Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

Tỉnh thức và cầu nguyện

TỈNH THỨC VÀ CẦU NGUYỆN
Thức tỉnh là “đánh thức” mình dậy trong cơn mê ngủ,… cầu nguyện chính là những “bậc thang” đưa ta lên với Chúa.
Cha Anthony de Mello là một linh mục dòng Tên, người Ấn Độ. Cha rất nổi tiếng với những câu truyện có tính cách ẩn dụ về đời sống tu đức. Năm 1992, cha xuất bản cuốn sách mang tựa đề “Thức Tỉnh.” Trong đó, cha đãkể câu truyện ngụ ngôn như sau:
Ngày kia, một con sư tử đến gần một đàn cừu và nó rất đỗi ngạc nhiên khi nhận ra ở giữa đàn cừu có một con sư tử. Con sư tử này vốn được đàn cừu nuôi dưỡng từ khi còn bé. Nó cũng kêu be be và chạy quanh quẩn như một chú cừu. Con sư tử “khách” tiến thẳng tới chỗ nó. Khi đối diện với sư tửthật, chú sư tử “cừu” run lẩy bẩy, hết sức sợ hãi. Sư tử thật bảo nó: “Chú mày làm gì ở giữa đàn cừu này?” Sư tử “cừu” trả lời ngay: “Tôi là một con cừu.” Sư tử thật bảo nó: “Ồ, không phải thế đâu, chú mày hãy theo tao.” Thế là, nó đưa chú sư tử “cừu” đến một ao nước và bảo: “Chú mày hãy nhìn đi nào!” Vừa trông thấy hình ảnh mình phản chiếu trên mặt nước, sư tử “cừu” gầm lên một tiếng vang dội. Ngay lúc đó, nó thức tỉnh và nhận ra nó chính là con sư tử dũng mãnh, chứ không phải là chỉ là một con cừu nhát đảm (Nguyên tác: AWARENESS, 1992).
Khi kể câu truyện đó, cha Anthony de Mello muốn nói rằng: “thức tỉnh” có nghĩa là “giác ngộ” (danh từ nhà Phật), hay “phản tỉnh” (danh từ triết học): nhận ra mình là ai, nhận thức con đường mình đang đi, đón nhận ánh sángđể biết đâu là chân lý phải theo. Thức tỉnh là “đánh thức” mình dậy trong cơn mê ngủ. Thức tỉnh luôn là thái độ khôn ngoan người tín hữu phải có khi sống ở trần gian. Tuy nhiên, để có thể “thức tỉnh”, con người cần “tỉnh thức” như lời Chúa dạy hôm nay.
Bài Tin Mừng theo thánh Marcô chúng ta vừa nghe tuy ngắn ngủi, nhưng Chúa Giêsu đã nhắc đến bốn lần hai chữ “tỉnh thức.” Điều đó cho thấy sựtỉnh thức luôn luôn quan trọng và cần thiết trong đời sống kitô hữu. Tuy nhiên, người tín hữu không tỉnh thức trong thất vọng và buồn sầu, trong trống rỗng và vô nghĩa. Trái lại, họ tỉnh thức trong hy vọng và niềm vui, trong đời sống cầu nguyện và tinh thần phục vụ.
Tỉnh thức trong hy vọng và niềm vui
Khi bước vào mùa Vọng, bầu trời phụng vụ như tối lại với một màu tím ảmđạm. Thực ra, màu tím của phụng vụ mùa Vọng là “gam” màu nói lên sựtrầm lắng của sự đợi chờ, ngóng trông. Giữa màu tím sâu lắng, vẫn ẩn giấu một màu xanh hy vọng và vui tươi. Màu tím của mùa Vọng hướng ta đến một tương lai sáng ngời, một khát vọng khôn nguôi. Vì thế, mùa Vọng là thời gian tràn trề hy vọng và niềm vui trong khi mong chờ Chúa đến.
Mùa Vọng nhắc ta hãy tỉnh thức để chờ đợi Chúa đến. Ngài không chỉ đến trong ngày lễ Giáng Sinh mà thôi. Ngài còn đến trong ngày Quang Lâm. Ngài đến trong giờ sau hết của cuộc sống. Ngài đến trong từng phút giây của cuộc sống hiện tại. Dù Chúa đến vào lúc nào hay bằng cách nào, Ngài luôn đem lại sự hân hoan và niềm tin yêu cho cuộc sống. Cho dẫu quá khứ của chúng ta đầy đắng cay, hiện tại nhiều thử thách, tương lai thật đen tối, Chúa vẫn là đích điểm hạnh phúc cho chúng ta vươn tới. Vì vậy, trong mỗi giây phút của mùa Vọng, cũng như trong suốt năm phụng vụ mới, chúng ta hãy xin Chúa hãy đổ tràn đầy niềm tin yêu và hy vọng vào tâm hồn chúng ta. Nhờ vậy, cuộc đời chúng ta luôn tràn ngập hạnh phúc và bình an.
Tỉnh thức trong thinh lặng và cầu nguyện
Trong vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu đã tỉnh thức và cầu nguyện với Chúa Cha trong lo buồn sầu não. Giữa lúc đó, các tông đồ lại ngủ mê mệt. Chúa Giêsu nói với thánh Phêrô: “Các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ” (Mt 26, 41). Tuy nhiên, mặc cho Chúa tha thiết nhắn nhủ, các tông đồ vẫn đắm chìm trong giấc ngủ say. Cuối cùng, vì không tỉnh thức và cầu nguyện, thánh Phêrô đã sa ngã phạm tội, đã chối Thầy ba lần (Mt 26, 74).
