và khi vị Mufti giải thích cho tôi nhiều điều, một cách rất dịu dàng, cả kinh Koran, cũng nói về Mẹ Maria và Gioan Tẩy Giả, ông giải thích cho tôi mọi điều, chính lúc ấy tôi cảm thấy cần cầu nguyện. Tôi đã cầu nguyện cho Thổ nhĩ kỳ, cho hòa bình, cho vị Mufti, cho tất cả, và cho cả tôi nữa vì tôi đang cần. Cầu nguyện cho hòa bình, xin Chúa chấm dứt chiến tranh..."

► CUỘC ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN DƯỜNG NHƯ ĐẾN ĐƯỜNG CÙNG RỒI, CHÚNG TA PHẢI ĐỐI THOẠI GIỮA NHỮNG NGƯỜI TÔN GIÁO THUỘC CÁC NGUỒN GỐC KHÁC NHAU

Về vấn đề đối thoại liên tôn, ĐGH cho biết: " Có lẽ tôi đã có một cuộc nói chuyện rất đẹp theo nghĩa đó với Ông chủ tịch tôn giáo vụ Thổ Nhĩ Kỳ cùng với ban của ông. Cả khi vị đại sứ mới của Thổ Nhĩ kỳ cạnh Tòa Thánh đến trình ủy nhiệm thư tại Vatican cách đây một tháng. Tôi đã thấy ông là một người ngoại thường, một người có lòng đạo đức sâu xa. Cả ông chủ tịch Tôn giáo vụ cũng cùng một trường phái. Cả hai đều nói: Cuộc đối thoại liên tôn dường như đến đường cùng rồi, chúng ta phải tăng chất lượng, chúng ta phải đối thoại giữa những người tôn giáo thuộc các nguồn gốc khác nhau." (NTEB, December 1, 2014)

Kinh Koran là gì?

KINH KORAN LÀ QUYỂN SÁCH PHỦ NHẬN CHÚA GIÊSU LÀ CON THIÊN CHÚA VÀ PHỦ NHẬN NGÀI LÀ ĐẤNG CỨU ĐỘ-MÊSIA .
HÔM NAY VÔ TÌNH ĐỌC ĐƯỢC MỘT BÀI VIẾT NÓI RẰNG "KINH KORAN LÀ MỘT CUỐN SÁCH HÒA BÌNH..." ,NÊN JV MUỐN CHIA SẺ MỘT CÂU CHUYỆN CÓ THẬT VÀ NÓ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ LÀ QUYỂN KINH THÁNH KORAN CỦA ĐẠO HỒI GIÁO .
VÀO NGÀY CHÚA NHẬT 30/11/2014 ,KHI JV ĐI VÀO TRONG 1 KHU TRUNG TÂM MUA SẮP TẠI TORONTO,THÌ GẶP THẤY MỘT NHÓM NGƯỜI HỒI GIÁO,HỌ TRƯNG BÀY TRIỂN LÃM VÀ THUYẾT GIẢNG VỂ KINH KORAN CŨNG NHƯ VỀ ĐẠO GIÁO CỦA HỌ. JV ĐI NGANG QUA VÀ HỌ PHÁT CHO JV MỘT TỜ RƠI, NÓI VỀ LÝ LỊCH SINH THỜI CỦA CHÚA GIÊSU LÀ CON CỦA MẸ MARIA VÀ THÁNH GIUSE. NẾU COI SƠ QUA THÌ THẤY CÓ VẺ BÌNH THƯỜNG VÌ ĐÚNG LÀ NHƯ VẬY,ĐÚNG LÀ CHÚA GIÊSU LÀ CON CỦA MẸ MARIA VÀ THÁNH GIUSE VỚI BẢN TÍNH CON NGƯỜI,NHƯNG THẬT RA HỌ LÀM VẬY LÀ CÓ Ý PHỦ NHẬN THIÊN TÍNH CỦA CHÚA GIÊSU LÀ CON THIÊN CHÚA THẬT .
ĐÁNG LẼ RA LÀ JV BỎ ĐI,NHƯNG VÌ MUỐN TÒ MÒ THÊM ĐỂ XEM THẬT SỰ HỌ ĐANG MUỐN LÀM GÌ VÀ NÓI GÌ,NÊN JV TIẾN LẠI VÀ NÓI CHUYỆN VỚI 1 NGƯỜI THANH NIÊN TRẺ HƠN JV TRONG SỐ HỌ. JV HỎI CHUYỆN ANH TA,VÌ CŨNG HIỂU CHÚT ÍT VỀ ĐẠO HỒI CŨNG NHƯ NIỀM TIN CỦA HỌ ,NÊN JV TRÁNH KHÔNG NÓI VỀ CHÚA GIÊSU HAY MOHAMED,MÀ HỎI XEM HỌ CÓ BIẾT VỀ TÊN PHẢN KITO KẺ GIẢ CHÚA SẼ XUẤT HIỆN KHÔNG ,VÌ CHỦ ĐỀ NÀY HỌ KHÔNG BIẾT RÕ NÊN CUỐI CÙNG JV LẠI LÀ NGƯỜI NÓI NHIỀU HƠN HỌ .
CÓ LẼ VÌ THẤY ĐƯỢC SỰ TÒ MÒ CỦA JV ,1 NGƯỜI THANH NIÊN KHÁC TRỮNG TUỔI HƠN VÀ CÓ LẼ ANH TA LÀ NHÓM TRƯỞNG TIẾN ĐẾN VÀ BẮT CHUYỆN VỚI MÌNH.ANH TA BẮT ĐẦU HỎI JV LÀ ĐẠO GÌ,JV TRẢ LỜI ĐẠO CATHOLIC. SAU ĐÓ ANH TA BẮT ĐẦU NÓI VỀ CHÚA GIÊSU VÀ CỐ GẮNG THUYẾT PHỤC VỚI MÌNH RẰNG :CHÚA GIÊSU CHỈ LÀ 1 VỊ TIÊN TRI CỦA THIÊN CHÚA ,RẰNG KHÔNG HỀ CÓ CHUYỆN CHÚA GIÊSU CHỊU ĐÓNG ĐINH CHẾT ĐI VÀ SỐNG LẠI , VÌ HỌ CHO RẰNG CHÚA GIÊSU KHÔNG HỀ CHẾT KHI BỊ ĐÓNG ĐINH TRÊN THÁNH GIÁ ,MÀ NGÀI CÒN SỐNG CHO TỚI KHI THÁO ĐINH VÀ AN TÁNG NGÀI, TỨC LÀ KHI AN TANG VÌ NGÀI CHƯA CHẾT NÊN NGÀI PHỤC HỒI LẠI VÀ SAU ĐÓ ĐI GẶP CÁC TÔNG ĐỒ...SAU KHI ANH TA NÓI SONG THÌ JV CŨNG NÓI VỚI HỌ VỀ NIỀM TIN CỦA MÌNH LÀ HOÀN TOÀN TRÁI NGƯỢC VỚI HỌ ,RẰNG MÌNH TIN CHÚA GIÊSU LÀ CON THIÊN CHÚA ,NGÀI THẬT SỰ ĐÃ CHẾT ĐI SỐNG LẠI VÀ NGÀI LÀ ĐẤNG CỨU THẾ MÀ THIÊN CHÚA GỞI ĐẾN .
NGOÀI 1 SỐ CHUYỆN ĐÓ RA ,THÌ TRONG CUỘC NÓI CHUYỆN NGÀY HÔM ĐÓ JV CÒN NÓI CHUYỆN VỚI HỌ VỀ 1 NGƯỜI ĐÀN ÔNG TÊN LÀ GHULAM AHMAD( 1835-1908 )MÀ TRONG ĐẠO HỒI GIÁO HỌ RAO TRUYỀN RẰNG NGƯỜI ĐÀN ÔNG NÀY LÀ "THE MESSIAH HAS COME" LÀ "ĐẤNG CỨU THẾ ĐÃ ĐẾN " NHƯ TRONG LỜI KINH THÁNH THIÊN CHÚA ĐÃ HỨA LÀ SẼ GỞI ĐẤNG CỨU THẾ ĐẾN NHƯNG LÀ GHULAM AHMAD CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ CHÚA GIÊSU ...(CHIA SẺ THÊM LÀ :DO THÁI GIÁO CŨNG VẪN ĐANG TRÔNG CHỜ ĐẤNG CỨU THẾ ĐẾN VÌ HỌ CŨNG CHƯA TIN CHÚA LÀ ĐẤNG CỨU THẾ ĐÃ ĐẾN,NHƯNG RẤT TIẾC LÀ SAU NÀY HỌ SẼ TIN NHẦM NGỤY KITÔ KẺ SẮP ĐẾN LÀ ĐẤNG CỨU THẾ MÀ THIÊN CHÚA SẼ GỞI ĐẾN CHO HỌ )
JV CHIA SẺ CÂU CHUYỆN NÀY VỚI Ý NGHĨA ĐỂ MUỐN NÓI LÊN RẰNG : CHỈ CÓ 1 THIÊN CHÚA THẬT,CHỈ CÓ 1 ƠN CỨU ĐỘ LÀ CHÚA GIÊSU KITÔ NGÀI ĐÃ ĐẾN VÀ NGÀI SẮP TRỞ LẠI NHƯNG LÀ ĐỂ PHÁT XÉT,CHỈ CÓ 1 GIÁO HỘI DUY NHẤT THÁNH THIỆN . TẤT CẢ NHỮNG GIÁO THUYẾT PHỦ NHẬN CHÚA GIÊSU KITÔ KHÔNG PHẢI LÀ CON THIÊN CHÚA,KHÔNG PHẢI LÀ ĐẤNG CỨU ĐỘ NHƯ KINH KORAN ...ĐỀU ĐI SAI VỚI NIỀM TIN CỦA KITÔ GIÁO ,VÀ NHƯ VẬY NẾU 1 NGƯỜI KITÔ GIÁO MÀ NÓI RẰNG : "KINH KORAN LÀ MỘT CUỐN SÁCH HÒA BÌNH...THÌ QUẢ THẬT LÀ MẤT ĐỨC TIN. VÌ CÓ HÒA BÌNH KHÔNG? NẾU NHƯ KHÔNG CÓ THIÊN CHÚA THẬT ,KHÔNG CÓ ƠN CỨU ĐỘ THẬT. VÀ CÓ HÒA BÌNH THẬT KHÔNG? KHI TIN THEO ĐIỀU DỐI TRÁ MÀ CÓ THỂ MẤT ĐI HẠNH PHÚC THẬT SỰ MUÔN ĐỜI.
Giu se Vũ