Phải chăng Chúa Giêsu đã thấy trước lỗi lầm của thánh Phêrô? Vì vậy, Ngài đã căn dặn các môn đệ, cũng là nhắc nhở chúng ta: “Hãy tỉnh thức, vì các con không biết lúc nào chủ nhà trở về, hoặc là chiều tối, hoặc là nửađêm, hoặc lúc gà gáy, hay ban sáng.” Bài học của thánh Phêrô cũng là bài học cho chúng ta ngày nay. Nếu không tỉnh thức và cầu nguyện, chúng ta dễ dàng vấp ngã trên đường đời.
Tỉnh thức không phải là thời gian chờ đợi trong sự trống rỗng và vô nghĩa. Tỉnh thức chỉ đem lại ích lợi khi đi kèm với cầu nguyện, như lời Chúa kêu gọi: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện.” Như thế, trong suốt “mùa vọng” đời người tín hữu, cầu nguyện chính là những “bậc thang” đưa ta lên với Chúa. Vì cầu nguyện là hướng lòng lên với Chúa để gặp gỡ Chúa. Cầu nguyện còn là nhịp cầu bắc qua dòng sông khổ ải, đưa ta đến với Chúa. Tóm lại, sống mùa vọng là hòa mình vào bầu khí cầu nguyện, nghĩa là bước vào tương quan sống động và thân tình với Thiên Chúa.
Tỉnh thức với đời sống phục vụ khiêm tốn
Mùa Vọng cũng là thời gian chúng ta sống tâm tình của người gia nhân đợi chủ đi ăn cưới về (Lc 12, 35 – 40). Người gia nhân ấy luôn thắt lưng và cầm đèn cháy sáng trong tay. Đó chính là tư thế của người luôn sẵn sàng phục vụ trong khiêm tốn. Qua đời sống phục vụ, chúng ta còn gặp gỡ Chúađang hiện diện nơi những người mà ta phục vụ. Vì khi ta yêu mến và phục vụ người anh em bé mọn là ta yêu mến và phục vụ chính Chúa (Mt 25, 31 – 46).
Mùa Vọng là thời gian chờ đợi Chúa đến. Nhưng đó không phải là thời gian nhàn rỗi, vô vị và nhàm chán. Nhưng đó là thời gian gieo vãi cực khổcủa bác nông phu, thời gian ươm tơ vất vả của con tằm, thời gian làm việc liên lỉ của người gia nhân. Tỉnh thức chỉ có ý nghĩa khi ta biết ta đang chờđợi ai và chờ đợi gì, để sẵn sàng lấp đầy khoảng trống chờ đợi bằng những việc làm tốt lành. Tỉnh thức không phải là nghỉ ngơi, nhưng là hoạt động và hoạt động không ngừng.
Bài đọc I, trích sách tiên tri Isaia dạy ta cách tỉnh thức để chờ đợi Chúa: Hãy trở thành miếng đất sét trong tay người thợ gốm là Thiên Chúa. Miếngđất sét chịu lệ thuộc trong tay người thợ gốm, sẽ trở thành vật dụng hữu ích, thậm chí trở thành một kiệt tác nữa. Chúng ta cũng hãy trở nên ngoan ngùy trong tay Chúa, để Người uốn nắn ta dưới ngọn lửa nung đốt của Chúa Thánh Thần.
Trong bài đọc II, trích thư thứ I gửi tín hữu Côrintô, thánh Phaolô nhắc nhởngười tín hữu chân tình và thực tế hơn: hãy sống xứng đáng với ân sủng Thiên Chúa ban, để khi Chúa lại đến, họ không có gì phải bị khiển trách.
Những biến cố bi thảm xảy ra trên thế giới thường gắn liền với hai chữ “bất ngờ”:
· Ngày 7/12/1941, quân đội Nhật Bản đã bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng, căn cứ hạm đội Thái Bình Dương của Hải Quân Mỹ, khiến nước Hoa Kỳ gánh chịu tổn thất và nhục nhã lớn lao chưa từng thấy.
· Ngày 15/8/1945, nước Hoa Kỳ giáng đòn thù xuống nước Nhật. Hai trái bom nguyên tử bất ngờ thả xuống hai thành phố Hirôshima và Nagasaki đ san bằng tất cả. Nước Nhật ngơ ngác và bàng hoàng, sau đó, đã đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện.
· Ngày 11/9/2001, tòa tháp đôi của Trung Tâm Thương Mại Thế Giới ở New York, nước Hoa Kỳ bất ngờ sụp đổ vì khủng bố, khiến 3000 người thiệt mạng. Cả thế giới rúng động!
· Ngày 26/12/2004, sóng thần và động đất đã bất ngờ xảy ra tại vùng Nam Á, cướp đi sinh mạng của gần 300 ngàn người. Mọi người kinh hoàng!
Hai chữ “bất ngờ” luôn gắn liền với cuộc sống con người. Hôm nay, Chúa nhắc nhở chúng ta: “Các con hãy sẵn sàng, vì vào lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến.” Trong mùa vọng cũng như trong suốt cuộc đời, ta hãy luôn tỉnh thức và cầu nguyện, để chờ đợi Chúa đến. Mãi mãi, Ngài là hy vọng và là niềm vui cho mỗi người chúng ta và cho thế giới hôm nay.