Thánh Phanxicô Xaviê: Người biết ước muốn và nhận định

Thánh Phanxicô Xaviê: Người biết ước muốn và nhận định

Philippe Lécrivain, S.J.[1]

Người dịch: Cosma Hoàng Văn Đạt, S.J. (Paris 8.10.2002)
Rạng sáng ngày 3.12.1552, cách nay đúng 450 năm, thánh Phanxicô Xavier đã qua đời trên đảo Thượng Xuyên, sát cửa biển tỉnh Quảng Đông của Trung Hoa. Lúc ấy, tay ngài đang cầm một cây nến cháy sáng, do một thanh niên Trung Hoa tên là Antonio, người bạn đồng hành duy nhất của ngài trao. Cả lục địa mênh mông trước mắt ngài sắp đón nhận ánh sáng của rạng đông. Khi được tin ở Rôma, cha Polanco, thư ký của thánh I-nhã, đã viết: ?Thiên Chúa nhân hậu (đã gợi lên nơi cha Phanxicô) những uớc muốn ấy để ngài được thêm công phúc, nhưng nhất là chính ngài đã muốn bắt chước Chúa Giêsu chết đi như một hạt lúa được gieo xuống đất, ngay cửa ngõ Trung Hoa, để những người khác đến gặt hái hoa quả dồi dào hơn?[2].Cái chết âm thầm lặng lẽ ấy chẳng bao lâu sẽ trở nên như một chuyện thần kỳ.

Nhưng chúng ta hãy tạm dừng lại ở đây để, theo gợi ý của cha Xavier Léon-Dufour[3] , dõi bước theo hành trình của thánh Phanxicô Xavier, đặc biệt ở ba thời điểm quan trọng nhất, tức là khi ngài rời Ấn Độ đi Maluku, đi Nhật Bản và đi Trung Hoa. Ba lần lên đường này có thể hiểu được dựa trên các kinh nghiệm thánh Phanxicô Xavier đã trải qua ở Paris và Rôma[4] , nhưng cũng đưa chúng ta vào những chiều sâu khác nữa. Lần thứ nhất đánh dấu một quyết định quan trọng; lần thứ hai ghi dấu một cuộc chiến đấu cam go; và lần thứ ba là cơ hội tự hiến đến trọn vẹn.

ĐI MALUKU [5]

Vì thánh Phanxicô Xavier không để lại nhật ký, nên chúng ta chỉ có thể theo bước chân ngài qua những lá thư ngài gửi cho anh em Dòng Tên ở Châu Á hay cho thánh I-nhã và các bạn ở Rôma, hoặc cho cha giám tỉnh[6] hay vua Bồ Đào Nha[7]. Đây là những tài liệu khá tản mạn, nhưng không phải là không để lại những dấu ấn cá nhân đáng kể[8].

Phục vụ một “vua đời tạm” [9]

Vừa đặt chân đến Goa[10], thánh Phanxicô Xavier bắt tay ngay vào việc: giảng thuyết, dạy giáo lý, giải tội. Ngài hết sức tận tụy. Ngày 20.9.1542, trong thư gửi về Rôma, ngài viết: “Tôi tin rằng ai thực lòng yêu mến thánh giá Chúa Kitô sẽ tìm thấy an nghỉ khi đương đầu với những thử thách. Còn cái chết nào tệ hơn đời sống của người, sau khi đã biết Chúa Kitô, lại bỏ Chúa để chạy theo sở thích và quyến luyến riêng! Thật không có gì buồn hơn. Trái lại, ai chết đi mỗi ngày, tức là đi nguợc lại ý riêng, không tìm những điều thuộc về mình, nhưng là những điều thuộc về Chúa Giêsu Kitô, sẽ được bình an biết bao” (Bt 15,15)[11]. Ngài cũng báo tin sẽ xuống phía nam[12], đồng thời gửi cho thánh I-nhã hai thư khác, một mặt xin Tòa Thánh rộng ban các đặc ân cho giáo dân Ấn Độ (Bt 16), mặt khác đề cập vai trò quan trọng của vị Tổng Trấn và của một trường học tại Goa (Bt 17). Trong hai năm sau đó, thánh Phanxicô Xavier đã vất vả ngày đêm nhằm mục đích “chinh phục khu vực ngoại giáo”(Lt 93). Năm 1543, cùng với các tân tòng, ngài đối diện với những hoạt động thù nghịch của những tín đồ Ấn giáo và Hồi giáo. Ước nguyện duy nhất với ngài đây cũng là ước nguyện của vị Giám Mục và của vị Tổng Trấn sở tại là nới rộng biên cương Hội Thánh dưới quyền “bảo trợ” của Bồ Đào Nha[13]. Việc ngài thiếu thiện cảm với văn hóa và tôn giáo Ấn Độ chỉ hiểu được trong bối cảnh ấy. Từ năm 1544, ngài không còn đơn độc ở Mũi Comorin nữa: ngài có bạn đồng hành là Malsilhas, người Bồ Đào Nha, một tập sinh được ngài nhận vào Dòng Tên. Trong các thư gửi cho tập sinh này[14], chúng ta thấy những hoạt động mục vụ và bác ái của ngài trong lúc giáo đoàn gặp nhiều khó khăn[15]. Rồi tiếng kêu cứu từ Sri Lanca, từ Maluku. Ngài bị xâu xé: phải bảo vệ quyền lợi của Bồ Đào Nha hay phải bênh vực người Ấn Độ

Cuối cùng, ngài dứt khoát. Ngày 20.1.1545, ngài viết thư xin vua João III của Bồ Đào Nha nghiêm túc xem xét lại những mục tiêu đã đề ra ở Châu Á[16]. Nhưng không phải vì giận người Bồ Đào Nha mà ngài bỏ đi; thư gởi về Rôma sau đó mấy ngày cho thấy những lý do tích cực hơn và có lẽ cũng sâu xa hơn[17].

Đến với Thiên Chúa bằng một con đường khác

Thánh Phanxicô Xavier đã hiểu ra: việc phục vụ một vua đời tạm chỉ nhằm mục đích “giúp chiêm ngắm đời sống vị vua muôn đời”(Lt 91). Phải trải qua kinh nghiệm ngài mới vào được trong khoa sư phạm ấy: liên kết ý muốn của con người với ý muốn của Thiên Chúa, mục tiêu với phương tiện của một tình yêu đích thực.

Chúng ta hãy theo ngài. Ngày 20.9.1542, ngài viết: “Xin Chúa ban sức mạnh cho chúng ta ở đời này, để chúng ta phục vụ Chúa trong mọi sự, như Chúa truyền dạy, và chu toàn thánh ý Chúa ở đời này.”(Bt 15, câu kết). Ngày 15.1.1544, ngài tiến thêm một bước: “Xin Chúa ban cho chúng ta ơn này là suốt thời gian đang phải lưu đày, chúng ta cảm nghiệm được, từ bên trong tâm hồn, và chu toàn ý muốn rất thánh Chúa Người.”(Bt 20, câu kết). Ngày 27.1.1545, ngài bước thêm một bước dài: “Xin Chúa ban cho chúng ta được biết và nhận ra ý muốn rất thánh thiện của Chúa, và khi đã nhận ra, xin Chúa ban dồi dào sức lực và ân sủng, để với đức mến, chúng ta chu toàn thánh ý ngay ở đời này.”(Bt 48, câu kết)[18] .

Kế đến, ngày 7 tháng 4 năm ấy, ngài viết cho Mansilhas: “Chúa muốn chúng ta luôn sẵn sàng chu toàn thánh ý mỗi khi Người bày tỏ và cho chúng ta cảm nhận được từ trong lòng. Muốn sống tốt ở đời này, chúng ta phải làm khách hành hương để đi bất cứ đâu, đến nơi chúng ta có thể phục vụ Chúa.”(Bt 50,2). Sau khi cho biết ở Malacca[19], vì thiếu người giúp, nên nhiều người không theo đạo được, ngài kết luận: “Tôi còn nguyên tháng 5 để quyết định.” (Bt 50,3). Ngài đến São Tomé[20] để nhận định. Cha Coelho, cha sở nơi đó, người đã cho ngài trọ, sau này kể lại: “Ngài có thói quen cứ tối đến là lén đến chòi lá sát đền kính vị tông đồ. Một đêm, đang khi thầm thĩ cầu nguyện, ngài kêu lên nhiều lần: Thưa Mẹ, vậy Mẹ không giúp con sao?”[21]. Tối tăm bao trùm trong khi Chúa Thánh Thần thinh lặng. Nhưng cuối cùng, ngài nhận được ánh sáng. Trong thư gửi về Goa ngày 8.5.1545, ngài viết: “Luôn sẵn lòng từ bi, đang đã thương nhớ đến tôi, và tôi đã cảm nhận được an ủi nội tâm mạnh mẽ, nên biết ý Chúa là tôi phải đi vùng Malacca” (Bt 51,1).

Kết quả, ngài đã đến tận đảo Môrô, điểm tận cùng của ý Chúa và của “an ủi”. Ngài viết cho anh em Dòng Tên ở Rôma ngày 20.1.1548: “Tôi nhớ là xưa nay chưa từng được an ủi thiêng liêng lớn lao và liên tiếp như trên các đảo này, lại ít cảm thấy phải cực nhọc vê phần xác (…) Thay vì gọi đó là Các Đảo Môrô, có lẽ nên gọi là Các Đảo Hy Vọng Vào Chúa thì hơn” (Bt 59,4).