ĐGM Bùi Tuần: Sự cứng lòng và mù quáng đang xảy ra kể cả nơi một số người có trách nhiệm trong Hội Thánh

Sống đức tin _ bất ổn và bất ngờ

NHỮNG BẤT ỔN VÀ NHỮNG BẤT NGỜ

Hình như biến cố đớn đau đã bắt đầu rồi, đó là sự cứng lòng và mù quáng đang xảy ra nơi nhiều người, kể cả nơi một số người có trách nhiệm trong Hội Thánh Việt Nam lúc này. 
ĐGM. GB Bùi Tuần

1. Từ ít lâu nay, mỗi tối, khi lên giường ngủ, tôi lại tự nghĩ: không biết sáng mai mình còn thức dậy không? Tôi đã nghĩ như vậy, là vì sức khỏe của tôi rất bất ổn, cho nên mọi thứ bất ngờ thuộc về sự chết đều có thể xảy ra cho tôi. Tôi không bi quan, nhưng tôi chuẩn bị cho những bất ngờ một cách bĩnh tĩnh bằng đức tin.
Kinh nghiệm sống động trên đây của bản thân giúp tôi nhìn lịch sử một cách tỉnh thức hơn
2. Ở đâu, cuộc sống con người có những bất ổn nặng nề kéo dài về nhiều mặt, do đó lòng người cũng bất an dưới nhiều hình thức và nhiều mức độ, thìnhững bất ngờ sẽ xảy ra. Thường những bất ngờ đó sẽ gây nên tang tóc. Đó là về mặt xã hội.
3. Ở đâu, cuộc sống có vẻ ổn định theo cái nhìn của nhiều người, nhưng trước mặt Chúa lại là rất bất ổn, do tội lỗi lộng hành, thì những bất ngờ sẽ xảy ra. Những bất ngờ đó thường là những sụp đổ, những tàn phá, như những hình phạt, gây nên đau đớn kinh hoàng. Chúa đã báo trước, nhưng người ta không tin. Nên kết quả sẽ rất thảm hại.
4. Ở đây, suy nghĩ của tôi xin được giới hạn trong lĩnh vực đức tin.
Về những hình phạt khủng khiếp sẽ xảy ra bất ngờ ngay tại đời này cho những người theo đạo Chúa, thì tôi thường suy gẫm hai đoạn Phúc âm sau đây.
5. Đoạn Phúc âm thứ nhất là của Thánh Luca:
Khi đến gần Giêrusalem và trông thấy thành, Ðức Giêsu khóc thương mà nói: "Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! "Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được. Thật vậy, sẽ tới những ngày quân thù đắp luỹ chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái đang ở giữa ngươi, và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm". (Lc 19, 41-44)
6. Đoạn Phúc âm thứ hai là của Thánh Matthêu:
"Giêrusalem, Giêrusalem! Ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi! Ðã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu. (38) Thì này, nhà các ngươi sẽ bị bỏ hoang mặc cho các ngươi. (39) Thật vậy, Ta nói cho các ngươi hay, từ nay các ngươi sẽ không thấy Ta nữa, cho đến khi các ngươi nói:
Chúc tụng Ðấng ngự đến nhân danh Ðức Chúa!" (Mt 23, 37-39)
7. Trong cả hai đoạn Phúc âm trên đây, Chúa Giêsu đều nói đến hình phạt nặng nề sẽ xảy ra cho Giêrusalem ngay ở đời này, vì tội thành này đã phạm tới các tiên tri, phạm đến chính Chúa Giêsu và không biết đón nhận ơn Chúa.
Nghĩa là những bất ổn do tội lỗi trước mặt Chúa đã xảy ra trước. Sau đó sẽ là những hình phạt đổ xuống bất ngờ một cách khủng khiếp.
8. Những gì Chúa Giêsu đã nói về thành Giêrusalem đều đã xảy ra. Từ đó, tôi nghĩ về Hội Thánh tại Việt Nam nói chung và từng giáo phận, giáo xứ tại Việt Nam nói riêng.
Tôi thấy tình hình bất ổn do tội lỗi đang là một sự thực hiển nhiên ở nhiều nơi. Cũng có những ổn định, nhưng là ổn định giả tạo. Có những trấn an: “mọi sự đều tốt đẹp, không sao đâu”. Nhưng đó là những trấn an ru ngủ trên những thành công giả tạo, mà trong Phúc âm, Chúa đã khẳng định: “chúng bay đã được thưởng công rồi” (Mt 6, 2.5.16), hoặc: “ Ta không biết các ngươi” (Ga 7,23).
9. Nếu phải nêu lên những gì đang gây nên bất ổn nguy hiểm trong Hội Thánh, làm nên tội lỗi, thì tôi xin được nêu lên hai ý kiến sau đây.
10. Ý kiến thứ nhất là của Đức Hồng Y Roger Etchegary. Theo ngài, thì có ba bất ổn lớn hiện nay, đó là ba ưu tiên xấu sau đây trong Hội Thánh:
Ham tiền bạc,
Ham thành công,
Ham thỏa hiệp với các vị thần có quyền lực và giàu có.
(Xem L’homme, à quel prix. 2012)
11. Ý kiến thứ hai là của Đức Cha Michel Dubost. Ngài dựa trên Công đồng Vatican II. Theo ngài, thì có hai bất ổn rất lớn trong Hội Thánh hiện nay.
Một là thiếu thiện chí và thiếu khả năng chia sẻ trong tình liên đới những gì đang xảy ra trong lòng những người nghèo khổ, cùng với niềm vui và hy vọng của họ.
Hai là thiếu sự cố gắng đổi mới trái tim con người là nơi không những xảy ra những buồn vui và hy vọng, mà cũng có những dấu vết của tiếng Chúa gọi. ( Xem Une foi qui agit. 2013)
12. Chỉ dựa vào những ý kiến có thế giá trên đây mà thôi, để nhìn vào Hội Thánh Việt Nam hiện giờ, tôi cũng thấy tình hình đó đây rõ ràng là bất ổn. Những bất ổn đó đang làm biến chất đạo Chúa. Biến chất càng trở thành trầm trọng, khi thấy các phong trào xấu đang mạnh lên, tràn vào Hội Thánh, như phong trào tục hóa, phong trào hưởng thụ, phong trào tự do quá trớn, phong trào phản kháng cực đoan,vv.
Vậy, nếu những bất ổn hiện nay trong Hội Thánh Việt Nam đang trở nên nặng nề và nguy hiểm, không dừng lại được, thì sẽ có những bất ngờ xảy ra. Tôi nghĩ tới những biến cố đớn đau.
13. Hình như biến cố đớn đau đã bắt đầu rồi, đó là sự cứng lòng và mù quáng đang xảy ra nơi nhiều người, kể cả nơi một số người có trách nhiệm trong Hội Thánh Việt Nam lúc này. Đó chỉ là khởi đầu. Vì thế, mà tôi lo sợ.
14. Tuy tôi lo sợ, nhưng vẫn tin tưởng vững vàng ở Chúa. Chúa hứa: “ Cha sẽ ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
Tôi xin làm chứng về điều hứa trên đây của Chúa Giêsu. Tôi thực sự được Chúa ở với tôi mọi ngày, mọi giờ, mọi phút. Tôi được Chúa chia sẻ, được Chúa cứu, được Chúa yêu thương, được Chúa đỡ nâng dắt dìu trong mọi hoàn cảnh. Tôi xin hết lòng cảm tạ Chúa. Cảm tạ của tôi ở trong sự khiêm nhường dấn thân của Đức Mẹ. Cảm tạ của tôi ở trong sự tỉnh thức sâu thẳm của Thánh Giuse.
Lạy Chúa, bất ngờ lớn nhất đối với con là tình yêu thương xót Chúa.
Long Xuyên 27.11.2014

Dấu hiệu thời cuối: Lụt lớn ở Pháp, 5 người thiệt mạng

VOV.VN - Đây là trận lũ lụt nghiêm trọng nhất trong năm xảy ra tại miền nam nước Pháp khiến hàng ngàn người phải sơ tán.
Trong 5 người thiệt mạng, có một cụ ông 73 tuổi, bị tử vong do suy tim khi đang cố giữ chiếc xe ô tô khỏi bị chìm trên một tuyến đường bị ngập sâu trong nước tại Rivesaltes.

Lũ lụt đã khiến khoảng 2800 trăm người sinh sống dọc theo bờ sông Agly tại Pyrénées-Orientales phải sơ tán. Ngoài ra, khoảng 560 người khác tại Canet, Argeles-sur-Mer và Barcares bên bờ Địa Trung Hải cũng phải rời bỏ nhà cửa. Trận lũ này được coi là nghiêm trọng hơn cả trận lũ xảy ra vào năm 1999.

Trước đó, đã có 4 người thiệt mạng và 1 bé gái bị mất tích sau khi các trận bão mạnh trong 2 ngày 27 và 28/11 gây ra lũ quét, làm đổ cây cối và khiến nhà cửa bị hư hỏng.

Năm 1999, đã xảy ra trận lũ nghiêm trọng ở sông Berre, miền nam nước Pháp đã làm 35 người thiệt mạng và 1 người mất tích./.
Hồng Anh/ VOV- Trung tâm TinTheo Omantribune

Khiêm nhường quá nhưng không đúng ý Chúa: Đức Phanxicô xin Thượng Phụ Bartholomaios chúc lành

Đức Thánh Cha đã xin Thượng Phụ Bartholomaios chúc lành
Ngài đã cúi đầu trước thượng phụ trong buổi canh thức đại kết cầu nguyện với Thánh Anrê
Đức Thánh Cha Phanxicô đã cúi đầu trước Thượng Phụ đại kết Constantinople, Bartholomaios I ngày 29 tháng 11, 2014, vào ngày thứ hai của chuyến tông du Thổ Nhĩ Kỳ. Ngài nói: “Tôi xin ngài ban phép lành cho tôi và cho Giáo Hội Rôma.”