GIỮA SÓNG DẬP GIÓ VÙI

Nhờ ơn Chúa, ngay trên quần đảo Inđônêxia, thánh Phanxicô Xavier đã tận hiến cho Thiên Chúa: “Sau khi đã suy nghĩ, con muốn và ước ao nên giống Chúa, miễn là điều này giúp con phục vụ và ca ngợi Chúa hơn” (Lt 98). Nhưng ở Malacca, trên bán đảo Mã Lai, đang khi ngài chờ tàu đi Ấn Độ, có một người Nhật Bản đến gặp ngài (Bt 59,15).

Một lựa chọn đúng và tốt

Kể từ ngày ấy, các hòn đảo Nhật Bản chiếm một chỗ quan trọng trong tâm trí ngài. Ngày 20.1.1548, ngài viết cho thánh I-nhã: “Con chưa quyết định dứt khoát là trong khoảng một năm rưỡi nữa con sẽ phải đi Nhật Bản cùng với một hay hai anh em trong Dòng, hoặc con sẽ phải gửi hai anh em trong Dòng đến đó. Có điều chắc chắn là nếu con không đi được, con sẽ gửi người đi. Cho đến nay, con nghiêng về phía chính con đi hơn. Con đang xin Chúa cho con biết rõ điều nào phù hợp với ý Chúa hơn” (Bt 60,4). Cùng hôm ấy, ngài nói rõ ý định của mình trong các thư gửi vua João III và anh em Dòng Tên ở Rôma. Trong thư trước, ngài đã nghĩ đến việc không ở lại Ấn Độ nữa: “Tôi chưa quyết định dứt khoát đi Nhật Bản, nhưng dần dần tôi sẽ biết phải làm gì, vì tôi rất ít tin tưởng là tôi sẽ được giúp đỡ thực sự ở Ấn Độ, cả để đạo thánh tiến triển cũng như để duy trì tình trạng đạo như hiện nay” (Bt 61,9). Trong thư sau, ngài có cái nhìn tích cực hơn về việc ra đi: “Tôi nghĩ (người Nhật Bản) hiếu học hơn tất cả các dân khác chúng ta từng biết cho đến nay” (Bt 59,16). Ít lâu sau, ngày 2.4.1548, viết cho ông Diogo Pereira[22], ngài đã dứt khoát: “Tôi rất ước ao và rất vui báo cho ông đôi điều, như với một người bạn đích thực và tâm phúc của tôi, về chuyến đi Nhật Bản mà tôi dự tính sẽ thực hiện trong vòng một năm nữa” (Bt 65,1).

Đến ngày 1.2.1459, việc nhận định kết thúc: ngài sẽ cùng với cha Cosma de Torres khởi hành vào tháng 4. Ngài viết cho thánh I-nhã: “Ở Nhật Bản, tất cả là lương dân, không có người Hồi giáo cũng không có người Do Thái, mà lại có đầu óc tò mò, rất muốn học biết cái mới, cả về Thiên Chúa cũng như về những điều tự nhiên khác, nên con đã quyết định sẽ đến đó. Con thấy tâm hồn rất phấn khởi. Con không ngại đi Nhật Bản, vì con cảm nhận trong tâm hồn mình cái gì đó dào dạt, mặc dầu con hầu như chắc chắn sẽ gặp nhiều nguy hiểm lớn lao hơn những gì con từng gặp xưa nay” (Bt 70,8.10). Tin chắc là đã được chính Thiên Chúa thúc bách, ngài nêu lên những lý do (Lt 180-183). Ngài giải thích với thánh I-nhã là ở Nhật Bản “anh em trong Dòng chúng ta có thể dùng đời sống làm trổ sinh hoa trái, và sau đó chính họ sẽ tiếp nối” (Bt 70,8). Về điều này, ngài đã được xác chuẩn: Anjiro, người Nhật Bản ngài đã gặp ở Malacca, cùng với hai người bạn đã sẵn sàng lên đường. Ngài viết cho thánh I-nhã: “Ở Học viện Đức Tin tại Goa, có ba thanh niên sinh trưởng tại đảo Nhật Bản ấy. Họ cùng từ Malacca đến đó với con năm 48. Họ đã cho con biết nhiều điều về khu vực Nhật Bản, và con hiểu dân chúng ở đó có phong hóa tốt, lại rất thông minh, cách riêng là Phaolô[23] “Trong vòng 8 tháng, Phaolô đã học đọc, viết và nói tiếng Bồ Đào Nha, và hiện đang tập Linh Thao. Anh ấy tiến rất xa và đi sâu vào những điều thuộc Đức Tin. Con rất hy vọng, điều này chỉ đặt hết nơi Thiên Chúa, là ở Nhật Bản sẽ có nhiều người theo đạo” (Bt 71,8). Với cha Simão Rodrigues, ngài nói rõ: “Trong các khu vực này (Ấn Độ), người ta không cần đến tôi lắm nữa, vì có các cha đến trong năm nay” (Bt 73,3)[24].

Viết cho vua João III, ngài nói khác: “Kinh nghiệm đã dạy cho tôi biết là Hoàng Thượng thi hành quyền bính ở Ấn Độ không phải chỉ vì muốn tăng số người tin vào Đức Kitô: Hoàng Thượng thi hành quyền bính cũng để chiếm hữu của cải vật chất ở Ấn Độ nữa. Xin Hoàng Thượng thứ lỗi vì tôi nói toạc ra như vậy (?) Tôi không hy vọng chút nào là những mệnh lệnh hay chỉ thị có lợi cho giáo đoàn mà Hoàng Thượng gửi đến sẽ được tuân giữ ở Ấn Độ. Chính vì vậy mà tôi đi Nhật Bản, gần như bỏ trốn, để khỏi mất thêm thời giờ như trước kia đã mất” (Bt 77,2.3). Đến Malacca vào mùa xuân năm 1549. Ngài biết rõ là những nguy hiểm do bão tố và cướp biển luôn chờ đợi ngài. Với những ai sợ, ngài trả lời: “Vì Thiên Chúa có quyền trên chúng ta hết thảy, nên tôi không sợ ai, ngoại trừ Thiên Chúa. Còn những nỗi sợ, những nguy hiểm khác, những đau khổ khác, mà bạn bè nói tới, tôi kể là số không. Tôi chỉ còn sợ Thiên Chúa, vì nỗi sợ đối với các thụ tạo chỉ lớn tới mức Đấng Sáng Tạo ra chúng cho phép là cùng” (Bt 78,2). Nhưng một cuộc chiến khác đang chờ đợi người “khách hành hương”.

Đương đầu với “thủ lãnh các kẻ thù”

Lúc còn ở Ấn Độ, để khích lệ cha Henriques đang ở Travancore, ngài đã viết: “Hãy thấy là cha sinh được nhiều hoa trái ở vương quốc Travancore này hơn cha nghĩ, vì từ khi cha đến đó, bao nhiêu trẻ em đã được rửa tội và đã qua đời, hiện nay đang sống trong vinh quang Thiên Đàng (…) Kẻ thù của loài người rất thù ghét cha, và muốn cha tránh xa xứ ấy, để đừng ai rời bỏ vương quốc Travancore mà lên Thiên Đàng nữa. Ma quỉ thường nhử những người đang phục vụ Đức Giêsu Kitô là họ sẽ phục vụ Thiên Chúa được nhiều hơn, với ý xấu là làm cho một linh hồn đang phục vụ Thiên Chúa được ở nơi này phải áy náy và bối rối, vì vậy bỏ đi nơi khác, thế là nó đuổi được người ấy ra khỏi nơi họ đang phục vụ được Thiên Chúa” (Bt 68,3)[25]. Mấy tháng sau, đang khi chờ tàu tại Malacca, ngài viết thư gửi anh em Dòng Tên Ấn Độ: “Kẻ Thù vùng vẫy rất nhiều để ngăn cản tôi thực hiện chuyến đi này: tôi không biết nó sợ gì trong việc chúng tôi đi Nhật Bản.” Rồi ngài viết tiếp: “Thực ra, tôi luôn luôn giữ trước mắt và trước trí khôn tôi điều tôi đã nhiều lần nghe cha I-nhã nói: những ai muốn thuộc về Dòng này phải chịu gian khổ để thắng được mình và đuổi xa mọi nỗi sợ là điều ngăn cản người ta tin, cậy và mến Chúa, và muốn được như vậy, phải sử dụng những phương thế thích đáng” (Bt 85,8.13). Đây chẳng phải là ngài ám chỉ các qui tắc nhận định sao (Lt 325-327)?

Nhưng mặt biển mới là nơi thử thách nặng nề. Trên chiếc thuyền gỗ của một nhà buôn Trung Hoa có biệt danh là Hải Tặc, một bức tượng Thủy Tề được đặt trang trọng ở mũi thuyền. Thánh Phanxicô Xavier kinh hoàng và khổ sở: “Người ta mang theo một tượng thần trên thuyền, đặt ngay ở phía trước; anh thuyền trưởng và các kẻ ngoại khác cầu khẩn cúng bái bức tượng liên tục, và chúng tôi không sao ngăn cản được họ nhiều lần gieo quẻ để hỏi tượng thần xem chúng tôi có đến Nhật Bản được không, gió cần cho thuyền chạy có kéo dài không: khi thì họ nói là tốt, khi thì họ nói là xấu, theo như họ tin (…) Anh em thấy là chúng tôi phải khổ sở thế nào trong chuyến đò ấy, vì chúng tôi có đi Nhật Bản được hay không là tùy thuộc ý kiến của ma quỉ và các tôi tớ của nó, mà những người điều khiển và hướng dẫn con thuyền thì cứ nhất nhất làm theo như ma quỉ nói với họ qua các thẻ”(Bt 90,2.4). Hẳn là ngài nghĩ đến điều thánh I-nhã viết trong Linh Thao: Luxiphe gửi thuộc hạ đi “bủa lưới và xiềng xích” khắp nơi (Lt 142). Bão tố nổi lên, các tai họa dồn dập, và thánh Phanxicô Xavier bị thử thách tận trong đấy lòng. Chính ngài phải chiến đấu: “Tôi cảm nhận được, biết được bằng chính cảm nghiệm, nhiều điều liên hệ đến những nỗi kinh hoàng rụng rời do ma quỉ gây ra”(Bt 90,7). Nhưng chính Thiên Chúa cũng chỉ cho ngài lối thoát: “Phương thuốc tốt nhất cần dùng trong những hoàn cảnh như vậy là hết sức dũng cảm chống lại Kẻ Thù, đừng tin tưởng chút nào nơi mình, nhưng đặt hết tin tưởng nơi Thiên Chúa, đặt tất cả sức mạnh và tất cả hi vọng nơi Người, và nhờ Đấng Bảo Vệ vĩ đại như vậy, chúng ta trở nên mạnh mẽ; đừng hèn nhát và không chút nghi ngờ việc mình sẽ chiến thắng” (Bt 90,7). Vậy là ngài trở nên rất khiêm tốn, thoát ra khỏi chính mình, đặt mình trọn vẹn trong tay Chúa: ngài đang chiến đấu dưới cờ hiệu của Đức Kitô, “ở một nơi khiêm tốn, xinh đẹp và dễ thương”, chứ không phải như Luxiphe hay các thuộc hạ của nó “dữ tợn và đáng sợ, ngồi trên ngai lửa và khói” (Lt 140 và 143).

Bão tố đến rồi đi. Vì có hải tặc, người chủ thuyền không dám ghé vào Quảng Đông như dự tính, nhưng tiến thẳng đến Nhật Bản, và mọi chuyện êm xuôi. Trong lá thư đề ngày 29.1.1552, gửi anh em Dòng Tên ở Rôma, thánh Phanxicô Xavier kể khá kỹ về thời gian ngài lưu lại trên đất Nhật Bản, đặc biệt là những câu hỏi người ta nêu lên về Thiên Chúa và việc Sáng Tạo (Bt 96). Nhưng người Nhật Bản vẫn thắc mắc: Tại sao người Trung Hoa không biết và tin Chúa Giêsu?

HƯỚNG VỀ TRUNG HOA

Trên đường trở lại Ấn Độ, thánh Phanxicô Xavier dừng chân tại Malacca. Ngài nhận được nhiều thư từ và tin tức, đặc biệt thư của thánh I-nhã thiết lập Tỉnh Dòng Ấn Độ và đặt ngài làm giám tỉnh, và tình trạng đáng lo ngại ở Học viện Thánh Phaolô tại Goa. Ngài có nhiều việc phải lo hơn, nhưng cũng được tự do trong hoạt động tông đồ hơn.

Sức mạnh của lòng yêu mến

Trước khi đi Nhật Bản, thánh Phanxicô Xavier đã đi thăm một vòng các anh em ở nhiều nơi để thảo luận về công cuộc truyền giáo và về việc thiết lập hay phát triển các trường học. Riêng về Học viện Thánh Phaolô ở Goa, mặc dầu ngài thấy cha viện trưởng Antonio Gomes quá độc đoán, cần phải thuyên chuyển, nhưng ngài chưa dứt khoát. Ngài đã viết cho thánh I-nhã trong thư ngày 1.2.1549: “Ở đây, anh em trong Dòng không lấy làm gương sáng lắm trước lệnh do N.[26] mang đến là bắt giam và trói bằng xiềng xích những ai, theo N., không làm gương sáng lắm ở đây để gửi vể Bồ Đào Nha”(Bt 70,4)[27]. Rồi ngài tâm sự với thánh I-nhã: “Con nghĩ rằng Dòng Tên là Dòng yêu mến và hiệp nhất tâm hồn, chứ không phải là ép buộc hay sợ hãi như nô lệ”(Bt 70,5). Ba năm sau, từ Nhật Bản trở về, ngài thấy tình hình trở nên tệ hại hơn, và ngài vẫn không thay đổi ý kiến. Cha Antonio Gomes quả là không hiểu gì thánh Phanxicô Xavier khi muốn biến Học viện Thánh Phaolô ở Goa thành một Học viện Coimbra[28] thứ hai: xây dựng thật lớn lao, nhưng chỉ nhận học sinh người Bồ Đào Nha[29] . Trái lại, ở Cochin, Dòng Tên cũng có một trường học, nhưng không có một nhà thờ xứng đáng, ngài đã không ngần ngại tiếp nhận nhà thờMadre de Dios, của Hội Từ Thiện Casa da Misericordia, tổ chức tốt nhất của người Bồ Đào Nha tại Châu Á thời ấy. Trong một thời gian ngắn, ngài thu xếp mọi công việc đâu vào đó, để rồi lại thực hiện một chuyến đi xa nữa.

Thực ra, ước nguyện của thánh Phanxicô Xavier không chỉ dừng lại ở việc làm “triển nở” cộng đồng tín hữu Bồ Đào Nha ở Ấn Độ, nhưng còn muốn góp phần tạo ra những cộng đồng mới: không còn tranh chấp, kiện tụng, gương xấu, nhưng giữa anh em Dòng Tên và hàng giáo sĩ triều cũng như dòng, có sự thông cảm và cộng tác; còn những kỳ đà cản mũi trong Dòng Tên thì bị loại trừ khỏi Dòng (Bt 100 và 101). Đi xa hơn nữa, ngài ra lệnh cho cha Berze, viện trưởng mới của Học viện Thánh Phaolô: “Trong cách xử sự với các cha và các anh em, phải rất quí mến, bác ái và khiêm tốn, đừng thô bạo hay gắt gao…”(Bt 115,1); “Còn về cách giúp (các tín hữu) thì càng phổ cập hơn càng tốt” (Bt 115,4). Ngài cũng muốn các tập sinh trong Dòng phải được huấn luyện tử tế bằng việc tập Linh Thao và thực hiện nghiêm túc các thực nghiệm[30]. Nhưng ngài nhấn mạnh đặc biệt đến việc anh em trong Dòng phải hiệp nhất với nhau và với bề trên (Bt 117). Ngài nghĩ cả đến việc được gọi trở về Rôma để gặp thánh I-nhã. Trong thư ngày 29.1.1552, ngài gần như gợi ý với thánh I-nhã: “Cha viết cho con là cha rất mong được gặp con trước khi lìa khỏi cõi đời này… Đối với đức tuân phục thì không có gì là không thể được”(Bt 97,3). Thư hồi âm của thánh I-nhã đến Ấn Độ thì thánh Phanxicô Xavier đã qua đời từ lâu rồi![31].

Chẳng những là một người dễ gần gũi, mà thánh Phanxicô Xavier còn là một người thích chia sẻ và hiệp thông nữa. Ngài học được với thánh I-nhã là “mọi điều thiện hảo, mọi ân huệ đều từ trên cao ban xuống” (Lt 237), nên việc kết hiệp với Thiên Chúa được đặt nền móng trên việc Người hiện diện khắp nơi. Nhưng đối với thánh Phanxicô Xavier, kinh nghiệm này rất sống động. Tìm gặp Thiên Chúa trong hiện tại chính là tìm kiếm Người mọi nơi mọi lúc. Do đó, nơi ngài, việc nhận định được liên kết với việc mở rộng hoạt động truyền giáo, và muốn tiến bộ trong chiêm niệm phải nhìn ngắm thế giới này bằng con mắt thiêng liêng. Như trong bài “Chiêm niệm để đạt tới tình yêu” trong Linh Thao (Lt 230-237), việc “tìm gặp Thiên Chúa trong mọi sự” được nâng lên thành một chia sẻ và hiệp thông trong yêu mến, nơi đó con người được mời gọi mở cửa cho Thiên Chúa, Đấng hoạt động cả bên trong cũng bên ngoài[32].

“Xin đừng bao giờ để con lìa xa Chúa”

Vừa về đến Ấn Độ, thánh Phanxicô Xavier bày tỏ ngay với thánh I-nhã về ước muốn đi Trung Hoa để phục vụ Thiên Chúa hơn. Chúng ta đã biết điều gì thúc bách ngài, ở đây chúng ta để ý đến điểm đặc biệt là các suy nghĩ của ngài rất gần với những điều được trình bày trong Hiến Chương Dòng Tên[33]. Nguyên tắc hướng dẫn việc lựa chọn hoạt động tông đồ của Hiến Chương Dòng Tên là trong hoàn cảnh cụ thể, ưu tiên cho hoạt động nào “phục vụ Thiên Chúa hơn và lợi ích phổ cập hơn”[34]. Đó cũng chính là điều thánh Phanxicô Xavier đã nghĩ khi viết: “Trong Thiên Chúa, tôi rất hi vọng là một con đường sắp được mở ra, không chỉ cho anh em trong Dòng, mà còn cho tất cả các dòng khác…” (Bt 96,52). Theo Hiến Chương Dòng Tên, phải chọn nơi nào người ta sẵn sàng để hoa trái thiêng liêng trổ sinh hơn. Thánh Phanxicô Xavier quyết định đi Trung Hoa vì người Trung Hoa “có trí khôn sâu sắc” và “hiếu học” hơn người Nhật Bản nhiều (Bt 96,50). Theo Hiến Chương Dòng Tên, “sự thiện càng phổ cập càng đẹp lòng Thiên Chúa”, nên phải ưu tiên đối với những người sẽ làm cho sự thiện đến được những người khác nữa, “những người dưới quyền họ hoặc chịu ảnh hưởng của họ”. Đây cũng chính là điều thánh Phanxicô Xavier nhắm tới: khi người Trung Hoa đón nhận Đạo Chúa Kitô, họ sẽ giúp cho người Nhật Bản bỏ lòng tin tưởng nơi các giáo phái từ Trung Hoa truyền sang.