Vào buổi tối hôm nay, Đức Thánh Cha và Thượng Phụ đã cùng tham dự một buổi cầu nguyện đại kết tại nhà thờ chánh tòa Thánh Georges thành Phanar, trụ sở của Tòa Thượng Phụ Đại Kết Constantinople, tại Istanbul. Đức Thánh Cha đã được đón chào bằng tiếng chuông đại lễ rộn ràng để đánh dấu biến cố này.

Buổi lễ được soạn thảo đặc biệt cho dịp này, dưới hình thức các lời cầu xin cho Đức Thánh Cha, cho Thượng Phụ và cho sự hiệp nhất của các Giáo Hội, được hát bằng tiếng La Tinh và Hy Lạp, và đã khởi sự ngay trước lúc 18:00 giờ (17:00 tại Rôma) đánh dấu khởi đầu của nghi thức phụng vụ mừng lễ Thánh Anrê, bổn mạng của Tòa Thượng Phụ (30 tháng 11).

Thượng Phụ Bartholomaios và Đức Thánh Cha mỗi người đã đọc một diễn từ: “Tối nay tâm hồn tôi tràn đầy niềm tri ân Thiên Chúa cho phép tôi có mặt tại đây để cùng cầu nguyện với Thượng Phụ và với Giáo Hội chị em, vào cuối một ngày viếng thăm tông đồ bận rộn.” Đức Thánh Cha đã nói bằng tiếng Ý như vậy.

Ngài tiếp: “Tôi cảm nhận rằng niềm vui của chúng ta còn to lớn hơn vì nguồn vui đến từ xa xôi hơn; không phải bên trong chúng ta, không phải trong việc chúng ta tụ họp hay cố gắng – dù đã có như vậy, và phải như vậy – nhưng là niềm tin có chung vào sự trung tín của Thiên Chúa, Đấng đã đặt nền tảng cho Đền Thánh của Người là Giáo Hội.”

Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh rằng, như Anrê và Phêrô, các tín hữu Chính Thống và Công Giáo là “những anh em trong hy vọng”: “Thưa ngài, thật là một ân sủng lớn lao được là anh em trong niềm hy vọng vào Chúa Kitô Phục Sinh! Ân sủng lớn lao nhưng trách nhiệm cũng to lớn vì được cùng đồng hành trong niềm hy vọng này, được nâng đỡ bởi sự cầu bầu của hai Thánh Tông Đồ anh em Anrê và Phêrô!”

Vào cuối diễn từ, ngài đã chúc mừng các thành viên của Tòa Thường Phụ về ngày lễ Thánh bổn mạng, rồi ngài cúi đầu trước Thượng Phụ và nói: “Tôi xin ngài một đặc ân là ban phép lành cho tôi và cho Giáo Hội Rôma.”Thượng phụ đã hôn lên trán Đức Thánh Cha thay cho phép lành.

Vào cuối buổi lễ, sau kinh Lạy Cha, Đức Thánh Cha và Thượng Phụ đã ban phép lành cho những người tham dự, rồi họp riêng với nhau trong khoảng ba mươi phút.

Ngày mai, Đức Thánh Cha sẽ tham dự một nghi thức phụng vụ ngày Chúa Nhật cho Thánh Lễ mừng kính Thánh Anrê, và sẽ cùng ký một tuyên cáo chung với Thượng Phụ.

(Bùi Hữu Thư, VCN 29.11.2014/ Zenit.org)

Sứ Điệp Từ Trời Ứng Nghiệm: Phần Lan chính thức hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính

" Như Cha đã nói trước đây rằng thế giới đang đảo lộn. Sự dữ, cho dù các con có trang điểm lộng lẫy thế nào đi chăng nữa, vẫn không thể biến thành một việc làm tốt đẹp trong Ánh Mắt của Chúa Cha được. "

PHẦN LAN: CHÍNH THỨC HỢP PHÁP HÓA HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH
Sau nhiều lần bị trì hoãn và những mâu thuẫn quan điểm, dự luật hôn nhân đồng giới cuối cùng cũng đã được Quốc hội Phần Lan thông qua vào ngày 28/11/2014 với tỷ lệ 105 phiếu thuận và 92 phiếu chống. Như vậy, kể từ bâygiờ các đôi yêu nhau tại quốc gia này có thể đăng ký kết hôn một cách hợp pháp.

Cũng trong tháng 10, người dân ủng hộ HNDT đã ăn mừng khi Tòa án Tối cao Mỹ ra phán quyết công nhận hợp pháp tại 5 tiểu bang gồm Indiana, Utah, Oklahoma, Virginia và Wisconsin. Theo New York Times, ngay sau khi Tòa án Tối cao công bố phán quyết, ngay lập tức hàng loạt đám cưới đồng tính được tổ chức tại các bang này.

Hiện các quốc gia hợp pháp HNDT bao gồm Argentina, Bỉ, Brazil, Canada, Đan Mạch, Pháp, Iceland, Luxembourg, Uraguay, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Nam Phi, Thụy Điển, Anh và gần 30 bang Mỹ. (GSN)
http://thongdiep.info/default.aspx?id=I000371M032012

Thà đừng có Nhà Tạm thì hơn và Thánh Lễ bây giờ với đồng Dollar Mĩ

Thà đừng có Nhà Tạm thì hơn

Nhân dịp ĐGH Phanxicô công du đến Thổ Nhĩ Kỳ, chúng ta lại được nhìn quang cảnh tuyệt đẹp bên trong ngôi thánh đường Chúa Thánh Thần ở Istanbul (thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ).

Nhưng càng nhìn kỹ và có cái nhìn sâu hơn thì chắc hẳn ai trong chúng ta cũng thấy có cái gì đó không ổn. BBT nhóm DHTC xin được đưa ra 3 điểm nhé :

Thứ nhất : chiếc ghế ngồi của vị chủ tế cao quá nửa so với Nhà Tạm, và dường như là che khuất cả Nhà Tạm. Thử hỏi nếu có ai đó đặt 1 chiếc ghế quá cao hoặc một vật dụng cồng kềnh trước cửa nhà bạn, bạn sẽ nghĩ sao ? Bạn ra ngoài bằng cách nào ?