Đã nắm vững những nguyên tắc hướng dẫn ấy, thánh Phanxicô Xavier chuẩn bị chuyến đi hết sức chu đáo. Ngày 8.4.1552, ngài viết cho vua João III: “Ông Diogo Pereira đi với tư cách là đại sứ (của Tổng Trấn Bồ Đào Nha tại Ấn Độ), để đòi lại những người Bồ Đào Nha đang bị (chính quyền Trung Hoa) cầm tù, và cũng để thiết lập quan hệ hòa bình và hữu nghị giữa Hoàng Thượng và vua Trung Hoa. Về phần chúng tôi, các linh mục Dòng Tên Chúa Giêsu, tôi tớ của Hoàng Thượng, chúng tôi đi để gây chiến tranh và bất hòa giữa ma quỉ với những người thờ lạy chúng, thay mặt Thiên Chúa nài van trước là nhà vua, sau là tất cả dân chúng trong vương quốc, để họ đừng thờ lạy ma quỷ nữa, nhưng thờ lạy Đấng tạo thành trời đất, vì chính Người đã dựng nên họ, và chính Chúa Giêsu Kitô đã cứu chuộc họ” (Bt 109,5). Trong lá thư cuối gửi cho thánh I-nhã, thánh Phanxicô Xavier hạ giọng hơn, như thổ lộ tâm tình, trong đó chúng ta thấy sứ mạng và chiêm niệm quyện vào nhau: “Mọi người đều nói với con là từ Trung Hoa có thể đi Giêrusalem được”(Bt 110,12). Sau khi huấn dụ anh em Dòng Tên ở Goa vào đêm thứ năm Tuần Thánh, ngài rời Goa đi Malacca để theo tàu của ông Pereira đi Trung Hoa. Thật bất ngờ: hai người con của nhà thám hiểm lỗi lạc Vasco da Gama cùng ở Malacca, nhưng đối xử với ngài hoàn toàn khác nhau. Người anh là Pedro da Silva da Gama, trấn thủ trên đất, hết lòng ủng hộ ngài, nhưng người em là Alvaro da Ataida da Gama, trấn thủ trên biển, nhất định không cho tàu nhổ neo. Ngài phải lấy quyền Phái Viên Tòa Thánh để ra vạ tuyệt thông, nhưng viên sĩ quan ấy cũng chỉ cho phép tàu đi mà không có ông Pereira. Mọi sự bỗng nhiên như sụp đổ trước mắt ngài. Nhưng rồi ngài vẫn đi, “không có một đặc ân nào của ai, hi vọng một người Môrô hay một kẻ ngoại sẽ chở tôi vào đất liền ở Trung Hoa”(Bt 125,4).

Khoảng đầu tháng 9 năm 1552, ngài đặt chân lên đảo Thượng Xuyên[35], một hòn đảo vốn hoang vu đã được các nhà buôn Trung Hoa và Bồ Đào Nha biến thành một thương cảng. Nhờ các tàu buôn Bồ Đào Nha đi Malacca, thánh Phanxicô Xavier tiếp tục điều hành Tỉnh Dòng qua thư từ. Trong khi nóng lòng chờ đợi một nhà buôn Trung Hoa đến đón như đã hẹn, ngài đề ra những phương án khả thi khác: trở về Ấn Độ, theo một phái đoàn sứ thần Thái Lan để vào Trung Hoa. Nhưng rồi ngài ngã bệnh. Dầu vậy, ngài vẫn chưa ngã lòng: “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta…” (Rm 8,31)[36]. Nhưng ngài không dậy được nữa. Giờ đã đến để ngài dâng lên Thiên Chúa của lễ tối hậu: “Lạy Chúa, xin thương nhận… Mọi sự đều là của Chúa, xin Chúa sử dụng tùy ý Chúa. Xin ban cho con tình yêu và ân sủng của Chúa. Ơn Chúa làm thỏa lòng con” (Lt 234).

Nếu ước nguyện duy nhất của thánh Phanxicô Xavier là đem Tin Mừng đến cho những người ở xa, thì mười năm ở Châu Á của ngài được ghi dấu bằng ba cột mốc là ba chuyến đi lớn. Khi rời Ấn Độ đi Inđônêxia, ngài phần nào tách khỏi quyền “bảo trợ truyền giáo” của Bồ Đào Nha và lao mình vào nơi ngài chưa hề biết gì. Đó cũng là dịp để ngài đến với Thiên Chúa một cách khác. Quyết định đi Nhật Bản là kết quả một cuộc nhận định lâu dài, nhưng dọc theo bờ biển Trung Hoa, ngài khám phá ra Thiên Chúa đòi hỏi ngài hơn nữa: phó thác trọn vẹn nơi Người. Chuyến đi cuối cùng của ngài vẫn nằm trong ước nguyện cơ bản nguyên thủy: đó không phải là một cuộc chạy trốn về phía trước, vì mặc dầu bất đắc dĩ phải ở lại Thượng Xuyên, ngài vẫn tận tình chu toàn nhiệm vụ giám tỉnh. Nhưng chính lúc ấy, cái chết đến thật bất ngờ. Chắc chắn ba chuyến đi ấy chưa làm cho ngài kiệt sức, nhưng đủ làm nổi rõ những đường nét thâm sâu trong cuộc sống của ngài.

———————————
[1] Tạp chí Christus 196, Octobre 2002, trang 493-502.
[2] Trích dẫn theo André Ravier, La Compagnie de Jésus sous le gouvernement d’Ignace de Loyola (1541-1556), Desclée de Brouwer, coll. “Christus”, 1991, trang 203.
[3] Saint Francis Xavier (1953), Desclée de Brouwer, coll. “Christus”, 1997. Người viết dựa khá nhiều vào tác phẩm này.
[4] Chú thích của người dịch: Tại Paris, thánh Phanxicô Xavier đã gặp thánh I-nhã, gia nhập nhóm bạn của ngài, tập Linh Thao. Tại Rôma, nhóm bạn ấy trở thành Dòng Tên. Thánh Phanxicô Xavier cũng từ Rôma đi Ấn Độ theo lệnh của Đức Thánh Cha Phaolô III.
[5] Chú thích của người dịch: Quần đảo phía đông bắc Inđônêxia hiện nay, người Tây Phương thường gọi là Moluques hay Moluccas.
[6] Chú thích của nguời dịch: Cha Simão Rodrigues, một người trong nhóm bạn đầu tiên của thánh I-nhã từ Paris, làm giám tỉnh Dòng Tên Bồ Đào Nha từ 1546 đến 1552. Từ 1546, Dòng Tên Ấn Độ thuộc Tỉnh Dòng Bồ Đào Nha. Trước đó, cha Simão Rodrigues vẫn là bề trên của thánh Phanxicô Xavier. Năm 1549 Dòng Tên Ấn Độ được tách khỏi Bồ Đào Nha để trở thành Tỉnh Dòng biệt lập, và thánh Phanxicô Xavier được thánh I-nhã bổ nhiệm làm giám tỉnh tiên khởi.
[7] Vua João III, rất ưu ái Dòng Tên.
[8] Người viết sẽ nêu lên nhiều nét đặc thù để trình bày một khuôn mặt khác của thánh Phanxicô Xavier, không lệ thuộc vào những vấn nạn về tôn giáo và văn hóa hiện nay.
[9] Chú thích của nguời dịch: Cụm từ này xuất phát từ Linh Thao, số 91 (LT 91).
[10] Chú thích của nguời dịch: thành phố trên bờ biển phía tây Ấn Độ, là thủ phủ của người Bồ Đào Nha ở khu vực Châu Á.
[11] Chú thích của nguời dịch: Bút tích (bt) thánh Phanxicô Xavier, tài liệu 15, đoạn 15. Tất cả những điều thánh Phanxicô Xavier đã viết, và còn lưu lại, được gom lại trong bộ Bút tích (bản tiếng Tây Ban Nha Cartas y Ecritos de San Franciso Javier của Felix Zubillaga, S.J., Biblioteca de Autores Cristianos, Madrid, MCMLIII; bản tiếng Pháp Saint Francis Xavier, Correspondance 1525-1552, Lettres et documents của Hugues Didier, S.J., Dwsclée de Brouwer 1987; bản tiếng Anh The Letters and Instuctions of Francis Xavier của M. Joseph Costelloe, S.J., Stanislaô. Louis, Missouri, 1992; bản tiếng Việt Bút tích thánh Phanxicô Xavier của Hoàng Sóc Sơn).
[12] Chú thích của nguời dịch: Khu vực Mũi Comorin ở cực nam Ấn Độ.
[13] Theo hiệp định Tordesilas năm 1494, Đức Giáo Hoàng Alexanđrô VI chia những vùng đất người Tây Ban Nha và người Bồ Đào Nha mới khám phá được làm 2 phần, phía tây cho Tây Ban Nha, phía đông cho Bồ Đào Nha, với nhiệm vụ gầy dựng và phát triển Hội Thánh trong phần đất mới. Nhiệm vụ này được gọi là “bảo trợ”.
[14] Chú thích của nguời dịch: 25 thư liên tục (Bt 21-45).
[15] Chú thích của nguời dịch: bị các tiểu vương chung quanh bách hại, bị người Bồ Đào Nha bỏ rơi.
[16] Chú thích của nguời dịch: Bt 46.
[17] Chú thích của nguời dịch: Bt 47.
[18] Chú thích của nguời dịch: tác giả viết là thư số 18, nhưng có lẽ thư 48 thì chính xác hơn.
[19] Chú thích của nguời dịch: Có lẽ thánh Phanxicô Xavier muốn nói ở Makassar (một thị trấn trong khu vực Maluku).
[20] Nay là Maliapur. Người ta truyền tụng là Thánh Tôma tông đồ đã tử đạo và được an táng tại đó.
[21] Trích dẫn theo James Brodrick, Saint Francis Xavier, Spes, 1954, trang 221-222.
[22] Đây là một nhà buôn giàu có người Bồ Đào Nha, sau này sẽ tài trợ chuyến đi Trung Hoa của thánh Phanxicô Xavier.
[23] Chú thích của nguời dịch: Tên thật là Anjirô.
[24] Số anh em Dòng Tên ở Ấn Độ sẽ lên đến 30 trong năm 1549.
[25] Chú thích của nguời dịch: Người viết ghi là 69, nhưng có lẽ 68 thì chính xác hơn.
[26] Chú thích của nguời dịch: Ám chỉ cha Antonio Gomes, do cha giám tỉnh Bồ Đào Nha là Simão Rodrigues gửi đến và đặt làm viện trưởng Học viện Thánh Phaolô ở Goa.
[27] Chú thích của nguời dịch: Có lẽ theo cách và lệnh của cha Simão Rodrigues ở Bồ Đào Nha.
[28] Chú thích của nguời dịch: Học viện Coimbra ở Bồ Đào Nha là một trường đại học; trong khi Học viện Thánh Phaolô ở Goa thâu nhận để huấn luyện các thiếu niên Ấn Độ ở mức độ thấp hơn nhiều, nhằm mục đích đào tạo các linh mục, tu sĩ và giáo lý viên bản xứ.
[29] Chú thích của nguời dịch: Về sau, cha Antonio Gomes bị thánh Phanxicô Xavier khai trừ khỏi Dòng Tên.
[30] Chú thích của nguời dịch: Chẳng hạn làm các việc phục dịch trong nhà, phục vụ bệnh nhân trong bệnh viện, dạy giao lý cho trẻ em và người ít học…
[31] Chú thích của nguời dịch: Thánh I-nhã nhận được thư này vào tháng 4 năm 1553. Ngày 28.6.1553, trong thư hồi âm, thánh I-nhã viết: “Xét thấy để phục vụ Thiên Chúa hơn và để giúp đỡ các linh hồn hơn…, tôi đã quyết định ra lệnh cho cha, nhân danh đức tuân phục, giữa bao nhiêu cách, hãy theo cách nào có cơ hội đầu tiên, mà hành trình tốt, để về Bồ Đào Nha.”
[32] Michel Certeau, “L’universalisme ignatien: mystique et mission”, Christus, n.50, avril 1966, trang 173-183.
[33] Hiến Chương Dòng Tên được thánh I-nhã soạn thảo ở Rôma, chỉ được chính thức công bố năm 1558, khi cả thánh Phanxicô Xavier cũng như thánh I-nhã đã qua đời, nhưng vào những năm cuối đời, thánh Phanxicô Xavier cũng đã biết phần nào (Bt 107,7).
[34] Xem Hc 622 (Hiến Chương Dòng Tên số 622).
[35] Chú thích của nguời dịch: Hòn đảo dài chừng 24 dặm, rộng chừng 14 dặm, cách đất liền Trung Hoa 8 dặm, cách thành phố Quảng Châu khoảng 120 dặm, là khu chợ trời cho các nhà buôn Trung Hoa và Bồ Đào Nha trao đổi hàng hóa, vì Hoàng Đế Trung Hoa cấm người Châu Âu vào đất liền. Thánh Phanxicô Xavier lên đảo, cùng với mấy người bạn ở trong một chòi của một nhà buôn Bồ Đào Nha. Ngài xin dưng một nhà nguyện bằng lá để hằng ngày đến dâng lễ và cầu nguyện.
[36] Thánh Phanxicô Xavier trích dẫn trong Bt 131,6.

Sri Lanka hàng tỷ cá chết hàng loạt - Dấu hiệu cảnh báo

SRI LANKA, HÀNG TỶ CON CÁ CHẾT HÀNG LOẠT
HÀNG TỶ CON CÁ BỖNG NHIÊN SÔ VÀO BỜ CHẾT HÀNG LOẠT TẠI SRI LANKA.

" Ta đã ban cho nhân loại mọi dấu chỉ, mọi lời cảnh báo và mọi Ân Sủng để chuẩn bị cho linh hồn họ. Một số người đã lắng nghe Lời của Thiên Chúa trong Kinh Thánh và đã chú tâm. Những kẻ khác đã lắng nghe và đã thấy được Sự Thật nhưng lại không chịu đón nhận Sự Thật "

Hãy coi chừng!

Hãy coi chừng!

(Chúa Nhật I mùa Vọng, năm B)

Mùa Vọng khởi đầu Năm Phụng Vụ mới, ngày Tết Phụng Vụ của Giáo hội. Ngay từ đầu, Thiên Chúa đã nhắn: “Hãy coi chừng!”. Đó là lời cảnh báo về điều gì đó nghiêm trọng, đặc biệt là điều có thể nguy hại đến tính mạng. Hằng ngày, chúng ta có rất nhiều tứ phải coi chừng, thậm chí từng phút, từng giây. Coi chừng không chỉ về thể lý mà cả về tinh thần và tâm linh – từ điều lớn tới điều nhỏ. Mọi nguy hiểm có thể ập đến bất cứ lúc nào!

Thật vậy, hãy cẩn thận với suy nghĩ, vì nó có thể biến thành lời nói; hãy cẩn thận với lời nói, vì nó có thể biến thành hành động; hãy cẩn thận với hành động, vì nó có thể biến thành thói quen; hãy cẩn thận với thói quen, vì nó có thể biến thành tính cách; hãy cẩn thận với tích cách, vì nó có thể biến thành số phận. Một chuỗi liên kết rất lô-gích!

Chúng ta biết rằng Mùa Vọng là thời gian chuẩn bị mừng đón Con Thiên Chúa giáng sinh làm người. Việc chuẩn bị này được tìm thấy trong sách ghi chép về Công nghị Saragossa, ở Tây Ban Nha năm 380 (sau Công Nguyên). Công hội này tuyên bố các Kitô hữu đã rửa tội nên có mặt ở nhà thờ từ 17/12 đến 25/12, thời gian này không là Mùa Vọng trọn vẹn nhưng là một sự khởi đầu. Các Giáo hội Đông phương bắt đầu cử hành Mùa Vọng từ thế kỷ VIII như thời gian “ăn chay nghiêm nhặt và kiêng khem” – việc thực hành này vẫn phổ biến trong Chính Thống giáo Đông phương (Eastern Orthodoxy). Việc thực hành này cũng phản ánh tính tương tự với Mùa Chay. Màu đỏ là màu phụng vụ của Mùa Vọng trong các Giáo hội Đông phương, còn với Công giáo là màu tím.

Cả cuộc đời chúng ta trên đường lữ hành trần gian là Mùa Vọng kéo dài, luôn phải tỉnh thức, như Thánh Phêrô đã cảnh báo: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5:8). Tỉnh thức là biết mong chờ và sẵn sàng. Tác giả Thánh Vịnh nói: “Hồn tôi trông đợi Chúa Trời, còn hơn lính gác mong trời hừng đông. Bởi Chúa luôn từ ái một niềm, ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa” (Tv 130:6-7).

Trong cuộc sống đời thường, kể cả tinh thần, chúng ta luôn có nhiều mơ ước, và mong chờ kết quả mỹ mãn. Dù chúng ta có đạt được ước vọng cháy bỏng nào đó, rồi cũng qua. Chỉ có Thiên Chúa mới là niềm vui trọn vẹn và vĩnh cửu. Ngôn sứ Isaia đã kêu lên: “Quả chính Ngài là Cha chúng con! Chúng con không được ông Áp-ra-ham biết đến, không được ông Ít-ra-en nhìn nhận, còn Ngài, lạy Đức Chúa, Ngài mới là Cha, là Đấng cứu chuộc chúng con: đó là danh Ngài từ muôn thuở. Lạy Đức Chúa, tại sao Ngài lại để chúng con lạc xa đường lối Ngài? Tại sao Ngài làm cho lòng chúng con ra chai đá, chẳng còn biết kính sợ Ngài? Vì tình thương đối với tôi tớ là các chi tộc thuộc gia nghiệp của Ngài, xin Ngài mau trở lại” (Is 63:16-17).

Hai người yêu nhau không muốn xa nhau một khoảnh khắc nào, xa nhau một ngày mà cứ tưởng lâu lắm. Đứa bé không muốn rời tay mẹ dù chỉ trong chốc lát, vắng mẹ một lúc thì đứa bé đã khóc. Còn với Thiên Chúa, chúng ta còn cần Ngài hơn như vậy, nhất là những khi chúng ta bất xứng: “Từ lâu rồi, chúng con là những kẻ không còn được Ngài cai trị, không còn được cầu khẩn danh Ngài. Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống, cho núi non rung chuyển trước Thánh Nhan” (Is 63:19).

Thiên Chúa xuất hiện khiến mọi thứ biến đổi: “Khi thấy Ngài làm những điều kinh hồn táng đởm mà chúng con không ngờ: Ngài ngự xuống: và núi non rung chuyển trước Thánh Nhan! Người ta chưa nghe nói đến bao giờ, tai chưa hề nghe, mắt chưa hề thấy có vị thần nào, ngoài Chúa ra, đã hành động như thế đối với ai tin cậy nơi mình” (Is 64:2-3). Thiên Chúa quá đỗi kỳ diệu, vô hình mà hiện hữu, hữu hình mà không thể nhìn thấy. Cách hành động của Ngài cũng không thể dự đoán. Có những điều trái ngược ý muốn của chúng ta nhưng thực sự là Ý Chúa, vì Ngài biết trước mọi sự và Ngài thực hiện để cho chúng ta được ích lợi nhất.

Sách Isaia cho biết: “Ngài đón gặp kẻ sống đời công chính mà lấy làm vui và nhớ đến Ngài khi theo đường lối Ngài chỉ dạy. Kìa, Ngài phẫn nộ vì tội lỗi chúng con, nhưng khi mải đi theo các đường lối của Ngài, chúng con sẽ được cứu thoát. Tất cả chúng con đã trở nên như người nhiễm uế, mọi việc lành của chúng con khác nào chiếc áo dơ. Tất cả chúng con héo tàn như lá úa, và tội ác chúng con đã phạm, tựa cơn gió, cuốn chúng con đi.6 Không có ai cầu khẩn danh Chúa, cũng chẳng ai tỉnh dậy mà níu lấy Ngài, vì Ngài đã ngoảnh mặt không nhìn đến, và để cho tội ác chúng con phạm mặc sức hành hạ chúng con” (Is 64:2-6). Thiên Chúa có phương pháp giáo dục rất độc đáo, khác hẳn kiểu của phàm nhân. Ngài không chỉ vẽ cặn kẽ theo kiểu “nói toạc móng heo”, nhưng khéo léo làm cho chúng ta “sáng mắt” bằng cách để chúng ta tự ý thức mà tự nguyện đón nhận Ngài. Thế đấy! Tại sao? Kinh Thánh mách nước” cho chúng ta biết: “Ngài là Cha chúng con; chúng con là đất sét, còn thợ gốm là Ngài, chính tay Ngài đã làm ra tất cả chúng con” (Is 64:2-7). Quả thật, Thiên Chúa là Nghệ Sĩ siêu phi thường!