Thứ hai : BBT nhóm DHTC xin được mở rộng thêm vấn đề và xin các bạn hãy mở mắt ra. Kể từ sau Công đồng Vatican II thì thánh lễ mới (tức thánh lễ hiện tại mà chúng ta đang tham dự) - với tên gọi là Novus Ordo. Với nghi thức thánh lễ mới này thì sẽ thu hút được nhiều sự chú ý hơn. Nhưng quan trọng là chú ý ai ? Chú ý đến người đọc thánh thơ, người đi lắc thùng tiền, người đọc lời nguyện giáo dân, những ông thầy phó tế, linh mục HAY là chú ý đến Thiên Chúa ? Thật là buồn khi ĐGH Phanxicô mô tả thánh lễ cũ (tức thánh lễ Latin truyền thống) trong một buổi tiếp kiến chung với các giám mục vào ngày 14/02/2014 tại Cộng Hòa Séc như sau : "Khi tôi tìm hiểu thật kỹ về thánh lễ Latin truyền thống này, tôi thấy nó chẳng khá hơn so với mốt thời trang. Mà nếu là mốt thời trang thì phần lớn chúng ta chẳng chú ý nhiều đến nó làm chi. Chỉ có những ai nghiện thời trang thì mới quan tâm sâu sắc đến thánh lễ Latin truyền thống này."

Thứ ba : Tên gọi của nghi thức thánh lễ mới hiện nay là Novus Ordo. Có bao giờ các bạn tự nhìn vào mặt sau của Đồng 1 dollar Mĩ chưa, có thấy dòng chữ Novus Ordo không ? Các bạn có thấy sự trùng hợp không hay là các bạn cho rằng đó là sự tình cờ ? Và các bạn có biết nhóm nào đã sản xuất ra đồng dollar Mĩ không ? Xin thưa, đó là Tam Điểm. Vậy mà các bạn không chịu nhìn nhận ra vấn đề mà cứ bao che cho việc làm sai trái mãi sao ?

BBT nhóm DHTC chỉ có đôi lời muốn nhắn nhủ các bạn vậy thôi.
Xin Thiên Chúa và Đức Trinh Nữ Maria che chở các bạn.

Hình 1 và 2 : Quang cảnh gian cung thánh bên trong thánh đường Chúa Thánh Thần ở Thổ Nhĩ Kỳ.

Hình 3 : Thánh lễ Latin truyền thống.

Hình 4 : Dòng chữ "Novus Ordo" trên tờ dollar Mĩ.

Có phải Đức Phanxicô đang muốn hồi sinh "lạc thuyết" Thần học giải phóng?

Bàn về Thần Học Giải Phóng. 
Chúng ta hãy xem quan điểm của hai giáo hoàng đương nhiệm nhé!
Đối với ĐGH Benedicto XVI:

- "Thần học giải phóng... là một lỗi lầm..., một quan điểm... khác với Công Giáo."
- "Thần học giải phóng sử dụng và chuyển đổi đức tin Kitô giáo thành một loại lực lượng chính trị. Truyền thống của đức tin tôn giáo được dùng để phục vụ hoạt động chính trị. Vì thế, đức tin bị tha hoá một cách sâu sắc và tình yêu đích thực cho người nghèo do đó cũng bị suy yếu đi. Do đó thật là cần thiết phải phản đối một loại đức tin giả mạo như thế...

Còn đối với Đức Phanxicô thì ủng hộ thần học giải phóng.

Anh chị em thân mến!

- Đây là những sự thật mà ít người để ý và biết tới.
- Hãy cảm tạ Chúa vì Ngài đã mặc khải cho chúng ta những sự thật phũ phàng làm chúng ta nhiều lúc cũng thật khó mà chấp nhận. Nhưng nếu chúng ta không biết những sự thật này thì chúng ta sẽ bị lừa dối.

Như vậy chúng ta thấy rằng, nếu một vị giáo hoàng mà theo những thuyết sai lạc như vậy thì chúng ta để ý sẽ thấy rằng: Những gì Chúa và Mẹ nói trong Sách Sự Thật là Sự Thật. Niềm tin của chúng ta vào Sách Sự Thật là có cơ sở vững chắc dựa trên những sự thật đã được Chúa và Mẹ mặc khải cho chúng ta đang ứng nghiệm theo thời gian. Nhằm chuẩn bị chúng ta cho ngày Chúa Sắp Quang Lâm...

Mời anh chị em tiếp tục tìm hiểu về Thần học Giải Phóng qua những bài viết sau đây:

Bài viết này được đăng ở trang mạng: Baoconggiao.com

1. Có phải Đức Giáo Hoàng đang hồi sinh Thần học Giải phóng?

Một khi đã công bố về "vấn đề lạc thuyết", thì sự nối kết giữa chính trị và đức tin có thể được phục hồi

Chủ nghĩa tư bản tự do hóa toàn cầu cuối cùng đã gặp được điều họ mong muốn. Kể từ khi Giám mục Bergoglio chọn Thánh Phanxicô Assisi là nguồn gợi hứng hướng dẫn của mình và lãnh đạo một “Giáo Hội vì người nghèo”, tất cả các hành động của ngài đều quy về cùng một hướng đó.

Thần học giải phóng đang tiếp quản Vatican một phần tư thế kỷ sau khi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II một cách có hệ thống đã tìm cách dập tắt “vấn đề lạc thuyết” trong các giáo xứ và giáo phận cấp tiến của Châu Mỹ La Tinh. Một nhiệm vụ được thực hiện với tinh thần trách nhiệm bởi Đức Hồng y Ratzinger tại Thánh Bộ Giáo lý Đức tin.

Việc “lựa chọn ưu tiên cho người nghèo” đang trở lại. Giáo thuyết đó gây nhiều tranh cãi trong thập niên 1970 và 1980, giáo thuyết này nổi tiếng trung thành với lập trường của Tổ chức Sidinista của Nicaragua, bây giờ đã được chuẩn nhận của Đức Giáo Hoàng. Giáo thuyết này gần như trở thành giáo thuyết chính thức cho 1,2 tỷ người Công giáo Rôma trên thế giới với tiêu đề “Tân Phúc Âm Hóa”, Tông huấn đầu tiên của Đức Giáo Hoàng đương nhiệm. Điều này sẽ có hiệu quả.

Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Khi thu nhập của một thiểu số đang gia tăng theo cấp số nhân, thì nó sẽ là một lỗ hổng phân cách khá lớn giữa thiểu số này với đại đa số người nghèo. Sự mất cân bằng này là kết quả của ý thức hệ nhằm bảo vệ quyền tự chủ tuyệt đối của thị trường và đầu cơ tài chính”.

Sức mạnh bảo thủ của Giáo triều Giáo hoàng đang bị phá vỡ. Đột nhiên Vatican là mũi nhọn về việc tư duy kinh tế triệt để. Nổi bật nhất là Đức Giáo Hoàng vừa mới triệu tập Hội đồng Hồng y, không có gì khác hơn ngoài chuyện Đức Tổng Giám mục Reinhard Marx, “Vị hồng y quấy rối” của Munich và là tác giả cuốn sách Das Kapital (Thủ Đô): Lời kêu gọi vì con người.

Cho đến nay, chưa có gì thống nhất hoặc có tiếng nói ăn khớp về cuộc biểu tình chống lại những gì Đức Giáo hoàng Phanxicô gọi là “tôn thờ tiền bạc”, hoặc “chế độ độc tài mới” trên quy mô toàn thế giới vốn không ngừng áp đặt những quy tắc riêng của nó, và coi như là vô hạn. Phong trào Chiếm hữu đang lan rộng. Tổ chức công đoàn ở phương Tây đang im lặng một cách lạ thường, đẩy ra bên lề vấn đề về cấu trúc nguyên tử thời hiện đại. Nền Cánh tả chính trị của châu Âu bị tổn hại bởi việc bảo vệ ý thức hệ của liên minh tiền tệ – một dự án thuộc phe cánh Hữu, hay “việc kết nối các ngân hàng” như phe Cựu Cánh tả đã nói – không thể tổng hợp bất kỳ chính sách nào rõ ràng.

Vì vậy, nhiệm vụ đặt nặng vào Giáo hội Công giáo, là tổ chức đạo đức và năng động lớn nhất thế giới, được bảo vệ bởi các giám mục Anh giáo và Tin lành. Cuộc chiến kinh tế này đang lan rộng. Nó có thể minh chứng cho sự hồi sinh Kitô giáo, không thể tránh khỏi một số hình thức như chiến binh Hồi giáo đã cảnh giác những người Tây Phương nhìn lại cội nguồn văn hóa riêng của họ.

Bây giờ ngài hối tiếc vì đã không có lấy một lập trường mạnh mẽ chống lại chính quyền quân phiệt, mặc dù đối với các linh mục những lựa chọn về đạo đức là không rõ ràng. Một số linh mục Dòng Tên của ngài gia nhập lực lượng nổi dậy bí mật. Một linh mục dòng Tên Ireland từng là cha xứ – với một khẩu súng trường trên lưng – trong quân đội du kích Guatemala của người nghèo (EGP). Thật vậy, quân đội Guatemala xem các EGP như một bộ trang phục tu sĩ Dòng Tên. Nhưng trong việc bùng phát ngọn lửa nổi dậy này, các linh mục nhiệt thành triệt để này đã biến giáo lý của họ thành các mục tiêu của đàn áp quân sự.

Coi như điều đó có thể xảy ra, Đức Phanxicô bây giờ thực hiện việc đền bù. Giáo sư Harvey Cox từ Đại học Harvard viết về quốc gia này là một trong những cử chỉ đầu tiên của Giáo Hoàng sau khi ngài công bố mời Gustavo Gutiérrez ở Pere đến Rôma. Điều này là rất quan trọng. Ông là một linh mục người đã viết bản gốc “Magna Carta” cho Thần học Giải phóng vào năm 1968, là biểu tượng của phong trào này. Họ đã cử hành thánh Lễ với nhau, cùng ăn sáng. Sau đó Đức Giáo Hoàng nhắc lại việc phong chân phước giám mục Oscar Romer bị đình trệ, vị tổng Giám mục của San Salvador bị ám sát bởi quân đội vào năm 1980 trong khi cử hành Thánh Lễ.

(UCAN 12.01.2013/ The Telegraph)
> http://baoconggiao.com/vi/news/Giao-Hoi-Hoan-Vu/Co-phai-Duc-Giao-Hoang-dang-hoi-sinh-Than-hoc-Giai-phong-2778/


Bài thứ hai này bàn về Sự sai lầm của Thần học giải phóng. Trích Conggiao.info

2. Cái sai lầm nguy hiểm của nền thần học giải phóng

Đức Cha Athanasius Schneider hiện nay là Giám Mục Phụ Tá giáo phận Karaganda thuộc cộng hòa Kazakistan ở miền Trung Á. Ngài từng đi truyền giáo bên Brasil và thụ phong Linh Mục tại đây vào năm 1990. Xin nhường lời cho Đức Cha vạch rõ cái sai lầm nguy hiểm của nền thần học giải phóng.

Tại Trung Á, trong thời đảng cộng sản vô thần nắm quyền, Giáo Hội Công Giáo bị bách hại tàn khốc nhưng rất may là chúng tôi không bị lung lạc bởi nền thần học giải phóng. Trái lại, tại Brasil, khi tôi đặt chân đến đây truyền giáo vào năm 1984 thì đất nước này đang chịu ảnh hưởng nặng nề của nền thần học giải phóng. Cá nhân tôi, tôi từng chứng kiến cái tàn phá ghê gớm do nền thần học giải phóng mang lại cho một giáo phận, mặc dù lúc ấy tại nhiều nơi khác ở Brasil còn bị phá hoại khủng khiếp hơn.

Thần học giải phóng làm hại Giáo Hội Công Giáo ở chỗ nó làm trệch đường giáo huấn Tin Mừng của Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Ngài đến trong thế gian trước tiên là để ban cho chúng ta Chân Lý Vĩnh Cửu và Sự Sống đời đời chính là Sự Sống của THIÊN CHÚA và là sự sống của ân sủng. Đức Chúa GIÊSU sửa dạy dân chúng khi thấy họ muốn tôn phong Ngài làm VUA chỉ vì Ngài đã cho họ ăn bánh no nê. Ngài nói:
- Anh chị em muốn tôn phong Tôi làm vua vì Tôi cho anh chị em ăn bánh. Nhưng Tôi, Tôi không đến chỉ để ban bánh cho anh chị em ăn!

Khi một người tin nơi THIÊN CHÚA và yêu mến Ngài thì tức khắc cũng đầy tràn lòng yêu thương giúp đỡ người nghèo. Đó là chuyện đương nhiên. Nhưng nhiệm vụ trước tiên và hàng đầu của Giáo Hội Công Giáo và của các tông đồ là mang Chân Lý vĩnh cửu của Đức Chúa GIÊSU KITÔ đến cho con người để soi sáng con người bằng chính Chân Lý Thần Linh. Mọi người đều khao khát tìm kiếm Sự Thật. Kinh Thánh nói:
- Con người không chỉ sống bằng bánh mà còn bằng mỗi lời từ Miệng THIÊN CHÚA phán ra.

Khi Đức Chúa GIÊSU bị tên quỷ cám dỗ biến đá thành bánh để ăn thì Ngài đã đẩy lui tên quỷ bằng lời Kinh Thánh vừa trích. Đó cũng là chước cám dỗ mà vài Mục Tử bị rơi vào khi quên bẵng lời Đức Chúa GIÊSU trả lời tên quỷ:
- Con người không chỉ sống bằng bánh mà còn bằng mỗi lời từ Miệng THIÊN CHÚA phán ra.