Chắc chắn không có niềm khao khát mong chờ bằng khao khát Thiên Chúa. Mùa Vọng nhắc nhở chúng ta về niềm khao khát cháy bỏng: “Lạy Mục Tử nhà Ít-ra-en, Ngài là Đấng chăn giữ nhà Giuse như chăn giữ chiên cừu, xin hãy lắng tai nghe! Ngài là Đấng ngự trên các thần hộ giá, xin giãi sáng hiển linh cho dòng dõi Ép-ra-im, Ben-gia-min và Mơ-na-se được thấy. Xin khơi dậy uy dũng của Ngài, đến cùng chúng con và thương cứu độ” (Tv 80:2-3).

Thiên Chúa là Đấng siêu phàm, vắng Ngài chỉ trong tích tắc là chúng ta tiêu tan ngay: “Chúa ẩn mặt đi, chúng rụng rời kinh hãi; lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay, mà trở về cát bụi. Sinh khí của Ngài, Ngài gửi tới, là chúng được dựng nên” (Tv 104:29-30). Biết chắc như vậy, tác giả Thánh Vịnh luôn mong chờ Thiên Chúa đến và luôn tha thiết cầu xin: “Lạy Chúa Tể càn khôn, xin trở lại, tự cõi trời, xin ngó xuống mà xem, xin Ngài thăm nom vườn nho cũ, bảo vệ cây tay hữu Chúa đã trồng, và chồi non được Ngài ban sức mạnh” (Tv 80:15-16).

Cá lớn nuốt cá bé, cuộc đời cũng luôn có những điều bất công, chỉ khổ cho những người ngước đầu không nổi vì thấp cổ, la lớn không nổi vì bé miệng, có la khàn giọng cũng chẳng ai thèm nghe. Không chỉ vậy, họ còn bị những người có quyền lực đè đầu, bóp cổ và bịt miệng. Họ bị tước mất quyền căn bản nhất của con người: Quyền sống. Và họ chỉ còn biết trông cậy vào Thiên Chúa: “Xin giơ tay bênh vực Đấng đang ngồi bên hữu là con người được Chúa ban sức mạnh. Chúng con nguyền chẳng xa Chúa nữa đâu, cúi xin Ngài ban cho được sống, để chúng con xưng tụng danh Ngài” (Tv 80:18-19).

Chúng ta cũng đã từng bị như vậy, cách này hoặc cách khác, cả đời lẫn đạo. Đặc biệt là chúng ta bị thế lực bóng tối ma quỷ chèn ép. Thánh Phaolô bày tỏ với cộng đoàn Côrintô: “Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giêsu Kitô ban cho anh em ân sủng và bình an. Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Kitô Giêsu” (1 Cr 1:3-4).

Thánh Phaolô không chỉ nói đến khoảng mong chờ của Mùa Vọng, mà mạnh mẽ đề cập cuộc tái lâm của Thiên Vương Giêsu Kitô: “Quả vậy, trong Đức Kitô Giêsu, anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện, phong phú vì được nghe lời Chúa và hiểu biết mầu nhiệm của Người. Thật thế, lời chứng về Đức Kitô đã ăn sâu vững chắc vào lòng trí anh em, khiến anh em không thiếu một ân huệ nào, trong lúc mong đợi ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mặc khải vinh quang của Người. Chính Người sẽ làm cho anh em nên vững chắc đến cùng, nhờ thế không ai có thể trách cứ được anh em trong Ngày của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa là Đấng trung thành, Người đã kêu gọi anh em đến hiệp thông với Con của Người là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (1 Cr 1:6-9).

Ngày đó không ai biết lúc nào, thuộc tương lai xa hay gần, vì thế mà chúng ta phải luôn canh thức và trông mong, tức là phải luôn “coi chừng” – coi chừng tiên tri giả, coi chừng những kẻ lừa bịp, coi chừng những tà thuyết, coi chừng những kẻ phản Kitô, coi chừng các tin đồn nhảm, cẩn thận với các “sự lạ”,… Đúng như tiền nhân nói: “Cẩn tắc vô ưu”. Đồng thời chúng ta phải quyết tâm: “Dù ai nói ngả nói nghiêng, tôi đây vẫn vững như kiềng ba chân”. Hãy vững tin vào những điều Chúa Giêsu đã dạy!

Trình thuật Tin Mừng theo Thánh Mác-cô ngắn gọn nhưng súc tích. Chúa Giêsu mạnh mẽ cảnh báo:“Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến” (Mc 13:33). Ngài dùng hình ảnh cụ thể đời thường: “Cũng như người kia trẩy phương xa, để nhà lại, trao quyền cho các đầy tớ của mình, chỉ định cho mỗi người một việc, và ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức” (Mc 13:34). Rồi Ngài căn dặn: “Vậy anh em phải canh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến: Lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng. Anh em phải canh thức, kẻo lỡ ra ông chủ đến bất thần, bắt gặp anh em đang ngủ. Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là: phải canh thức!” (Mc 13:35-37).

Chỉ một đoạn văn ngắn mà có tới 4 từ “canh thức”, 1 từ “coi chừng” và 1 từ “tỉnh thức”. Tất cả đều ở thể mệnh lệnh cách: PHẢI. Điều đó cho thấy sự cấp bách của việc tỉnh thức mong chờ Đức Giêsu Kitô. Lá vàng hoặc xanh cũng có thể rụng bất cứ lúc nào. Thời gian rụng cũng không ai biết: Sáng sớm, trưa, chiều, tối, khuya hoặc nửa đêm về sáng. Thực tế này quá rõ ràng, ai cũng biết.

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết tỉnh thức mà mong chờ Ngài đến bất cứ lúc nào. Xin canh giữ chúng con trước mọi mánh khóe của cuộc đời này. Lạy Ngôi Hai Thiên Chúa, xin mau đến giải thoát chúng con. Người là Đấng hằng sinh và hiển trị cùng với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.

TRẦM THIÊN THU
Giao thừa Xuân Cứu Độ – 2015

Thời Cuối: Hồi Giáo cực đoan chặt đầu công khai người dân

TIN CẬP NHẬT TRUNG ĐÔNG: TỔ CHỨC NHÀ NƯỚC HỒI GIÁO CỰC ĐOAN CHẶT ĐẦU CÔNG KHAI NGƯỜI DÂN

Một cảnh tượng kinh hoàng vừa được phát tán lên mạng 02/12/2014 qua một video quay cảnh bọn máu lạnh hồi giáo ISIS cầm dao phay chặt đầu những thanh thiếu niên dưới sự chứng kiến của hàng trăm người dân có cả trẻ em nhỏ tuổi, khung cảnh được mô tả dường như là Syria. Xin dâng lời cầu nguyện cho những người ACE của chúng ta hằng ngày vẫn đang chịu đau khổ chết chóc.
KÍNH LẠY MÁU VÀ NƯỚC ĐÃ TUÔN TRÀO TỪ THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU NHƯ THÁC NGUỒN THƯƠNG XÓT CHÚNG CON, CON XIN TÍN THÁC LINH HỒN ACE CON VÀO CHÚA. Amen

" Và trước mặt người đời, dầu các ngài đã chịu khổ hình, lòng cậy trông của các ngài cũng không chết. Sau một giây lát chịu khổ nhục, các ngài sẽ được vinh dự lớn lao: vì Chúa đã thử thách các ngài như thử vàng trong lửa, và chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu.

Khi đến giờ Chúa ghé mắt nhìn các ngài, các người công chính sẽ sáng chói và chiếu tỏ ra như ánh lửa chiếu qua bụi lau. Các ngài sẽ xét xử các dân tộc, sẽ thống trị các quốc gia, và Thiên Chúa sẽ ngự trị trong các ngài muôn đời. Các ngài đã tin tưởng ở Chúa, thì sẽ hiểu biết chân lý, và trung thành với Chúa trong tình yêu, vì ơn Chúa và bình an sẽ dành cho những người Chúa chọn." (Trích sách Khôn Ngoan)

Dấu hiệu thời tận cùng: Cá, Cua, Chim, Rùa, Gia Cầm và nhiều sinh vật tiếp tục chết hàng loạt

CÁ, CUA, CHIM TRỜI, RÙA, GIA CẦM VÀ NHIỀU SINH VẬT TIẾP TỤC CHẾT HÀNG LOẠT VÔ SỐ KỂ KHẮP NƠI TRÊN THẾ GIỚI.
Chỉ trong vòng từ 10/2014 cho đến nay, khoảng 40 tấn cá lại phát hiện chết tại sông Tiete, Brazil. Hàng trăm con cá chết nổi khắp hồ Zigong, Trung Quốc. 400.000 con cá hồi chết ở Puerto Natales, Chile. Hàng ngàn con cá chết ở ao thuộc Bangkok, Thailand. Ở Indonesia, Wonogiri Regency và Pangkajene có hàng ngàn con cá, lươn, ốc chết. 425 con hải cầu và 15 triệu con ốc chết ở Thụy điển. Hàng trăm con hải cẩu chết dọc theo một bờ biển Đức, tương tự ở Hà Lan và Đan Mạch. Hàng ngàn con cá - chim- rùa chết ở Italy. Dịch cúm bùng phát ở Yorkshire, Anh khiến 6000 con vịt chết. Tại bờ biển Sechura, Peru phát hiện 187 con sư tử biển và 50 bồ nông chết....Tại Đức, Mỹ, New Zealand, Mexico, Sri Lanka, Ấn Độ và nhiều khu vực khác trên thế giới. (AP)

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

Tuần Cửu Nhật Kính Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội

Tuần Cửu Nhật Kính Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội

Bắt đầu bất cứ lúc nào trong năm.
Tuần Cửu Nhật Kính Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội
(Mẫu Ảnh Ðức Mẹ Hay Làm Phép Lạ)

Lạy Ðức Mẹ Ma-ri-a Vô Nhiễm Nguyên Tội, là Mẹ của Thiên Chúa và là Mẹ của chúng con, lòng tràn ngập niềm tin tưởng sâu xa vào sự chuyển cầu đầy quyền phép và hữu hiệu mà Mẹ đã thương biểu lộ qua Mẫu Ảnh Hay Làm Phép Lạ, chúng con khẩn cầu Mẹ xin cùng Con của Mẹ là Ðức Giê-su Ki-tô, những hồng ân và đặc ân mà chúng con cầu xin, nếu điều đó có thể giúp chúng con lớn lên trong Tình Yêu Chúa và tha nhân. Amen! Lạy Mẹ Ma-ri-a Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cầu cho chúng con hằng chạy đến kêu xin.