Tôi muốn nhấn mạnh điểm này. Giống như nơi chương 6 trong Sách Công Vụ Tông Đồ kể lại. Khi các Tông Đồ thấy việc chăm sóc các nhu cầu thể xác trở thành vấn đề thì các ngài triệu tập toàn thể các môn đệ và nói:
- Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời THIÊN CHÚA để lo việc ăn uống là điều không phải. Vậy anh em hãy tìm trong cộng đoàn 7 người được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan, rồi chúng tôi sẽ cắt đặt họ làm việc đó. Còn chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời THIÊN CHÚA.

Đúng như thế. Rao giảng Lời THIÊN CHÚA và chuyên chăm cầu nguyện là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi Linh Mục và Giám Mục. Chúng ta có trước mắt mẫu gương của chính Đức Chúa GIÊSU KITÔ và của các Thánh Tông Đồ.

Giáo Hội không phủ nhận tầm quan trọng của việc giúp đỡ chăm sóc người nghèo, nhưng nền thần học giải phóng sai lầm ở chỗ nó biến các Linh Mục và Giám Mục thành các trợ tá xã hội khi các ngài chỉ nghĩ đến chuyện chăm sóc đời sống vật chất và những chuyện chóng qua phụ thuộc nơi trần gian này mà quên mất việc phải chu toàn những gì liên quan đến Đời Sống vĩnh cửu và những sự việc thuộc về THIÊN CHÚA.

Một điểm sai lầm nguy hiểm khác của nền thần học giải phóng là chính trị hóa giáo huấn của Tin Mừng liên quan đến từ Tự Do. Đó cũng là điều chính Đức Chúa GIÊSU KITÔ thẳng thắn xua trừ. Đức Chúa GIÊSU mang đến cho chúng ta Tự Do đích thật khi giải phóng chúng ta khỏi nô lệ sự dữ lớn lao là tội lỗi và ma quỷ. Đó cũng là điều các Tông Đồ luôn luôn rao giảng.

Giải phóng khỏi nô lệ tội lỗi và ma quỷ. Đây mới là nền Thần Học Giải Phóng đích thật. Giải phóng khỏi tội lỗi tức là giải phóng khỏi ích kỷ. Và một khi được giải phóng khỏi ích kỷ thì tự nhiên chúng ta nghĩ đến người khác, yêu thương chăm sóc người khác hơn chính mình.

Một hôm một ký giả hỏi Đức Thánh Cha:
- Thưa Đức Thánh Cha, câu nào trong Kinh Thánh đánh động lòng Đức Thánh Cha nhất?

Ngài đáp:
- Xin trả lời với chính câu nói của Đức Chúa GIÊSU: ”Sự Thật sẽ giải phóng các con - Veritas liberavit vos”. Sự Thật mang chúng ta đến Sự Giải Phóng.

Nhưng Sự Thật nào? Thưa không phải là một lý thuyết, một lý thuyết xã hội, càng không phải là lý thuyết nhân bản hoặc lý thuyết thần học đẹp đẽ vẽ vời nào đó! Không! Sự Thật là chính Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Chính Ngài phán:
- Thầy là Đường là Sự Thật và là Sự Sống.

Chính Đức Chúa GIÊSU KITÔ và Lời Ngài mới là Sự Thật.

... Vậy, Đức Chúa GIÊSU nói với những người Do Thái đã tin Người: ”Nếu các ông ở lại trong lời của Tôi, thì các ông thật là môn đệ Tôi; các ông sẽ biết Sự Thật, và Sự Thật sẽ giải phóng các ông”. Họ đáp: ”Chúng tôi là dòng dõi ông Abraham. Chúng tôi không hề làm nô lệ cho ai bao giờ. Làm sao Ông lại nói: ”Các ông sẽ được tự do?” Đức Chúa GIÊSU trả lời: ”Thật, Tôi bảo thật các ông: hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội. Mà kẻ nô lệ thì không được ở trong nhà luôn mãi, người con mới được ở luôn mãi. Vậy, nếu Người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do” (Gioan 8,31-36).

(”Il Settimanale di Padre Pio”, 7 giorni di formazione e di informazione cattolica, Anno IX, 14 Febbraio 2010, n.6, trang 16-17).

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
> http://conggiao.info/news/2104/12205/cai-sai-lam-nguy-hiem-cua-nen-than-hoc-giai-phong.aspx


Tiếp tục bài thứ 3 bàn về thần học giải phóng. Trích Danchua.eu

Đức Benedict nhắc lại quyết định của vị thánh tương lai( GP II) khi phải đối đầu với sự lây lan của nền thần học giải phóng ở châu Mỹ Latinh.
" Ở cả hai bên Châu Âu và Bắc Mỹ, quan điểm chung là nền thần học giải phóng có mục đích hỗ trợ người nghèo và do đó nó là một nguyên lý cần phải được hoàn toàn chấp nhận. Nhưng đó là một lỗi lầm. Cái nghèo và người nghèo tuy rõ ràng đã được Thần học Giải phóng đề cập tới, nhưng là qua một quan điểm rất cụ thể (khác với Công Giáo). " Đức Thánh Cha Benedict XVI giải thích.

Thần học giải phóng sử dụng và chuyển đổi đức tin Kitô giáo "thành một loại lực lượng chính trị. Truyền thống của đức tin tôn giáo được dùng để phục vụ hoạt động chính trị. Vì thế, đức tin bị tha hoá một cách sâu sắc và tình yêu đích thực cho người nghèo do đó cũng bị suy yếu đi. Do đó thật là cần thiết phải phản đối một loại đức tin giả mạo như thế, (sự phản đối như vậy) chính là vì tình yêu và sự phục vụ cho người nghèo." Ngài tiếp tục.""


Đức Bênêđictô XVI tuyên bố : Ngay lúc sinh thời, tôi đã biết chắc rằng Đức Gioan Phaolô II là một vị thánh.

Rome, Ý, ngày 23 tháng tư 2014 (CNA) -. Trong một cuộc phỏng vấn hiếm hoi, Đức Thánh Cha Benedict XVI nhắc lại tình bạn thân thiết của mình với Chân Phước Gioan Phaolô II, và nói rằng cuộc sống của Ngài nói lên sự thánh thiện và một nền tâm linh sâu đậm.

" Trong những năm mà tôi được cộng tác với Ngài, đối với tôi thì thật là rõ ràng hơn bao giờ hết rằng Đức Gioan Phaolô II là một vị thánh, " Đức Thánh Cha Benedict XVI nói với nhà báo Ba Lan Wlodzimierz Redzioch trong một cuộc phỏng vấn, được công bố ngày 20 tháng 4 trên tờ báo " La Razon " ở Tây Ban Nha

"Dĩ nhiên, mối quan hệ nồng nhiệt cuả Ngài với Thiên Chúa, sự đắm chìm trong sự hiệp thông với Thiên Chúa, phải được kể là việc cao trọng hơn hết, " vị cựu Giáo Hoàng nói.