(Ðể có thể làm Tuần Cửu Nhật này theo đúng tinh thần của Thánh Nữ Catherine Labouret, chúng ta hãy xin cùng chị cho chúng ta có được một chút tấm lòng hiếu thảo đậm đà của chị đối với Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a, và nhất là, noi gương chị, chúng ta cũng biết tin vào Tình Mẫu Tử của Mẹ đối với tất cả chúng ta.)

Ngày Thứ 1:
Mẹ hiện ra lần thứ nhất từ ngày 18 đến 19/07/1830

"Hãy đến nơi chân bàn thờ này, bên cạnh Chúa Giê-su, Con của Ta, các con sẽ tìm thấy ánh sáng và sức mạnh." Ðức Ma-ri-a lại nói với chúng ta về tình thương Thiên Chúa dành cho chúng ta. Mẹ mời gọi chúng ta theo gót Chúa Ki-tô, hiểu biết điều Chúa chờ đợi nơi chúng ta.

Xin Mẹ Ma-ri-a hãy dẫn đưa chúng con đến cùng Ðức Giê-su Ki-tô. Xin Mẹ giúp chúng con sống đời chứng tá Tình Yêu giữa cuộc đời hôm nay.

Kinh Lạy Cha - Kinh Kính Mừng - Kinh Sáng Danh.
Lạy Mẹ Ma-ri-a Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cầu cho chúng con hằng chạy đến kêu xin Mẹ.

Ngày Thứ 2:
Mẹ hiện ra lần thứ hai vào ngày 27/11/1830

"Tôi đã thấy Ðức Trinh Nữ... Ngài cầm trên tay một hình tròn, trên có hình Thánh Giá nhỏ. Tôi đã nghe tiếng phán bảo: Hình tròn này tượng trưng cho toàn thể thế giới, và mỗi người cách riêng." Thiên Chúa đã tạo dựng thế giới vì lòng yêu thương, ngõ hầu loài người sống nhờ vào tình thương đó.

Xin Mẹ Ma-ri-a dạy cho chúng con biết rằng: mọi người, không phân biệt ai, đều được kêu gọi vào làm dân Chúa.

Kinh Lạy Cha - Kinh Kính Mừng - Kinh Sáng Danh.
Lạy Mẹ Ma-ri-a Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cầu cho chúng con hằng chạy đến kêu xin Mẹ.

Ngày Thứ 3:
Lạy Mẹ Ma-ri-a Vô Nhiễm Nguyên Tội

Khi trao lại cho thế giới dấu chỉ mà Ðức Ma-ri-a mang đến, Thánh Nữ Catherine Labouret, đã hoàn tất sứ mạng là: làm cho cả thế giới biết Mẹ là Ðức Nữ Trinh Vô Nhiễm Nguyên Tội. Cùng với Thánh Nữ Catherine Labouret, chúng con chiêm ngắm Mẹ Ma-ri-a là Mẹ rất tinh tuyền của Thiên Chúa.

Kinh Lạy Cha - Kinh Kính Mừng - Kinh Sáng Danh.
Lạy Mẹ Ma-ri-a Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cầu cho chúng con hằng chạy đến kêu xin Mẹ.

Ngày Thứ 4:
Xin cầu cho chúng con hằng chạy đến kêu xin Mẹ

"Hãy cho đúc một Mẫu Ảnh theo kiểu này." Ðức Ma-ri-a được liên kết với Ðức Giê-su vào công trình Cứu Ðộ. Mọi ân huệ đều đến bởi Ðức Giê-su và bởi Người mà thôi, chỉ mình Người là Ðấng Cứu Ðộ và là Trung Gian duy nhất.

Xin Ðức Ma-ri-a nhậm lời chúng con cầu xin, và cũng không ngừng nhắc cho chúng con nhớ rằng: Con của Mẹ có thể làm được tất cả.

Xin dạy chúng con biết xin những ân huệ luôn cần thiết cho chúng con.

Kinh Lạy Cha - Kinh Kính Mừng - Kinh Sáng Danh.
Lạy Mẹ Ma-ri-a Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cầu cho chúng con hằng chạy đến kêu xin Mẹ.

Ngày Thứ 5:
Chân Mẹ tựa trên quả cầu trắng, trên đó có một con rắn

Tội lỗi của loài người là khước từ tình yêu. Ðó là sự bất công, bạo lực, tính ích kỷ, sự chà đạp những người nhỏ bé. Con rắn chính là biểu tượng cho tất cả những điều ấy! Lạy Mẹ Ma-ri-a, xin giúp chúng con chống trả sự dữ ấy đang ở trong chúng con và chung quanh chúng con.

Xin giúp chúng con biết nói như Mẹ: Xin Vâng cùng Thiên Chúa.

Kinh Lạy Cha - Kinh Kính Mừng - Kinh Sáng Danh.
Lạy Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cầu cho chúng con hằng chạy đến kêu xin Mẹ

Ngày Thứ 6:
Tôi Ðã Thấy Phía Sau Mẫu ảnh Có Chữ M, Ở Trên Có Hình Thánh Giá

Ðây là điều mà mặt sau của Mẫu Ảnh giải thích: Con Thiên Chúa làm người cứu chuộc chúng ta nhờ cái chết trên Thập Giá và cuộc Phục Sinh của Người. Mẹ Ma-ri-a có một chỗ đặc biệt kề bên Con của mình. Mẹ không rời khỏi Ðức Giê-su mà Mẹ đã trao ban cho chúng ta và dẫn chúng ta đến với Người. Cùng với Ðức Giê-su, Mẹ đã chịu đau khổ vì chúng ta.
Lạy Mẹ Ma-ri-a là Mẹ của Thiên Chúa, xin cầu bầu cùng Chúa cho chúng con.

Kinh Lạy Cha - Kinh Kính Mừng - Kinh Sáng Danh.
Lạy Mẹ Ma-ri-a Vô Nhiễm Nguyên Tội , xin cầu cho chúng con hằng chạy đến kêu xin Mẹ

Ngày Thứ 7:
Phía dưới là hai quả tim của Chúa Giêsu và Mẹ Ma-ri-a

Trái Tim của Ðức Giê-su có vòng gai chung quanh nhắc nhở chúng ta rằng: cuộc Thương Khó của Ðức Giê-su chính là sự biểu lộ cao cả Tình Yêu Thiên Chúa. Trái Tim của Ðức Ma-ri-a gợi cho chúng ta ý nghĩ Mẹ luôn liên kết với Tình Yêu Cứu Chuộc này.

Kinh Lạy Cha - Kinh Kính Mừng - Kinh Sáng Danh.
Lạy Mẹ Ma-ri-a Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cầu cho chúng con hằng chạy đến kêu xin Mẹ

Ngày Thứ 8:
Mười hai ngôi sao chung quanh

Các ngôi sao tượng trưng các Tông Ðồ của Giáo Hội là chính chúng ta.
Lạy Mẹ Ma-ri-a, trong Giáo Hội lữ hành, xin Mẹ hãy giúp chúng con trở thành Tông Ðồ và mang đến cho thế giới sứ điệp của Mẫu Ảnh Ðức Mẹ Hay Làm Phép Lạ, sứ điệp của Ðức Tin, Ðức Cậy và Ðức Mến.

Kinh Lạy Cha - Kinh Kính Mừng - Kinh Sáng Danh.
Lạy Mẹ Ma-ri-a Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cầu cho chúng con hằng chạy đến kêu xin Mẹ

Ngày Thứ 9:
Mẫu Ảnh Ðức Mẹ Hay Làm Phép Lạ, một "dấu chỉ" loan báo Tin Mừng,

Một sứ điệp cho đời sống chúng ta:
Ðức Ma-ri-a Vô Nhiễm Nguyên Tội, Mẹ Thiên Chúa, liên kết chặt chẽ với Ðức Ki-tô. Mẹ trao ban Chúa cho chúng ta và dẫn đưa chúng ta đến với Người.

Lạy Mẹ Ma-ri-a Vô Nhiễm Nguyên Tội, Mẹ của chúng con, xin cầu bầu cho chúng con. Lạy Mẹ Ma-ri-a, Mẹ của Giáo Hội, trong sự hiệp thông với các Tông Ðồ, xin giúp chúng con trở thành những chứng nhân sống động của Tin Mừng Ðức Ki-tô Phục Sinh cho thế giới hôm nay. Lạy Mẹ Ma-ri-a, Mẹ của Giáo Hội, xin giúp chúng con hiểu biết sứ điệp của Mẹ và đem vào thực hành trong đời sống chúng con.

Kinh Lạy Cha - Kinh Kính Mừng - Kinh Sáng Danh.
Lạy Mẹ Ma-ri-a Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cầu cho chúng con hằng chạy đến kêu xin Mẹ

Lạy Mẹ Ma-ri-a, trong ngày Lễ Hiện Xuống, Mẹ đã tham dự vào ngày khai sinh của Giáo Hội:

• Xin Mẹ giúp chúng con biết tham gia vào đời sống của Giáo Hội.
• Xin giúp chúng con biết xây dựng một thế giới mới đầy tình huynh đệ.
• Thiên Chúa cần đến trí thông minh của chúng con để hiểu rõ cuộc sống hơn.
• Thiên Chúa cần đến trái tim chúng con để yêu thương những người thân cận.
• Thiên Chúa cần đôi bàn tay chúng con để phục vụ những ai cần giúp đỡ.
• Thiên Chúa cần đôi chân chúng con để đến với những ai bị bỏ quên...