Đức Thánh Cha Benedict XVI, từng phục vụ là tổng trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin dưới triều Giáo hoàng Gioan Phaolô II, cho biết vị Giáo hoàng người Ba Lan đã can đảm " chấp nhận nhiệm vụ của mình trong một thời buổi thực sự khó khăn. "

"Đức Gioan Phaolô II đã không đòi hỏi người ta tán thưởng và cũng không lo lắng nhìn xung quanh để xem quyết định của Ngài được chấp nhận ra sao. Ngài hành động dựa trên đức tin và niềm xác tín của Ngài, và Ngài cũng sẵn sàng để bị phê bình, " Đức Thánh Cha Benedict kể lại. " Sự dũng cảm cho sự thật, theo quan điểm của tôi, là thước đo chính của sự thánh thiện. Chỉ cần nhìn vào mối quan hệ của Ngài đối với Thiên Chúa là có thể hiểu được sự quyết tâm không bao giờ sờn cho việc mục vụ của Ngài. "

Trong ý nghĩa ấy, Đức Benedict nhắc lại quyết định của vị thánh tương lai khi phải đối đầu với sự lây lan của nền thần học giải phóng ở châu Mỹ Latinh.

" Ở cả hai bên Châu Âu và Bắc Mỹ, quan điểm chung là nền thần học giải phóng có mục đích hỗ trợ người nghèo và do đó nó là một nguyên lý cần phải được hoàn toàn chấp nhận. Nhưng đó là một lỗi lầm. Cái nghèo và người nghèo tuy rõ ràng đã được Thần học Giải phóng đề cập tới, nhưng là qua một quan điểm rất cụ thể (khác với Công Giáo), " Đức Thánh Cha Benedict XVI giải thích.

Thần học giải phóng sử dụng và chuyển đổi đức tin Kitô giáo " thành một loại lực lượng chính trị. Truyền thống của đức tin tôn giáo được dùng để phục vụ hoạt động chính trị. Vì thế, đức tin bị tha hoá một cách sâu sắc và tình yêu đích thực cho người nghèo do đó cũng bị suy yếu đi. Do đó thật là cần thiết phải phản đối một loại đức tin giả mạo như thế, (sự phản đối như vậy) chính là vì tình yêu và sự phục vụ cho người nghèo, " Ngài tiếp tục.

Tình hình ở Ba Lan là nơi sinh quán cuả Đức Gioan Phaolô II - " đã cho Ngài (Đức Gioan Phaolo) thấy rằng Giáo Hội thực sự nên có hành động cho tự do và sự giải phóng, không phải bằng chính trị nhưng bằng cách làm thức tỉnh con người, thông qua đức tin, để tạo thành những lực lượng giải phóng đích thực, " Đức Thánh Cha Benedict XVI nói.

Trong cuộc phỏng vấn, Đức Benedict nhấn mạnh rằng cái danh dự được cộng tác với Đức Gioan Phaolô II "đã luôn luôn đánh dấu bằng tình bạn và sự thân ái, " trên cả hai lãnh vực công cũng như tư. " Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II rất rành rõi về văn học đương đại của nước Đức và thật là một điều tốt đẹp ( cho cả hai chúng tôi ) đã có một sự tâm đầu ý hiệp về những điều này, " Ngài nói.

Đức Thánh Cha Benedict XVI nhắc lại rằng mỗi thứ Ba, cả hai sẽ thảo luận về giáo lý cho buổi triều kiến chung hôm thứ Tư. " Thông qua việc giảng dạy, Đức Giáo Hoàng đã quyết định sẽ có thể cung cấp một nền giáo lý sau một thời gian. Ngài chọn chủ đề và cho chúng tôi chuẩn bị một bản yếu lược ngắn gọn để có thể phát triển thêm sau này (.. . ). Ở đây Đức Giáo Hoàng đã tỏ ra cách rõ ràng là Ngài có một trình độ và thẩm quyền thần học. Nhưng đồng thời tôi ngưỡng mộ Ngài về việc Ngài sẵn sàng học hỏi thêm. "

Đức Thánh Cha Benedict cũng nhắc tới ba thông điệp đặc biệt quan trọng " cuả Đức Gioan Phaolô II. Đầu tiên là " Redemptor hominis ", trong đó Ngài trình bày một tổng quan cuả Ngài về đức tin Kitô giáo. Thứ hai là " Redemptoris mission", trong đó Ngài đã phác hoạ " các mối quan hệ giữa đối thoại liên tôn và nhiệm vụ truyền giáo. " Thứ ba là " Veritatis splendor, " trong đó Ngài đề cập đến nhiều vấn đề đạo đức mà cho tới ngày hôm nay vẫn tiếp tục còn có ý nghiã.

" Các thông điệp " Fides et ratio" cũng rất đáng kể, trong đó Đức Giáo Hoàng (Gioan Phaolô II ) cố gắng đưa ra một tầm nhìn mới về mối quan hệ giữa đức tin Kitô giáo và lý lẽ triết học. Và cuối cùng, không thể không đề cập đến ' Evangelium vitae, " đã phát triển thành những chủ đề cơ bản nhất của toàn bộ triều đại giáo hoàng của Đức Gioan Phaolô II: phẩm giá (không thể hiểu thấu được) của sự sống con người, kể từ lúc thụ thai, " Đức Thánh Cha Benedict XVI nói thêm.

Đức Thánh Cha Benedict cũng cho biết tâm linh của vị tiền nhiệm có một đặc trưng " là cường độ của sự cầu nguyện, bắt nguồn sâu sắc trong việc cử hành Bí Tích Thánh Thể. "

" Tất cả chúng ta đều nhận thức rằng Ngài có một tình yêu tuyệt vời dành cho Mẹ Thiên Chúa. 'Tất cả là cuả Mẹ' có nghĩa là, cùng với Mẹ, hoàn toàn mọi sự là cho Chúa. Cũng như Đức Maria đã không sống cho chính mình nhưng cho Chuá, vì vậy Ngài cũng đã học từ Mẹ và cùng Mẹ Ngài đạt tới sự hiến thân toàn vẹn và nhanh chóng với Chúa Kitô. "

" Những kỷ niệm của tôi với Đức Gioan Phaolô II là đầy ắp với lòng biết ơn. Tôi không thể và cũng không nên cố gắng bắt chước Ngài, nhưng tôi đã cố gắng hết mình để tiếp tục di sản và công việc của Ngài, " Đức Thánh Cha Benedict XVI nói.
http://danchua.eu/373.0.html?
Tu Sĩ Hèn Mọn